thực trạng và giải pháp nhằm phát triển công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh thái nguyên - Pdf 22


Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là nội dung có tầm quan trọng đặc biệt
trong sự nghiệp đổi mới của đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Chiến lƣớc
phát triển đất nƣớc của Đảng cũng nhƣ các cam kết của Chính phủ trên lộ trình hội
nhập kinh tế thế giới, giải quyết tốt các nội dung đặt ra đối với nông nghiệp, nông
dân, nông thôn thực sự là chìa khoá để đạt tới sự phát triển toàn diện, bền vững.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nƣớc ta đã đạt
đƣợc những thành tựu toàn diện và to lớn. Tuy nhiên, những kết quả đạt đƣợc đó
vẫn chƣa xứng với tiền năng, lợi thế và chƣa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn ở nƣớc ta vẫn còn chứa đựng nhiều mảng yếu kém. Một trong
những mảng yếu kém đó là nguồn nhân lực chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển.
Nguồn lao động Việt Nam hàng năm đƣợc bổ sung thêm nhiều nhƣng, cơ hội để họ
có đƣợc việc làm, ổn định đời sống lại không dễ dàng. Số lao động không chỉ đƣợc
qua đào tạo chiếm một tỷ lệ rất thấp mà còn bất cập do chất lƣợng đào tạo kém: cơ
cấu đào tạo bất hợp lý, mất cân đối giữa đào tạo nghề và đào tạo ở cấp bậc đại học,
cao đẳng. Số đã qua đào tạo đối với thanh niên ở khu vực nông thôn thấp hơn nhiều
so với khu vực thành thị.
Hiện nay, ở nƣớc ta có khoảng 10 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu lao động
trong độ tuổi. Nhƣng mới chỉ có khoảng 17% trong số đó đƣợc qua đào tạo chủ yếu
thông qua các lớp tập huấn khuyến nông sơ sài. Trong số đó có khoảng 16,5 triệu
thanh niên nông thôn đang cần có việc làm ổn định thì chỉ có 12% tốt nghiệp phổ
thông trung học, 3,11% có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở lên. Với
trình độ nhƣ vậy họ khó có thể áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp
có ứng dụng công nghệ cao và cũng khó có thể tìm đƣợc việc làm ở các doanh
nghiệp. Ngay cả khi doanh nghiệp có ƣu tiên tuyển lao động trẻ cho các hộ mất đất
thì họ cũng khó có thể đảm nhận đƣợc công việc chuyển đổi nghề. Tình trạng nguồn

thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp nhằm
phát triển công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài
luận văn Thạc sỹ của mình. Để thấy rõ đƣợc thực trạng trong công tác dạy nghề cho lao
động nông thôn hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và đề suất một số giải pháp
chủ yếu trong công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát
triển công tác dạy nghề cho lao động nông thôn nhằm đáp ứng với xu hƣớng CNH-
HĐH đất nƣớc.
2.2. Mục tiêu cụ thể
* Hệ thống hoá một số cơ sở lý luận và thực tế về dạy nghề và lao động nông thôn.
* Đánh giá thực trạng công tác dạy nghề và nhu cầu học nghề của lao động
nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
* Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển công tác dạy nghề cho lao động
nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội, chủ trƣơng của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc
liên quan đến công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian:
Đề tài đƣợc thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
* Về thời gian:

1.1.1.1. Khái niệm về đào tạo và dạy nghề
Giáo dục đào tạo và dạy nghề là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp
phát triển tiềm năng con ngƣời theo nhiều nghĩa khác nhau. Kết quả giáo dục và đào
tạo làm tăng lực lƣợng lao động có trình độ, tạo khả năng thúc đẩy nhanh quá trình
đổi mới công nghệ. Công nghệ thay đổi càng nhanh càng thúc đẩy tăng trƣởng kinh
tế và hơn thế nữa vai trò của giáo dục và đào tạo còn đƣợc đánh giá tác động của nó
đối với việc tăng năng suất lao động mỗi cá nhân do đƣợc nâng cao trình độ và tích
lũy kiến thức.
Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về dạy nghề cho ngƣời lao động, chúng
tôi nhận thấy cần tập trung đề cập một số khái niệm và vấn đề cơ bản sau:
Mục tiêu dạy nghề:
Luật giáo dục ban hành năm 1999 ghi rõ: mục tiêu của dạy nghề là đào tạo
nguồn lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, công nhân kỹ
thuật, nhân viên nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực hiện, tạo ra năng lực để thực
hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết.
“Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ
năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tƣơng lai” [1]
Nhƣ vậy đào tạo nghề cho ngƣời lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho
ngƣời lao động để họ có thể nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn, bao gồm đào tạo
mới, đào tạo lại, bồi dƣỡng nâng cao tay nghề.
Nhƣ vậy có thể hiểu “ đào tạo nguồn nhân lực là một quá trình trang bị kiến
thức về chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để sau khi đƣợc đào tạo họ có

