Đầu tư quốc tế gián tiếp. Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam - Pdf 95

Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 1
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu Tiểu luận

Đầu tư quốc tế gián tiếp. Thực
trạng và giải pháp tại Việt Nam
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 2
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 6
1. KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP QUỐC TẾ 6
1.1 Đầu tư gián tiếp 6
1.2 Đầu tư gián tiếp quốc tế: 6
2. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÂU TƯ GIÁN TIẾP QUỐC TẾ: 6
3. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI VÀ
ĐẦU TƯ GIÁM TIẾP QUỐC TẾ 6
3.1 Đầu tư trực tiếp: 6
3.1.1. Theo quan điểm vĩ mô: 6
3.1.2. Theo quan điểm vi mô: 7

tiếp vào Việt Nam: 15
1.2 Tiềm năng to lớn của thị trường vốn Việt Nam đối với đầu tư
gián tiếp: 15
1.3 Tổng số vốn của các nhà đầu tư nước ngoài đang đầu tư gián
tiếp vào Việt Nam: 16
1.3.1. Phát hành trái phiếu ra nước ngòai: 16
1.3.2. Đầu tư gián tiếp của tư nhân nước ngòai vào Việt Nam 17
2. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP QUỐC TẾ ĐỐI VỚI VIỆT
NAM: 19
2.1 Nhân tố ảnh hưởng tới vốn đầu tư gián tiếp quốc tế: 19
2.2 Tác động của đầu tư gián tiếp quốc tế nói chung: 20
2.2.1. Tác động tích cực 20
2.2.2. Tác động tiêu cực 20
2.3 Tác động của đầu tư gián tiếp quốc tế đối với Việt Nam 20
2.3.1. Tác động tích cực 20
2.3.2. Tác động tiêu cực 22
Chương 4: GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM. 24
1. NHỮNG HẠN CHẾ CHỦ YẾU CẦN KHẮC PHỤC ĐỂ HẤP DẪN
DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP QUỐC TẾ ĐỔ VÀO VIỆT NAM: 24
2. PHÁT HUY NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ THU HÚT NGUỒN
VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI: 25
3. PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ: 27
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 4
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
3.1 Chuẩn hóa các giao dịch trên thị trường tiền tệ: 27
3.2 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường
tiền tệ: 28

tế này không chỉ mang lại vốn mà còn có vai trò quan trọng thúc đẩy thị trường tài
chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng
tính minh bạch, nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp…
Tuy nhiên, để thu hút được và thực hiện có hiệu quả dòng vốn này thì Việt Nam
còn gặp khá nhiều khó khăn bởi những tác động của hoạt động đầu tư gián tiếp
quốc tế mang lại. Mặt khác dòng vốn này cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các
kênh huy động vốn nước ngoài khác.
Chính vì vậy, thúc đẩy thu hút đầu tư gián tiếp quốc tế ổn định và tương xứng với
tiềm năng, góp phần tạo động lực phát trin thị trường vốn và nền kinh tế Việt Nam
đang là vấn đề được các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các doanh
nghiệp quan tâm.
Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề đầu tư quốc tế tại Việt Nam, trong bài viết sẽ trình
bày thành 4 chương :
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đầu tư quốc tế đầu tư
- Chương 2: Quy chế về đầu tư quốc tế gián tiếp tại Việt Nam
- Chương 3: Thực trạng đầu tư gián tiếp quốc tế vào Việt Nam trong thời gian
qua
-Chương 4: Giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài trong mối
quan hệ với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt nam.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 6
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ
1. KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP QUỐC TẾ
1.1 Đầu tư gián tiếp
Là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ
có giá trị khác, thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài
chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động
đầu tư.

