TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Người hướng dẫn
: Nguyễn Khắc Hai
Sinh viên thực hiện
: Khuất Thị Lan
Ngành đào tạo
: Quản trị Nhân lực
Lớp
: 1205.QTND
Khóa học
: 2012-2016
Hà Nội - 03/2016
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lao động - việc làm - học nghề đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt
quan tâm. Giải quyết việc làm còn là vấn đề nóng bỏng cấp thiết của từng ngành, từng
địa phương, từng gia đình. Vấn đề lao động - việc làm có ảnh hưởng to lớn đến việc
hiện đại hóa của huyện Phúc Thọ. Giải quyết được việc làm cho người lao động sẽ
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu của thị
trường lao động, nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, đòi hỏi lực lượng lao động
đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn
lao động là hoạt động thường xuyên, đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là với lao động
nông thôn.
Hiện nay, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương,
công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc
làm cho lao động sau đào tạo có nhiều biến chuyển. Công tác đào tạo nghề - giải quyết
việc làm đã và đang đạt được những chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế trong toàn huyện; tuy nhiên, việc đào tạo nghề còn gặp nhiều khó khăn,
trở ngại.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Phúc Thọ,
thành phố Hà Nội" làm đề tài báo cáo thực tập của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho LĐNT và chất lượng đào tạo nghề
cho LĐNT huyện Phúc Thọ -TP.Hà Nội trong những năm gần đây; phân tích, đánh giá
những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT của huyện, từ đó đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT huyện Phúc
Thọ-TP.Hà Nội trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề ,các hình thức
đào tạo nghề và việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT;
tập gồm 03 chương:
- Chương 1: Tổng quan về huyện Phúc Thọ
- Chương 2: Cơ sở lý luận và thực trạng về chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn huyện Phúc Thọ
- Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
nghề cho lao động nông thôn huyện Phúc Thọ
PHẦN NỘI DUNG
5
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÒNG LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI HUYỆN PHÚC THỌ
1.1. Khái quát chung về Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện
Phúc Thọ
1.1.1. Tóm lược quá trình hình thành và phát triển
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Phúc Thọ được thành lập năm
1960. Trong quá trình hoạt động và phát triển, phòng đã trải qua nhiều lần thay đổi tên
gọi lẫn chức năng cho phù hợp với nhiệm vụ riêng của mình.
Tiền thân của phòng là phòng Tổ chức - Lao động và Xã hội bao gồm: Ban Tổ
chức chính quyền và phòng Thương binh & Xã hội.
Tháng 10/1987 ban Tổ chức chính quyền và phòng Thương binh & Xã hội sát
nhập thành phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.
Tháng 4/1991 do sửa đổi cơ chế, phòng lại được đổi tên là phòng Nội vụ - Lao
động & Xã hội.
Đến tháng 06/2008 phòng được tách riêng ra từ phòng Nội vụ - Lao động & Xã
hội lấy tên là phòng Lao động Thương binh & Xã hội và hoạt động đến bây giờ.
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phúc Thọ là cơ quan chuyên
môn thuộc UBND huyện Phúc Thọ có chức năng giúp UBND huyện thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động, việc làm, dạy nghề, chính sách đối với
dân cấp huyện.
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án,
chương trình về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trên địa bàn huyện sau khi
được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực lao
động, người có công và xã hội được giao.
Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập
thể, kinh tế tư nhân; hướng dẫn kiểm tra hoạt động của các hội và tổ chức phi Chính
phủ hoạt động trên địa bàn thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xã hội theo
quyđịnh của pháp luật.
Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật đối với các cơ sở
bảo trợ xã hội, dạy nghề, giới thiệu việc làm, cơ sở giáo dục lao động xã hội, cơ sở trợ
giúp trẻ em trên địa bàn huyện theo phân cấp, ủy quyền.
Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quản lý nghĩa trang liệt sỹ, đài tưởng niệm, các
7
công trình ghi công liệt sỹ.
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội.
Phối hợp với các ngành, đoàn thể xây dựng phong trào toàn dân chăm sóc, giúp
đỡ người có công và các đối tượng chính sách xã hội.
Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách về lao động, người có công và
xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống lãng
phí trong hoạt động lao động, người có công và xã hội theo quy định của pháp luật và
phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu
trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực lao
động, người có công và xã hội.
Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện
nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Lao động Thương binh và Xã hội.
