Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 1 Tiểu luận
Đầu tư quốc tế gián tiếp, thực trạng và giải
pháp ở Việt Nam
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
1. Mục tiêu nghiên cứu 5
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 1
3. Phương pháp nghiên cứu. 6
4. Kết cấu của bài tiểu luận 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC
NGOÀI FPI 7
1.1 Khái niệm đầu tư gián tiếp FPI 4
1.2 Đặc trưng của FPI 8
1.3 Tính chất của FPI 6
1.3.1 Tính thanh khoản cao 6
1.3.2 Tính bất ổn định 10
1.3.3 Tính dễ đảo ngược 10
1.4 So sánh FPI và FDI 7
1.4.1 Điểm tương đồng 7
1.4.2 Điểm khác biệt 11
1.5. Các quy chế đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam 13
2.4.5 Những tác động tích cực của các quỹ đầu tư nước ngoài 74
2.5 Hoạt động của các nhà đầu tư lẻ 75
2.5.1 Thực trạng hoạt động của nhà đầu tư nhỏ lẻ nước ngoài trong thời gian qua. 75
2.6 Tác động của nguồn vốn đầu tư gián tiếp. 82
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 4
2.6.1 Những tác động tích cực: 82
2.6.2 Tác động tiêu cực. 83
CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ GIÁN
TIẾP NƯỚC NGOÀI 85
3.1. Nhó m giải pháp về luật lệ chính sách. 86
3.1.1. Tái cấu trúc thị trường chứng khoán một cách sâu rộng. 86
3.1.2. Hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý nhằm khuyến khích tổ chức và cá nhân
tham gia vào TTCK Việt Nam 87
3.1.3. Xây dựng và áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong quản trị và điều hành doanh
nghiệp 89
3.1.4. Thiết lập chính sách bình đẳng về ưu đãi đầu tư, chính sách thuế, phí, lệ phí
giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước 90
3.2. Nhóm giải pháp phát triển thị trường. 91
3.3. Nhóm giải pháp về các yếu tố đảm bảo khác. 94
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
LỜI MỞ ĐẦU
để tăng cường thu hút nguồn vốn này trong thời gian tới.
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 6
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động của các công ty
chứng khoán, các quỹ đầu tư nước ngoài và hoạt động của các nhà đầu tư nước
ngoài nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, thống kê mô tả đóng vai trò chủ
đạo trong suốt quá trình nghiên cứu tiểu luận.
4. Kết cấu của bài tiểu luận.
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư gián tiếp.
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư gián tiếp vào Việt Nam thời gian qua.
Chương 3: Các giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư quốc tế gián tiếp ở Việt
Nam.
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 7
khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.
1.2 Đặc trưng của FPI
Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát
hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng
khoán.
Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất,
công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong trực tiếp đầu tư
(FDI). FPI là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.
Như vậy có thể thấy, FPI là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước ta, vì
chúng xuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường
chứng khoán quốc gia và quốc tế.
Trên thực tế, mặc dù FPI dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu
tư trực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp đồng hợp tác kinh
doanh…), song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất.
Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dùng vốn của mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 9
tỷ lệ cổ phiếu do nhà đầu tư nắm giữ thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn
của IMF và 30% theo tiêu chuẩn của Việt Nam hiện hành) là đầu tư gián tiếp, nhưng
khi vượt ngưỡng này lại được xếp vào đầu tư trực tiếp và khi đó, nhà đầu tư có thể
dùng quyền bỏ phiếu của mình để can thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh doanh
của doanh nghiệp…
Cũng như FDI, động thái dòng FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của
các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao
và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư
nước ngoài; mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự
thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư
trong nước; sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói
tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư không ngừng được
phân bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có tỷ suất lợi nhuận
cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh, những ảnh hưởng xấu đến
hệ thống tài chính và tình trạng bất ổn định của nền kinh tế xảy ra là không thể tránh
khỏi. Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn đối với các nước có thị trường tài chính mới
hình thành và nền kinh tế còn trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam.