của một tổ chức quốc tế hoặc một nước nào đó. Nước chủ nhà sử dụng vốn vay để
phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế và kinh tế xã hội quốc gia, sau một thời
gian phải hoàn trả cả gốc và lãi dưới hình thức tiền tệ hay hàng hoá. Hoặc chính
phủ bán trái phiếu ra nước ngoài để huy động ngoại tệ từ nước ngoài. Nói cách
khác đầu tư gián tiếp là một hình thức đầu tư của chính phủ.
Nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào
tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong FDI.
3.2.2. Theo quan điểm vi mô:
Chủ đầu tư góp vốn với tỷ lệ nhỏ, họ không được quyền tham gia trực tiếp vào
việc điều hành, chi phối hoạt động của đối tượng mà chỉ đơn thuần là góp vốn để
được nhận một phần lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 8
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
CHƯƠNG 2: QUY CHẾ VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
GIÁN TIẾP TẠI VIỆT NAM
Nội dung:
- Quy chế về thành lập công ty chứng khoán
- Quy chế về thành lập quỹ đầu tư.
- Quy chế về nhà đầu tư nướng ngoài được phép mua cổ phiếu của các ngân
hàng thương mại Việt Nam, của các công ty Việt Nam.

1. QUY CHẾ VỀ THÀNH LẬP CÔNG TY CHỨNG KHOÁN:
Ngày 24-4-2007 Bộ Tài chính đã có quyết định số 27/2007/QĐ-BTC về việc ban
hành quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán.
Quy chế này quy định về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán thành lập
tại Việt Nam.
1.1 Các thuật ngữ:
Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh
doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới

bởi một công ty kiểm toán độc lập.
1.2.3. Về điều lệ công ty, các quy trình về nghiệp vụ:
Công ty chứng khoán muốn thành lập phải có dự thảo điều lệ công ty đã được các
cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập công ty chứng khoán thông qua, phương án
hoạt động kinh doanh trong ba 3 năm đầu phù hợp với nghiệp vụ kinh doanh đề
nghị cấp phép kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội bộ, quy
trình quản lý rủi ro theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
2. QUY CHẾ VỀ THÀNH LẬP QUỸ ĐẦU TƯ:
Ngày 15-05-2007 Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC về
“Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý quỹ”:
Theo quy chế này, Công ty quản lý quỹ được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán sau đây: Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng
khoán; Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.
Công ty quản lý quỹ phải bảo đảm vốn kinh doanh dành cho hoạt động đầu tư tài
chính của Công ty phải là từ nguồn vốn thực góp của Công ty, không bao gồm các
nguồn vốn vay, vốn ủy thác hoặc vốn chiếm dụng từ các tổ chức, cá nhân khác.
Quy chế này cũng đã đưa ra các quy định khá cụ thể vể điều kiện được cấp phép
thành lập và hoạt động của Công ty quản lý quỹ. Cụ thể là, để được cấp Giấy phép
thành lập và hoạt động, Công ty quản lý quỹ phải có quyền sử dụng trụ sở Công ty
thời hạn tối thiểu 1 năm và trang thiết bị phục vụ hoạt động nghiệp vụ, bảo đảm an
toàn, an ninh cho trụ sở làm việc của Công ty; Công ty quản lý quỹ, công ty quản lý
quỹ có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt
Nam phải có vốn điều lệ thực góp tối thiểu là 25 tỷ đồng Việt Nam.
Đồng thời, Công ty Quản lý quỹ phải đảm bảo có đủ số lượng nhân viên có Chứng
chỉ hành nghề quản lý quỹ theo phương án kinh doanh, trong đó tối thiểu phải có 5
nhân viên được cấp Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ tại trụ sở chính,
Về điều kiện tài chính đối với cổ đông, thành viên góp vốn, Quy chế này quy định:
Các cá nhân, tổ chức tham gia góp vốn thành lập Công ty quản lý quỹ chỉ được
phép sử dụng vốn của chính mình, không bao gồm các nguồn vốn ủy thác đầu tư,
vốn chiếm dụng từ các cá nhân, tổ chức khác. Đối với trường hợp cổ đông, thành