Phó trưởng phòng
Phó trưởng phòng
Chuyên
phụ
trách mảng
XĐGN
& dạy
viên phụ
trách
mảnn
viênmảng
phụ trách
mảngviệc
bảolàm
trợ
xã
kiêm
quỹ NCC Chuyên
Chuyên
viên
kếthủ
toán
Phòng
1Chuyên
cửa
CVhội
phụ
trách
b. Nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ phận trong cơ cấu tổ chức
Trưởng phòng
Trực tiếp quản lý các công việc của phòng, tham mưu giúp UBND huyện thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: lao động, việc làm, dạy nghề, an
toàn xã hội, công tác chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội,
bảo vệ chăm sóc trẻ em, phòng chống tệ nạn xã hội và bình đẳng giới. Đồng thời chịu
trách nhiệm trước UBND huyện và Nhà nước.
Phó trưởng phòng
Gồm 02 phó trưởng phòng phụ trách các mảng công việc khác nhau.
Phó trưởng phòng thứ nhất: Giúp trưởng phòng quản lý chung công tác chính
sách xã hội; giải quyết việc làm xuất khẩu lao động và dạy nghề; kế toán của phòng.
Khi có vướng mắc phát sinh ở từng bộ phận sẽ báo cáo trực tiếp với phó trưởng phòng
phụ trách để xin ý kiến và kịp thời giải quyết đồng thời để phó trưởng phòng tổng hợp
báo cáo trưởng phòng. Ngoài ra phó trưởng phòng còn giúp trưởng phòng giải quyết
đơn thư khiếu nại, tố cáo của tổ chức, công dân về lĩnh vực chính sách xã hội và lao
động việc làm, dạy nghề theo quy định của pháp luật. Chủ trì và phối hợp với các cơ
quan liên quan theo dõi an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ của các doanh
nghiệp trên địa bàn huyện. Đồng thời chịu trách nhiệm trước trưởng phòng.
Phó trưởng phòng thứ hai: Giúp trưởng phòng quản lý chung công tác chính sách
người có công với cách mạng và công tác trẻ em. Khi có vướng mắc phát sinh ở hai bộ
phận này cũng trực tiếp báo cáo phó trưởng phòng phụ trách để xin ý kiến và kịp thời
giải quyết đồng thời phó trưởng phòng cũng tổng hợp báo cáo tình hình hai mảng công
việc với trưởng phòng. Phó trưởng phòng còn phụ trách việc giải quyết đơn thư khiếu
nại, tố cáo của tổ chức, công dân về lĩnh vực người có công theo quy định của pháp
luật. Chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện công tác bảo vệ và chăm
11
sóc trẻ em theo quy định. Đồng thời chịu trách nhiệm trước trưởng phòng.
Bộ phận phụ trách lao động - việc làm và dạy nghề:
người già yếu…
Theo dõi, hướng dẫn thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo. Điều tra,
theo dõi hộ nghèo, cấp, sửa đổi thẻ bảo hiểm y tế hàng năm cho hộ nghèo, hộ cận
nghèo. Thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ nghèo theo quy định như: Hỗ trợ kinh phí
nhà ở xuống cấp hư hỏng nặng cho hộ nghèo; hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo; thực hiện
miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh, sinh viên thuộc hộ gia đình
nghèo theo Nghị định 49/NĐ-CP của Chính phủ.
Nghiên cứu đề xuất phương án phòng chống tệ nạn xã hội như: ma túy, mại dâm,
gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…Trực tiếp theo dõi, quản lý các đối tượng
nghiện ma túy trên địa bàn. Tham mưu cho UBND huyện ra quyết định quản lý cai
nghiện bắt buộc và quản lý sau cai đối với các đối tượng nghiện ma túy…
Bộ phận trẻ em
Điều tra số lượng trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi…Theo dõi, thực hiện công tác bảo
vệ, chăm sóc trẻ em.
Tham mưu cho UBND huyện vận động các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị,
xã hội và cán bộ công chức, công nhân lao động xây dựng Quỹ “Bảo trợ trẻ em”.
Tổng hợp việc cấp thẻ khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi báo cáo cơ quan
chức năng.
Tuyên truyền, vận động và nâng cao năng lực quản lý chương trình ngăn ngừa và
giải quyết tình trạng trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em bị xâm hại tình dục…
Lập thủ tục đề nghị phẫu thuật miễn phí cho những em bị bệnh tim bẩm sinh,
phẫu thuật trả lại nụ cười cho những em bị sứt môi, hở hàm ếch…
Bộ phận chính sách người có công
Trực tiếp theo dõi lập thủ tục đề nghị cấp thẩm quyền giải quyết chính sách người
có công và người thân của họ.