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
thể đảm nhận đƣợc một công việc nhất định, đáp ứng với yêu cầu phát triển của tổ
chức nói riêng và của xã hội nói chung”[4]

- Tổ chức quản lý: Các cơ sở dạy nghề chịu sự quản lý.chỉ đạo trực tiếp của cơ
quan cấp trên về tổ chức bộ máy hoạt động, chất lƣợng đào tạo …., và chịu sự quản
lý Nhà nƣớc về đào tạo nghề; chế độ chính sách đối với giáo viên, học sinh, chƣơng
trình đào tạo, văn bằng chứng chỉ….
- Đội ngũ giáo viên: giáo viên giảng dạy ở các cơ sở dạy nghề là ngƣời trực
tiếp hƣớng dẫn, giảng dạy lý thuyết và thực hành cho học sinh. Chất lƣợng giáo
viên đòi hỏi phải đạt chuẩn theo quy định của pháp luật. Đội ngũ giáo viên là nhân
tố quyết định chất lƣợng của đào tạo nghề. Việc thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ
giáo viên kết hợp với không ngừng nâng cao trình độ giáo viên cả về chuyên môn,
ngoại ngữ …. để những kiến thức chuyên môn của thầy chuyền tải cho học sinh phù
hợp với yêu cầu thực tế, học sinh ra trƣờng có thể thực hiện ngay đƣợc công việc
theo ngành nghề đào tạo.
- Nội dung chƣơng trình và hình thức dạy nghề: Nội dụng dạy nghề phải tập
trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, đảm bảo tính thiết thực và hiện đại, phù
hợp với kỹ thuật và công nghệ. Bên cạnh đó, nội dung và phƣơng pháp dạy nghề
phải phát huy tính tích cực, tự chủ và tƣ duy sáng tạo của học sinh, kết hợp dạy kiến
thức chuyên môn kỹ thuật với rèn luyện kỹ năng thực hành, đảm bảo sau khi tốt
nghiệp có khả năng hành nghề. Các nội dung chƣơng trình dạy nghề phải đƣợc đổi
mới theo hƣớng sát với thực tế sản xuất, vừa tiếp cận với trình độ tiên tiến về kỹ
thuật công nghệ đồng thời có tính liên thông giữa các trình độ đào tạo nghề.
Hình thức dạy nghề là phƣơng thức đƣợc sử dụng trong công tác dạy nghề.
Các hình thức dạy nghề đƣợc thể hiện theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Nếu phân theo thời gian: có hình thức dạy nghề dài hạn, hình thức dạy nghề
ngắn hạn.
- Nếu phân theo hình thức đào tạo: có hình thức đào tạo tập trung, hình thức
đào tạo không tập trung.
- Nếu phân theo nguồn kinh phí: có hình thức dạy nghề trợ cấp toàn bộ, hình
thức dạy nghề trợ cấp một phần, hình thức phải đóng góp 100% kinh phí.