1.3.3 Tính dễ đảo ngược
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền kinh tế, nó
là hệ quả của hai đặc tính thanh khoản cao và bất ổn định. Do dễ đảo ngược cho nên có
thể chỉ trong khoảng thời gian ngắn một lượng vốn FPI lớn tháo lui “bẻ ghi” đầu tư
sang thị trường khác để lại hậu quả khôn lường cho nền kinh tế. Kinh nghiệm khủng
khoảng kinh tế tài chính của các nước châu Á vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đã cho
thấy tác hại của sự đảo ngược dòng vốn FPI khi nền kinh tế của các quốc gia này xuất
hiện những khoảng trống, hậu quả là nền kinh tế bong bóng nhanh chóng bị sụp đổ mà
trong ngắn hạn khó có thể khắc phục được.
1.4 So sánh FPI và FDI
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 11
1.4.1 Điểm tương đồng
Thứ nhất, cả hai đều là hoạt động đưa vốn ra nước ngoài làm tăng lượng vốn và
dự trữ ngoại tệ của nước chủ nhà. FDI và FPI xuất hiện do nhu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế.
Thứ hai, luồng vốn được luân chuyển từ nước của nhà đầu tư sang nước sử dụng
vốn đầu tư, nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư. Để tạo lợi ích tốt nhất cho
mình, nhà đầu tư có thể lựa chọn cho mình cách thức đầu tư phù hợp nhất hoặc kết
hợp cả 2 hình thức trên. Lợi nhuận của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp và tỉ lệ thuận với số vốn đầu tư. Do đó, tình hình hoạt động của
doanh nghiệp là mối quan tâm chung của hai hoạt động đầu tư này.
Thứ ba, cả hai nguồn vốn này đều chịu sự điều chỉnh của nhiều luật lệ khác nhau.
Ngược lại, FDI là nguồn bổ sung vốn dài hạn cho nước chủ nhà không dễ bị rút đi trong
thời gian ngắn vì gắn liền với hoạt động của dự án. Nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận
một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không lo phải trả nợ. Ví dụ
như, nếu nhà đầu tư chọn hình thức đầu tư trực tiếp FDI vào một dự án xây dựng 1 công
trình, muốn thu hồi vốn thì phải đợi công trình được hoàn thiện và như vậy có thể sẽ
mất tới rất nhiều năm. Trong khi đó, nếu đầu tư vào thị trường chứng khoán, có thể dễ
dàng thu hồi vốn bằng cách bán lại chứng khoán.
Điểm khác biệt thứ ba là tính chấp nhận rủi ro: FPI thường chấp nhận rủi ro cao
hơn FDI. FDI thường hướng tới cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận cụ thể, có thể tính
toán và dự báo với xác suất thành công cao. Ngược lại, nhà đầu tư gián tiếp có điều kiện
theo đuổi những cơ hội đầu tư với mức rủi ro lớn hơn với kì vọng vào thời cơ tăng
trưởng bùng nổ trong tương lai.
Về hình thức đầu tư: FPI chỉ là hoạt động luân chuyển vốn còn FDI là hoạt
động luân chuyển vốn có thể kèm theo các loại hình đầu tư khác. FDI không chỉ gắn với
việc di chuyển vốn mà còn đi kèm hoạt động chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến
thức và kinh nghiệm, tạo thị trường mới cho cả bên đầu tư và tiếp nhận đầu tư. Vốn
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 13
FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp
định mà còn bao gồm cả vốn vay doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng
như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Thông thường, FDI thường đi kèm với 3 yếu tố: hoạt động thương mại, chuyển giao
công nghệ, di cư lao động. Sản phẩm của FDI thường thấy là những nhà máy mới,
hiện đại ; mạng lưới công nghệ thông tin cao cấp; những khu thương mại khổng lồ;
những lao động chất lượng cao giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ quốc tế.
Về đối tượng tiếp nhận đầu tư FPI thường đi vào các nước phát triển trong khi FDI
lại chuyển từ nước phát triển sang các nước đang phát triển. Để thực hiện FPI cần 1 hệ
thống tài chính hoạt động hiệu quả. Trong khi đó, các nước kém phát triển lại có hệ
thống tài chính yếu nên FPI có xu hướng luân chuyển giữa các nước phát triển với nhau
Thông tư 07/2007/TT-NHNN ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Ngân hàng Nhà
nước hướng dẫn thưc hiện NĐ 69/2007/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài
mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài Chính về
việc ban hành quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Quyết định 88/2009/QĐ-TTg ngày 18 tháng 06 năm 2009 về quy chế góp vốn,
mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam
Thông tư 131/2010/TT-BTC ngày 06 tháng 09 năm 2010 của Bộ tài chính Hướng
dẫn thực hiện quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các
doanh nghiệp VN.