Phối hợp với cơ quan liên quan cấp thẻ BHYT hàng năm cho đối tượng người có
công với cách mạng.
Hàng tháng lập dự toán, tổ chức tiếp cận và chi trả kịp thời cho các đối tượng
với Trưởng phòng, Phó trưởng phòng do chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện quyết định
theo quy định của pháp luật và phân cấp của tỉnh.
Các chuyên viên trong phòng chịu trách nhiệm trước lãnh đạo và cơ quan cấp
trên như Ủy ban nhân dân huyện và Sở lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thái
Nguyên về công vệc được phân công phụ trách, đồng thời tham gia giải quyết công
việc chung của phòng, chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của phòng trước Trưởng
phòng, Ủy ban nhân dân huyện và Sở lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh.
♦ Mối quan hệ công việc giữa cán bộ, công chức, chuyên viên trong phòng được thể
14
hiện như sau:
Các nội dung công việc của phòng được đưa ra thảo luận theo định kỳ hàng tuần,
tháng, quý.
Các chương trình công tác, tháng, quý, sáu tháng và một năm phải có báo cáo cụ
thể trước Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và tất cả các chuyên viên trong phòng về
nội dung công việc được giao phụ trách.
Cán bộ, công chức, chuyên viên trong phòng có nhiệm vụ thực hiện tốt công tác
chuyên môn được giao, nghiên cứu, đề xuất theo dõi, hướng dẫn kiểm tra về công tác
chuyên môn được giao.Chấp hành nghiêm pháp luật của nhà nước, giữ tính bảo mật
trong công tác chuyên môn theo đúng phạm vi trách nhiệm được giao quản lý. Báo cáo
tình hình chuyên kết quả công việc chuyên môn theo quy định của Trưởng phòng, của
cơ quan.
Các chuyên viên, thuộc các bộ phận chuyên môn làm việc trực tiếp với lãnh đạo
phòng và cán bộ lãnh đạo phụ trách công việc có trách nhiệm báo cáo phần công việc
được phân công với Trưởng phòng và cung cấp thông tin cho cán bộ, công chức khác có
liên quan để tạo điều kiện cho các bộ phận chuyên môn hoàn thành tốt công việc được
giao.
Các cán bộ, công chức trong phòng luôn hợp tác phối hợp công việc bình đẳng
và cộng đồng trách nhiệm trước công việc chung của phòng. Thường xuyên trao đổi
điểm thích hợp trong tương lai.
1.2.2. Phân tích công việc
Là một quá trình (bao gồm công việc và thủ tục) nhằm xác định các loại công
việc phải thực hiện, tính chất và đặc điểm của mỗi công việc đó, quyền hạn, trách
nhiệm, kỹ năng thực hiện theo yêu cầu của công việc đó là gì? phức tạp hay đơn giản,
chức trách đảm đương công việc đó là gì? công việc đó đòi hỏi những kỹ năng gì? mà
khi thực hiện công việc cần phải có.
Để tiến hành phân tích công việc người ta thường hay sử dụng các phương pháp
như phương pháp trực quan bằng cách quan sát trực tiếp quá trình hoạt động của nhà
nhân sự - phương pháp phân tích thống kê qua các số liệu thống kê thu thập được về
kết quả và quá trình hoạt động của các loại lao động hiện có, để đánh giá về nhân sự
của cơ quan, đơn vị đó và phương pháp trắc nghiệm.
Phân tích công việc được thực hiện qua 5 bước sau:
Mô tả
công việc
Xác định
công việc
Tiêu
chuẩn
16 về
nhân sự
Đánh giá
công việc
Xếp loại
công việc
được thông qua.
+ Đãi ngộ vật chất: Thể hiện việc thoả mãn nhu cầu về vật chất của người lao
động qua tiền lương, tiền thưởng và phúc lợi xã hội, đây là một nhu cầu cơ bản của
con người.
+ Đãi ngộ tinh thần: Đó là việc quan tâm đến nhu cầu tinh thần của con người,
thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người như: có niềm vui trong công việc, được tôn
trọng và quý trọng, được thăng tiến trong công việc, được quan tâm giúp đỡ, khuyến
khích mỗi khi gặp khó khăn hoặc có sự rủi ro xảy ra đối với bản thân và gia đình họ.
1.2.6. Đánh giá kết quả thực hiện công việc
Trước công việc được giao, các nhà quản trị cần đánh giá đúng mực trung thực
công bằng những thành tích mà người lao động đạt được, động viên khuyến khích kịp
thời, đồng thời rút ra những tồn tại yéu kém để họ có thể tiếp thu và rút ra kinh nghiệm
làm tốt hơn.