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Nông thôn có một số đặc trƣng:
- Nông thôn phải gắn chặt với một nghề lao động xã hội truyền thống, đặc
trƣng và nổi bật là hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Nông thôn bao gồm những tụ điểm quần cƣ (làng, bản, buôn, ấp ….) thƣờng
có quy mô nhỏ về mặt số lƣợng.
- So với đô thị thì nông thôn là vùng có kết cấu hạ tầng chậm phát triển hơn,
mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị
trƣờng thấp hơn.
- Nông thôn có thu nhập thấp và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, khoa học
công nghệ thấp hơn đô thị.
- Nông thôn có mật độ dân cƣ thấp nhƣng giầu tiền năng về tài nguyên thiên
nhiên nhƣ đất đai, nguồn nƣớc, khí hậu, rừng, biển ….
- Xã hội nông thôn rất đa dạng về điều kiện kinh tế xã hội, đa dạng về trình độ
tổ chức quản lý, đa dạng về quy mô và mức độ phát triển.
1.1.1.4. Khái niệm cơ bản về lao động
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ lao động – Thƣơng binh xã
hội, “Nguồn nhân lực càc tiềm năng về lao động trong một thời kỳ nhất định của
một quốc gia, suy rộng ra có thể đƣợc xác định trên một địa phƣơng một ngành hay
một vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế – xã hôi” [8]
Khi nói đến nguồn nhân lực chính là nói đến sức mạnh trí tuệ, tay nghề, đặc
biệt là trong cơ chế thị trƣờng vấn đề đặt ra là phải đào tạo đƣợc nguồn nhân lực
theo kịp đón đầu, vừa là đại trà vừa là mũi nhọn đỉnh cao đáp ứng đƣợc nền sản
xuất hàng hoá nhiều thành phần, đủ sức kịp thời thích ứng thị trƣờng lao động, thị
trƣờng chất xám, nhất là sức lao động có hàm lƣợng trí tuệ cao. Không những thế
muốn nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc sự nghiệp CNH-HĐH chúng ta phải đào tạo
nên những “con ngƣời phát triển cao về trí tuệ, cƣờng tráng về thể chất, phong phú

lao động cho năng suất cao. Qua trình đó thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển,
đồng thời tạo ra nhiều của cải vật chất trong xã hội làm cho nền kinh tế phát triển.
* Nguồn lao động là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện phát triển kinh tế
– xã hội.

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Trong quá trình sản xuất, con ngƣời luôn luôn cố gắng tòi sáng tạo để vƣơn tới
những cái tốt đẹp nhất, hoàn thiện nhất bằng chính khả năng lao động của mình, với
nhu cầu về mặt vật chất ngày càng cao, đa dạng về mẫu mã số lƣợng, chủng loại,
đòi hỏi con ngƣời phải tƣ duy sáng tạo, nâng cao tay nghề kỹ xảo để tạo ra những
sản phẩm phù hợp, thoả mãn nhu cầu con ngƣời và xã hội, quá trình lao động của
con ngƣời chính là quá trình hoàn thiện hơn nữa bản thân mỗi con ngƣời và cũng
chính là sự hoàn thiện của xã hội.
* Nguồn lao động là lực lƣợng to lớn để phát triển kinh tế – xã hội.
Trong quá trình sản xuất con ngƣời luôn luôn hoạt động theo nhu cầu của
mình, của xã hội. Suy cho cùng tất cả đều xuất phát từ lợi ích, để đảm bảo và duy trì
lợi ích của mình. Dù làm việc ở môi trƣờng nào, dƣới hình thức nào cũng đều nhằm
đạt đƣợc lợi ích. Lợi ích càng cao càng tạo nên sức hấp dẫn để con ngƣời hoạt động
có hiệu quả hơn. Nhƣ vậy, lợi ích trở thành động cơ của hành động, thoả mãn lợi
ích chính đáng của con ngƣời là động lực kinh tế trực tiếp thúc đẩy phát triển nền
kinh tế.
* Nguồn lao động là mục đích của sự phát triển
Nhu cầu của con ngƣời luôn luôn thay đổi và con ngƣời không bao giờ thoả
mãn với nhu cầu của mình. Đáp ứng đƣợc nhu cầu của con ngƣời là mục tiêu mà
mọi chế độ xã hội hƣớng tới.
1.1.1.6.Vai trò của dạy nghề đối với vấn đề phát triển nguồn lao động
Vai trò của dạy nghề đƣợc thể hiện những mặt nhƣ sau:
Một là: Dạy nghề nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và tăng cƣờng năng lực