Quyết định 55/2009/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của Nhà đầu tư nước ngoài trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
***************************************************************
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 15
1.5.1. Công ty chứng khoán.
1.5.1.1 Khái quát về công ty chứng khoán
a. Định nghĩa:
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứng khoán,
thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng
khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo
lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể
tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung gian. (nguồn:
Wikipedia)
Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng
khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự
doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
(Trích Điều 2 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán-Quyết định số
o Specialized firms: là những công ty chỉ chuyên cung cấp dịch vụ liên quan
đến một hoặc một số rất ít các công cụ đầu tư. Lebenthal & Co. là một công ty
rất nổi tiếng chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến trái phiếu đô thị
o Carriage trade houses: các công ty "đóng đô" tại thành phố New York.
Khách hàng của các công ty này đều được lựa chọn kỹ càng và đều là khách
hạng sang. Muốn mở tài khoản tại các công ty này, nhất thiết phải được sự giới
thiệu của các khách hàng hiện tại. Dịch vụ do các công ty này cung cấp đều
được cá nhân hóa cao độ để phù hợp với từng khách hàng. Morgan Stanley,
Donaldson Lufkin, Bear Stearns… đều thuộc dạng này.
o Boutique firms: là các công ty vừa có đặc điểm của một carriage trade firm
vừa có đặc điểm của một wire house. Dịch vụ do các công ty này cung cấp
cũng mang tính chất cá nhân hóa như các carriage trade houses. Đối tượng của
các công ty này là những nhà đầu tư có thu nhập trung bình. Một số các công
ty thuộc dạng này là Grunthal, Butcher and Singer, F.S. Mosely…
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 17
c. Quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán tại Việt Nam
Theo quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 về việc ban hành Quy chế tổ
chức và hoạt động công ty chứng khoán (sau đây gọi tắt là quy chế) gồm 7 chương
với 46 điều:
Chương 1: Những quy định chung (điều 1-2)
Chương 2: Giấy phép thành lập và hoạt động (điều 3-9)
Chương 3: Tổ chức công ty chứng khoán (điều 10-23)
Chương 4: Quản lý an toàn tài chính (điều 24-29)
Chương 5: Hoạt động của công ty chứng khoán (điều 30-42)
Chương 6: Chế độ báo cáo, lưu trữ, công bố thông tin (điều 43-45)
Chương 7: Tổ chức thực hiện (điều 46)
Ngoài ra còn có Quyết định 126/2008/QĐ-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2008 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán.
trị khác và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp
vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán; Hệ thống phòng cháy chữa cháy
theo quy định của pháp luật; Có hệ thống an ninh, bảo vệ an toàn trụ sở làm việc.
Có vốn điều lệ thực góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định tại Điều
18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 19 Giám đốc (Tổng Giám đốc) phải đáp ứng các quy định sau: Không phải là người
đã từng hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tù hoặc bị tòa án tước
quyền hành nghề theo quy định của pháp luật; Chưa từng là người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp bị phá sản, trừ trường hợp phá sản vì lý do bất khả kháng;
Trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc: có bằng đại học hoặc trên đại học; có kinh
nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất 03 năm
và có kinh nghiệm quản lý điều hành tối thiểu 03 năm; Tuân thủ quy tắc đạo đức nghề
nghiệp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán; Có Chứng chỉ hành nghề chứng
khoán; Chưa từng bị Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xử phạt theo pháp luật chứng
khoán và thị trường chứng khoán trong vòng 02 năm gần nhất; có tối thiểu 03 người
hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh.