Như vậy, yếu tố giúp ta nhận biết được một tổ chức hoạt động tốt hay không
tốt, thành công hay không thành công chính là lực lượng nhân sự của cơ quan, tổ chức
đó – những con người cụ thể với lòng nhiệt tình và óc sáng kiến. Mọi thứ còn lại như:
Máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi
được, sao chép được, nhưng con người thì không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng
quản trị nhân sự có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của cơ quan tổ
chức.
18
19
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN PHÚC THỌ
2.1. Cơ sở lý luận
Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định. Hay nói
cách khác, đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để
người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai.
Ngày 29/11/2006 Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11.
Trong đó viết: “ Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc
tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học
Qua đó, ta có thể thấy dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc
làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố cơ
bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. Dạy nghề giúp cho
người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ
có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc
sản xuất cho bản thân.
2.1.1.2. Lao động và lao động nông thôn
a. Khái niệm lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật chất
và các giá trị tinh thần của xã hội.
Theo khái niệm của Liên hợp quốc thì : “Lao động là tổng thể sức dự trữ, những
tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào cải
tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”
Hay theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì : “ Lực lượng lao động là một
bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người
không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm”.
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự
nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Trong quá trình sản xuất,
con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản
phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của
ra năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo”.
2.1.1.4. Chất lượng đào tạo nghề
a. Khái niệm chất lượng
Có rất nhiều định nghĩa và cách lí giải khác nhau về khái niệm chất lượng. Có ý
kiến cho rằng chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi
về chất và là sự phù hợp với mục tiêu. Có thể thấy quan niệm về chất lượng qua một
số định nghĩa sau:
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá
trị của sự vật hoặc cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia;
22
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông thì chất lượng là tổng thể những tính chất,
thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)...làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự
vật (sự việc) khác;
Theo TCVN-ISO8402: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối
tượng) tạo cho thực thể ( đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra
hoặc nhu cầu tiềm ẩn;
Suy cho cùng: Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm đa
chiều; nhưng chung nhất đó là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so
sánh sự vật này với sự vật khác.
b. Chất lượng đào tạo nghề
Chất lượng đào tạo nghề là một khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo đếm
và cảm nhận được, nó luôn luôn biến đổi theo thời gian và theo không gian.
Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định và trạng
thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó. Nếu như chúng ta không
đánh giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu thì khó có thể biết được chất lượng đào
tạo nghề.
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng của người lao động
được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mục tiêu và chương trình đào
2.1.3.1. Vai trò của đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề cho LĐNT có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt đối với phát triển
vốn con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho
người lao động; giảm nghèo, thực hiện công bằng, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần
phát triển kinh tế- xã hội bền vững ở khu vực nông thôn.
Nhờ có nền tảng giáo dục đào tạo- trong đó có đào tạo nghề, người lao động có
thể nâng cao được kiến thức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao
động, góp phần phát triển kinh tế. Như vậy có thể thấy, giáo dục đào tạo nghề là một
thành tố và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân
lực. Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị
trường lao động, song song với các cơ chế chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân
lực, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nói chung và
đào tạo nghề nói riêng.
2.1.3.2. Ý nghĩa của đào tạo nghề cho lao động nông thôn
a. Ý nghĩa về phát triển kinh tế
Đào tạo nghề cho LĐNT góp phần giải quyết công ăn việc làm cho số LĐNT
nhàn rỗi do không có nghề. Một số do không thi vào các trường đại học, cao đẳng,
trung cấp hoặc do thi trượt, hoàn cảnh không thể có khả năng thi tiếp; một số khác là
bộ đội xuất ngũ trở về địa phương, nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công
24
nghiệp. Đối với những LĐNT, người có trình độ văn hóa thấp thì học nghề là biện
pháp duy nhất để nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng, tay nghề cho người lao động vì
họ không thể đáp ứng được các yêu cầu của giáo dục chuyên nghiệp.
Bên cạnh đó, đào tạo nghề sẽ huy động được tối đa lực lượng lao động của xã
hội vào phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời phát huy được năng lực, sở trường của
từng người lao động, khai thác tốt hơn các nguồn lực về vốn, tài nguyên thiên nhiên,
khoa học công nghệ…nhờ vậy hiệu quả kinh tế ngày một nâng cao góp phần quan
trọng vào quá trình tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.