Bốn là: dạy nghề đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động. Khi lao động đƣợc đào
tạo và giáo dục định hƣớng một cách cơ bản và nghiêm túc, thì khi ra nƣớc ngoài
lao động có tính tổ chức kỷ luật cao, thu nhập khá và ổn định hơn. Vì vậy, phát triển
dạy nghề gắn với nhu cầu của thị trƣờng lao động, hoà nhập thị trƣờng lao động
quốc tế là góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động khu vực
nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo.
Năm là: dạy nghề góp phần thay đổi nhận thức, tƣ duy về vấn đề nghề nghiệp,
lao động và việc làm cho một bộ phận lớn thanh niên và xã hội. Khi thực hiện tốt xã
hội hoá đào tạo nghề sẽ tạo ra một phong trào đào tạo nghề sâu rộng, lôi kéo toàn bộ
xã hội vào quá trình học tập, nâng cao trình độ, đào tạo gắn với việc làm. Từ đó

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
thay đổi nhận thức, tƣ duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động và việc làm cho một bộ
phận lớn thanh niên và xã hội còn có tâm lý nhất thiết vào Đại học để bằng bạn
bằng bè mà chƣa ý thức đƣợc đào tạo nghề là điều kiện để cải thiện cuộc sồng của
chính họ và nâng cao giá trị của nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng.
1.1.1.7. Đặc điểm của lao động nông thôn
Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm trên 70% lao động nông thôn, do đó
đặc điểm lao đông nông thôn cũng tƣơng đồng với đặc điểm của lao động trong sản
xuất nông nghiệp.
- Đặc điểm thứ nhất của lao động nông thôn mang tính thời vụ cao và không
thể xoá bỏ đƣợc. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ
bởi các quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (đất, khí hậu, …). Do
đó, qúa trình sản xuất mang tính thời vụ rất cao, thu hút lao động không đồng đều.
Chính tính chất này đã làm cho việc sử dụng nguồn lao động nông thôn trở nên
phức tạp.
- Đặc điểm thứ hai là nguồn lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và
có tính thích ứng lớn. Do đó việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lao đông có ý nghĩa

Loại cơ sở dạy nghề thứ ba có 8 trƣờng do phòng thƣơng mại và công nghiệp
quản lý, các nghề đào tạo thuộc ngành công nghiệp nhẹ, dịch vụ.
Hệ thống dạy nghề công lập chủ yếu đào tạo cho khu vực doanh nghiệp vừa và
nhỏ và khu vực nông thôn.
Hệ thống dạy nghề tƣ nhân bao gồm:
- Đào tạo công nhân kỹ thuật tại công ty có 219 cơ sở. Nhà nƣớc có luật buộc
các công ty có trên 1.000 lao động phải tự đào tạo công nhân cho mình, nếu không
có cơ sở đào tạo nghề phải đóng phí đào tạo vào hệ thống bảo hiểm việc làm.
- Đào tạo nghề hợp pháp có 133 cơ sở dạy nghề là loại đào tạo nghề đƣợc tổ
chức bởi các hiệp hội hay tƣ nhân. Các cơ sở dạy nghề này đƣợc Bộ lao động cấp
phép theo luật định [1]
* Thái Lan:

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Công tác dạy nghề đƣợc Thái Lan rất coi trọng. Thái Lan có Uỷ ban quốc gia về
dạy nghề do một ngƣời của Bộ Lao động làm chủ tich, cục phát triển kỹ năng nghề
thuộc Bộ Lao động và xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về dạy nghề.
Hệ thống dạy nghề của Thái Lan gồm hệ thống đào tạo công lập (đƣợc thực
hiện bởi viện công nghệ Hoàng Gia, Cục giáo dục dạy nghề và viện công nghệ
Razmene). Các cơ sở dạy nghề tƣ nhân bao gồm: Trƣờng, trung tâm dạy nghề và cơ
sở đào tạo nghề của doanh nghiệp [1]
Dạy nghề ngắn hạn đƣợc thực hiện tại các trung tâm dạy nghề và cơ sở dạy
nghề tại doanh nghiệp và tƣ nhân.
Dạy nghề dài hạn đào tạo kỹ sƣ thực hành và giáo viên dạy nghề từ 3- 4 năm
và đƣợc tiến hành tại các cơ sở dạy nghề công lập là chủ yếu.
* Philippin:
Philipin là một nƣớc có hệ thống đào tạo nghề phát triển mạnh, năm 1994,
Tổng cục phát triển kỹ năng và dạy nghề đƣợc thành lập (viết tắt là TESDA) trên cơ