Trích Điu 18 Ngh đnh s 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 ca
Chính ph quy đnh chi tit thi hành mt s điu ca Lut Chng khoán:
Vn pháp đnh cho các nghip v kinh doanh ca công ty chng khoán, công
ty chng khoán có vn đu t nc ngoài, chi nhánh công ty chng khoán nc
ngoài ti Vit Nam là:
a) Môi gii chng khoán: 25 t đng Vit Nam;
b) T doanh chng khoán: 100 t đng Vit Nam;
c) Bo lãnh phát hành chng khoán: 165 t đng Vit Nam;
d) T vn đu t chng khoán: 10 t đng Vit Nam.
công ty chứng khoán đã đầy đủ và hợp lệ), tổ chức tham gia góp vốn phải đáp ứng các
điều kiện sau:
- Vốn chủ sở hữu sau khi trừ đi các quỹ khen thưởng, phúc lợi và trừ đi tài sản dài hạn
tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp vào công ty chứng khoán. Trường hợp pháp
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 21
nhân là công ty bảo hiểm: vốn chủ sở hữu cộng nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm sau khi trừ đi tài sản dài hạn tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến
góp vào công ty chứng khoán. Trường hợp pháp nhân là ngân hàng thương mại, công
ty tài chính: vốn điều lệ cộng Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ sau khi trừ đi tài sản dài
hạn tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp vào công ty chứng khoán.
- Tài sản lưu động ròng tối thiểu phải bằng số vốn góp.
- Pháp nhân hoạt động kinh doanh phải có lãi trong 02 năm liền trước năm xin phép
thành lập công ty chứng khoán và không có lỗ luỹ kế đến thời điểm hồ sơ đề nghị
thành lập công ty chứng khoán đã đầy đủ và hợp lệ;
Công ty bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty tài chính tham gia góp vốn thành
lập công ty chứng khoán phải đảm bảo duy trì và đáp ứng các điều kiện an toàn vốn
và các điều kiện tài chính khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.”
Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập công ty chứng khoán không được chuyển
nhượng cổ phần, phần vốn góp ban đầu của mình trong vòng 03 năm kể từ ngày được
cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông
sáng lập, thành viên sáng lập khác, trong đó, ngân hàng thương mại, công ty tài chính
hoặc công ty bảo hiểm phải luôn đảm bảo nắm giữ tối thiểu 30% vốn điều lệ công ty
chứng khoán.
c. Thủ tục cấp Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán
Sau khi nhận được hồ sơ theo quy định, trong thời hạn 30 ngày Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước xem xét chấp thuận nguyên tắc việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt
động công ty chứng khoán. Trường hợp cần làm rõ vấn đề liên quan đến hồ sơ đề nghị
cấp Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán, Uỷ ban Chứng khoán
từ khi chấp thuận nguyên tắc cho đến khi chính thức đi vào hoạt động, việc chấp
thuận nguyên tắc coi như bị huỷ bỏ. Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 23
Thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán
d. Thủ tục chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty chứng khoán
- Công ty chứng khoán khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi phải được Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước ra quyết định chấp thuận chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty
chứng khoán. Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
- Công ty mới hình thành sau khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi chỉ được
phép hoạt động ngành nghề kinh doanh chứng khoán khi đáp ứng các điều kiện kinh
đồng thành viên của công ty chứng khoán khác.
- Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), Giám đốc chi
nhánh không được đồng thời làm việc cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ
hoặc doanh nghiệp khác; Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty chứng khoán không
được là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên của công ty
chứng khoán khác.
Trường ĐH Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Tiểu luận Đầu tư quốc tế
Nhóm 1 – Lớp Thương mại Cao học K20 Trang 25
Nguyên tắc quản lý an toàn tài chính:
- Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được mua lại
không quá 10% số cổ phần phổ thông đã bán làm cổ phiếu quỹ.
- Công ty chứng khoán phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng vốn nợ điều chỉnh tối
thiểu bằng 5%.
- Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán không được vượt quá
sáu lần. Nợ ngắn hạn tối đa bằng tài sản ngắn hạn.
- Công ty chứng khoán được mua, đầu tư vào tài sản cố định của mình theo nguyên
tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không được vượt quá 50% vốn điều lệ của công
ty CK.
1.5.2 Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.
1.5.2.1 Khái quát về công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán
a. Khái niệm
Công ty quản lý quỹ đầu tư là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp
dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.
Ngoại trừ Công ty quản lý quỹ được cấp phép, các tổ chức kinh tế khác không được
cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư.
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích
kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể
cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với
việc ra quyết định đầu tư của quỹ.