Qua nghiên cứu kinh nghiệm các nƣớc trên thế giới cho thấy, các nƣớc đã rất
chú trọng đến công tác đào tạo nghề, đào tạo công nhân kỹ thuật, công nhân lành
nghề. Các hình thức, cơ sở dạy nghề đa dạng, linh hoạt cho mọi đối tƣợng trên khắp
các địa bàn, lôi kéo đƣợc nhiều tổ chức, doanh nghiệp vào đào tạo nghề. Có đầu tƣ
ngân sách một cách đúng mức cho công tác đào tạo nghề. Điều này đã góp phần rất
lớn làm tăng trƣởng nền kinh tế của đất nƣớc. Đó là bài học kinh nghiệm quý báu
đối với Việt Nam.
1.1.2.2. Lịch sử về công tác dạy nghề cho lao động nông thôn ở nước ta
Dạy nghề Việt nam có lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với sự xuất hiện, tồn
tại của nền văn minh lúa nƣớc, của các làng nghề truyền thống và quá trình CNH ,
HĐH đấ t nƣớ c.
* Thời Phong kiến: công tác dạy nghề đã bắt đầu phát triển dƣới dạng các làng nghề
truyền thống, truyền từ đời này qua đời khác. Triều đình Phong kiến cũng đã quan tâm đến
dạy nghề cho ngƣời dân, điển hình nhƣ Nguyên phi Ỷ Lan, Bà đã triển khai và nhân rộng
công việc trồng dâu nuôi tằm cho nông dân.
* Thời Pháp thuộc, Thời kỳ chống Mỹ: Thời kỳ này, đất nƣớc ta đang bị
chiếm đóng, thực dân Pháp mở các chiến dịch bóc lột sức lao động vơ vét của cải

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
đem về chính quốc, nền kinh tế không phát triển, công tác dạy nghề không những
không đƣợc chú trọng và phát triển mà còn bị mai một.
* Thời kỳ sau chiến tranh, giải phóng đất nƣớc: Đất nƣớc ta bắt tay vào xây
dựng chủ nghĩ xã hội. Tập trung phát triển công nghệp nặng. Để đáp ứng nguồn lao
động cho các nhà máy, Nhà nƣớc đã nhờ các nƣớc bạn là Trung Quốc, Nga,
Bungary…. Đào tạo giúp. Chính vì vậy mà một số lƣợng lớn lao động đã đƣợc đào
tạo tại các nƣớc này. Bên cạnh đó các làng nghề cũng đƣợc phục hồi dần dần và
phát triển.
1.1.2.3. Thực trạng nông thôn Việt Nam từ sau đổi mới

- Thiếu các cơ sở, phƣơng tiện và điều kiện vui chơi giải trí, tiêu khiển.
- Hàng tiêu dùng khan hiếm, giá cả đắt đỏ.
1.1.2.4 Đặc điểm của lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, lao động nông thôn chiếm
74,38%, đặc điểm lao động nông thôn gắn với đặc điểm về kinh tế - xã hội, điều
kiện tự nhiên của tỉnh.
- Tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn
mùa rõ rệt, nên nền nền nông bị chi phối bởi thời tiết. Sản xuất nông nghiệp mang
tính thời vụ cao. Điều kiện tự nhiên rất thích hợp phát triển cây chè.
- Tỉnh Thái Nguyên bao gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống (khoảng 30 dân
tộc), nên sản xuất nông nghiệp cũng mang những nét phong tục tập quán của từng
dân tộc.
- Nhìn chung sản xuất nông nghiệp tại Thái Nguyên còn manh mún, ít chuyên
sâu, trình độ thấp, phần lớn vẫn là lao động phổ thông.
1.1.2.5. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dạy nghề
cho lao động nông thôn
Phát triển và Đổi mới toàn diện dạy nghề là chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà
nƣớc ta, đƣợc thể thiện trong các Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng và trong các Nghị quyết. Kết luận của Bộ Chính trị, của Ban chấp hành
TW Đảng, trong đó đã xác định rõ vị trí quan trọng của đào tạo nghề trong phát
triển nguồn nhân lực, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
biệt Dự thảo Chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 nêu rõ: Phát triển
nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, tập trung vào việc
đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân là một trong ba khâu đột phá
chiến lƣợc…
Dạy nghề là một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc phát triển nguồn

kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại; đồng thời tập
trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở.
Nhằm đƣa công tác dạy nghề đến với nông nghiệp, nông thôn, để mạng lƣới
các cơ sở dạy nghề trải khắp trên địa bàn cả nƣớc. Ngày 27-11-2009, Thủ tƣớng
Chính phủ ban hành Quyết định 1956/QÐ-TTg phê duyệt Ðề án "Ðào tạo nghề cho
lao động nông thôn đến năm 2020" (gọi tắt là Ðề án 1956). Quyết định nêu rõ quan
điểm của Ðảng và Nhà nƣớc ta là đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp
của Ðảng và Nhà nƣớc, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lƣợng
lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn. Nhà nƣớc tăng cƣờng đầu tƣ để phát triển đào tạo nghề cho lao động
nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề
đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã
hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Ðây là cơ sở tạo hành lang pháp
lý để các hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn phát triển nhằm nâng cao
chất lƣợng nguồn nhân lực nông thôn. Ðề án 1956 đã đề ra mục tiêu tổng quát bình
quân hằng năm đào tạo nghề cho khoảng một triệu lao động nông thôn, trong đó đào
tạo, bồi dƣỡng cho 100.000 lƣợt cán bộ, công chức xã. Nâng cao chất lƣợng và hiệu
quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp
phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Ðể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu
đã nêu, Ðề án đề ra các giải pháp và tám hoạt động cụ thể với tổng kinh phí từ ngân
sách Nhà nƣớc cho 10 dự kiến là 25.980 tỷ đồng. Có thể nói đây là đề án lớn nhất
trong lĩnh vực đào tạo nghề từ trƣớc đến nay, nhiều cả về nội dung, lớn cả về quy
mô kinh phí để thực hiện.
Ðồng thời với Ðề án "đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020",
ngày 4-6-2010, Chính phủ cũng đã có Quyết định số 800/QÐ-TTg phê duyệt
"Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -
2020". Ðây là chƣơng trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an
ninh quốc phòng ở nông thôn. Theo đó, sẽ có 11 nhóm nội dung phải triển khai thực


20,99
- Lao động qua đào tạo kỹ thuật không bằng cấp
6,63
- Lao động qua sơ cấp hoặc đã đƣợc cấp chứng chỉ nghề
2,60
- Công nhân kỹ thuật có bằng
3,26
- Trung học chuyên nghiệp
4,07
- Cao đẳng, đại học trở lên
4,44

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
(Nguồn: Kết quả điều tra lao động việc làm ngày 1/7/2003 của Bộ LĐTBXH.)
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lƣợng lao động nƣớc ta đƣợc thể hiện
trên bảng 1.1. Trong tổng lực lƣợng lao đông nƣớc ta, chỉ có 20,99% ngƣời có trình
độ chuyên môn kỹ thuật; trong đó đã qua đào tạo kỹ thuật không bằng cấp 6,63%,
qua sơ cấp hoặc đã đƣợc cấp chứng chỉ nghề 2,6%, công nhân kỹ thuật có bằng
3,26%, trung học chuyên nghiệp 4,07% và CĐ – ĐH trở lên 4,44%. Với tỷ lệ trên
nƣớc ta tiếp tục thiếu lực lƣợng lao đông có chuyên môn kỹ thật đặc biệt là đội ngũ
lao động chuyên môn kỹ thuật có tay nghề.
Thứ Hai: cơ cấu lao động qua đào tạo theo khu vực, theo vùng miền còn nhiều
bất cập. Có thể thấy lực lƣợng lao động ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng lớn
nhƣng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp.
Chất lƣợng nguồn lao động giữa các vùng cũng có sự chênh lệch với nhau.
Nguyên nhân của tình trạng trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lƣợng lao động
còn thấp, thiếu đội ngũ lao động công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề và cơ cấu
lao động của các vùng còn bất hợp lý là do trong một thời gian qua hệ thống các

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
Đã tổ chức dạy nghề đối với ngƣời dân tộc thiểu số, bộ đội xuất ngũ, ngƣời nghèo,
ngƣời khuyết tật, lao động nông thôn , góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao
mức sống cho ngƣời lao động. Chất lƣợng và hiệu quả dạy nghề có bƣớc chuyển
biến tích cực (khoảng 70% học sinh tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay
sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cơ sở dạy nghề tỷ lệ này đạt trên 90%).
Các điều kiện bảo đảm chất lƣợng dạy nghề đã từng bƣớc đƣợc cải thiện. [23]
Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đã đƣợc chú trọng. Tính đến tháng
6 năm 2010, đã có một số tỉnh thành lập ban chỉ đạo triển khai “đề án 1956”.
Mạng lƣới các cơ sở dạy nghề đã đƣợc quy hoạch hợp lý theo quyết định số
48/2002/QĐ – TTG ngày 14 tháng 4 năm 2002 của Thủ tƣớng chính phủ.
Bên cạnh sự tăng về quy mô, chất lƣợng đào tạo nghề cũng đƣợc nâng cao,
đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trƣờng lao động; ngƣời học đƣợc trang bị những
kiến thức cơ bản, năng lực tiếp cận và làm chủ máy móc thiết bị hiện đại kỹ năng
nghề nghiệp ngày càng thuần thục. Lao động ở nông thôn, bộ đội xuất ngũ, sau khi

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

24
đƣợc học hoặc bồi dƣỡng tay nghề đã tự tạo đƣợc việc làm, lập cơ sở sản xuất, mở
trang trại góp phần nâng cao năng suất lao động và thu nhập ổn định cho bản thân
và gia đình.
Chất lƣợng đào tạo nâng cao nhờ các điều kiện đảm bảo chất lƣợng đƣợc cải
thiện đáng kể. Đội ngũ giáo viên dần đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề, tỷ lệ giáo viên
có tay nghề cao, trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng.
Bảng 1.2: Tình hình đội ngũ giáo viên dạy nghề phân theo trình độ
đào tạo năm 2008 - 2010
Trình độ giáo viên
2008 (%)
2009 (%)

còn những tồn tại, bất cập: Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

25
- Quy mô đào tạo nghề còn nhỏ, cơ cấu, trình độ đào tạo, cơ cấu ngành nghề
chƣa đáp ứng yêu cầu phát triển. Tỷ lệ học sinh học tại các trƣờng nghề còn ít so
với các bậc đào tạo khác trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cơ cấu trình độ, ngành
nghề đào tạo chƣa phù hợp, có hiệu tƣợng mất cân đối giữa đào tạo dài hạn và dạy
nghề ngắn hạn. Tình trạng thiếu nhiều công nhân có trình độ kỹ thuật cao ở khu
công nghiệp, các ngành kinh tế mũi nhọn, đang trở thành lực cản cho quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Chất lƣợng đào tạo ở các cơ sở dạy nghề còn có mặt chƣa đáp ứng nhu cầu
sử dụng của thị trƣờng lao động. Chƣơng trình giáo dục chậm đổi mới để thích ứng
với công nghệ, với thực tế sản xuất, nội dung phƣơng pháp đào tạo còn nặng về lý
thuyết, chƣa chú ý đến kỹ năng thực hành, phƣơng pháp đào tạo còn lạc hậu, chƣa
phát huy tính chủ động, sáng tạo của ngƣời học.
- Cở sơ vật chất, phòng thí nghiệm, xƣởng thực hành, thƣ viện, thiết bị dạy
học … tuy đƣợc cải thiện nhƣng vẫn còn thiếu nghiêm trọng hoặc quá lạc hậu. Đối
với các trƣờng địa phƣơng quản lý quy mô còn quá nhỏ, trang thiết bị thiếu do ngân
sách còn hạn hẹp. Những năm qua, nguồn đầu tƣ từ ngân sách cho dạy nghề mặc dù
tăng nhƣng chƣa tƣơng xứng với chỉ tiêu đào tạo , đầu tƣ còn giàn trải nên hiệu quả
chƣa cao.
- Tâm lý xã hội còn coi trọng bằng cấp, tâm lý học sinh sau khi tốt nghiệp
PTTH nhất thiết phải vào đại học để “bằng bạn, bằng bè ” đã ăn sâu vào nếp nghĩ
không chỉ của học sinh mà còn của cả một bộ phận xã hội. Ngƣời lao động chƣa
nhận thấy đƣợc học nghề là con đƣờng để lập thân, lập nghiệp và giá trị của trình độ
nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng.
- Bên cạnh đó một số cơ chế, chính sách quản lý dạy nghề chƣa đồng bộ và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status