lĩnh vực này gọi là lĩnh vực đầu tư có điều kiện. Có 14 lĩnh vực trong đó có ngân
hàng, bảo hiểm, viễn thông, các dịch vụ liên quan đến tài chính, hàng hải, quảng
cáo, kinh doanh bất động sản được quy định hạn chế đối với nhà đầu tư nước
ngoài. Những lĩnh vực này hoàn toàn phù hợp với cam kết của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) cũng như trong hiệp định song phương. Lĩnh vực ngân hàng
liên quan đến đầu tư tài chính thì Việt Nam phải nắm một phần để đảm bảo an ninh
tài chính nên phải hạn chế tỷ lệ tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 11
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
3.1.2. Quy chế về nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phiếu
của các ngân hàng thương mại Việt Nam:
Ngày 20-4-2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2007/NĐ-CP về việc nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Căn cứ pháp lý dựa trên:
- Các cam kết quốc tế của Việt Nam: Cam kết với WTO, Hiệp định thương
mại Việt – Mỹ (BTA), các hiệp định song phương, đa phương với các nước.
- Luật tổ chức chính phủ, Luật các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng nhà nước
Việt Nam, Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán.
Theo đó, quy định: Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao
gồm cả cổ đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư
nước ngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.
i. Nội dung cụ thể:
Nghị định này quy định việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân
hàng thương mại Việt Nam (sau đây gọi tắt là ngân hàng Việt Nam) chưa
được niêm yết chứng khoán.
Khi ngân hàng Việt Nam niêm yết chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài
được mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam theo các quy định của pháp luật
về chứng khoán và thị trường chứng khoán và phải tuân thủ tỷ lệ sở hữu cổ
phần quy định tại Điều 4 Nghị định này.

định.
“Người có liên quan của một tổ chức, cá nhân” bao gồm:
a) Công ty mẹ của tổ chức đó, công ty có cùng công ty mẹ với tổ chức đó;
b) Người hoặc tổ chức quản lý công ty mẹ, người hoặc tổ chức có thẩm quyền bổ
nhiệm người quản lý công ty mẹ của tổ chức đó;
c) Công ty trực thuộc hoặc công ty con của tổ chức đó;
d) Người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, người hoặc tổ chức có thẩm quyền
bổ nhiệm người quản lý của tổ chức đó;
đ) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên
của tổ chức đó;
e) Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị em ruột (và vợ,
chồng của những người này) của người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, cổ
đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên của tổ chức đó;
g) Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột (và
vợ, chồng của những người này) của cá nhân đó;
h) Cá nhân được uỷ quyền đại diện cho những người quy định tại các điểm a, b,
c, d, đ, e và g khoản này đối với chính những người uỷ quyền và đối với người
liên quan của người uỷ quyền và người được uỷ quyền.
iii. Nguyên tắc sở hữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài:
Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả cổ đông
nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nước ngoài đó
không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.
Mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài không phải là tổ chức tín
dụng nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó không vượt
quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.
Mức sở hữu cổ phần của một tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan
của tổ chức tín dụng nước ngoài đó không vượt quá 10% vốn điều lệ của một
ngân hàng Việt Nam.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 13

phải đáp ứng đủ các điều kiện: có tổng tài sản có tối thiểu tương đương 20 tỷ
USD vào năm trước năm đăng ký mua cổ phần; có kinh nghiệm hoạt động quốc
tế trong lĩnh vực ngân hàng; được các tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng
ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động bình thường ngay
cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi; đối
với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, ngoài các điều kiện quy định trên, phải có
văn bản cam kết về việc hỗ trợ ngân hàng Việt Nam trong việc phát triển sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ
hiện đại…
Bên cạnh đó, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan chỉ được
phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 14
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 5 năm kể từ khi trở thành là nhà đầu tư
chiến lược nước ngoài tại một ngân hàng Việt Nam.
3.2 QUY CHẾ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Ngày 11-3-2003, Chính phủ ban hành Quyết định 36/2003 về quy chế góp vốn,
mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam. Quy chế
nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, đồng thời huy động vốn,
công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài và mở rộng thị
trường, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Mức góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài ở doanh nghiệp Việt
Nam theo Điều 3 Quy chế này tối đa bằng 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp Việt
Nam.
Quyết định 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị
trường chứng khoán Việt Nam
Quyết định này thay thế Quyết định số 146/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm
2003 của Thủ tướng Chính phủ. Nội dung:

- Tổng số vốn đầu tư FDI vào VN đã vượt con số 70 tỷ USD (lũy kế đến cuối
năm 2006)
- Chỉ riêng trong năm 2006: hơn 10 tỷ USD.
- Dự kiến FDI vào VN trong năm 2007 dự kiến đạt 12 tỷ USD (vượt so với năm
2006 tới 17,6%): Chỉ tính riêng từ đầu năm tới nay, vốn FDI đăng ký mới đã
vượt 3 tỷ USD, tăng trên 20% so với cùng kỳ 2006. Trong đó phải kể đến
Foxconn, tập đoàn đứng thứ 150 trong số 500 tập đoàn, công ty lớn nhất thế
giới với tổng vốn trên 70 tỷ USD, dự kiến vào VN với quy mô vốn đầu tư tới 5
tỷ USD, xây dựng 1 thành phố chuyên sản xuất các sản phẩm thuộc lĩnh vực
điện tử, công nghệ cao. Tiếp đó là dự án nhiệt điện Kiên Giang có tổng vốn
khổng lồ, tới 4 tỷ USD và một dự án tại Nha trang trên 3 tỷ USD. Cả 2 dự án
này đều sẽ được cấp phép trong năm 2007. Bộ KH - ĐT cũng cho biết hàng loạt
các dự án khác như ALCOA và VINACOMIN: 1,5 tỷ USD; Dự án thép tại Hà
Tĩnh: 3,2 - 3,5 tỷ USD; Dự án điện BOT Mông Dương 2 của Tập đoàn AES: 1,4
- 1,5 tỷ USD cũng đều là các dự án FDI với số vốn chưa từng có từ trước tới
nay.
1.2 Tiềm năng to lớn của thị trường vốn Việt Nam đối với đầu tư gián
tiếp:
Theo phân tích của giới chuyên gia, thị trường vốn của Việt Nam có thể huy động
100.000 tỉ đồng đối với trái phiếu Chính phủ; 100.000 tỉ đồng đối với trái phiếu
doanh nghiệp; 150.000 tỉ đồng đối với chương trình cổ phần hoá của Nhà nước và
có thể huy động 100.000 tỉ đồng trong các doanh nghiệp.
Như vậy, thị trường vốn Việt Nam có thể cung cấp một con số 30 tỉ USD, tăng hơn
20% so với kế hoạch đặt ra cho 5 năm tới, đó là một sự đóng góp khá lớn không chỉ
về lượng mà về chất.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 16
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện cổ phần hoá (CPH). Hàng
loạt công ty lớn của Nhà nước như Bảo Việt, VNPT, EVN khi CPH sẽ cung cấp

nhiệm quốc tế Moody’s và S&P đã xác định hệ số tín nhiệm của Việt Nam là tích
cực (Ba3 và BB)
Ngày 4/11/2005 Singapore chính thức thông báo trái phiếu chính phủ Việt Nam
được đăng ký và niêm yết tại Sở GDCK Singapore. Lãi suất thực trả của lọai trái
phiếu 10 năm là 7,125%/năm tính theo lãi suất cố định.Ngày 3/11/2005 750 triệu
USD tiền bán trái phiếu đã được chuyển về VN để đầu tư cho Vinashin thực hiện
dự án đóng tàu cho các nước trên thế giới.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 17
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
1.3.2. Đầu tư gián tiếp của tư nhân nước ngòai vào Việt Nam
Đây là khỏan đầu tư thông qua một định chế tài chính trung gian (qũy đầu tư )
hoặc đầu tư mua cổ phần trực tiếp của các công ty đang được niêm yết trên thị
trường chứng khóan.
Mặc dù TTCK tại Việt Nam còn rất non trẻ, khai trương ngày 20/7/2000 và thực
hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000 nhưng đã thể hiện là một kênh
huy động vốn tích cực cho các doanh nghiệp. TTCK VN ngày càng được các nhà
đầu tư nước ngòai, công ty quản lý qũy nước ngòai quan tâm.
Hiện nay có 55 công ty CK, 26 Quỹ đầu tư và 18 công ty quản lý Quỹ đang họat
động trên thị trường chứng khóan Việt Nam.
i. Họat động của các Công ty chứng khóan:
Hiện nay 55 công ty chứng khóan họat động trên thị trường CKVN dưới sự quản lý
của 2 trung tâm giao dịch CK: TTGDCK TP.HCM và TTGDCK Hà Nội.
Tính đến cuối năm 2006, tổng giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu tăng gần 20
lần với khối lượng giá trị tương đương 22,7% GDP, đây là một kỷ lục của sự bùng
nổ. Số lượng các công ty niêm yết trên cả 2 thị trường tăng vọt lên 5 lần 193 công
ty năm 2006 so với 41 công ty năm 2005.
Tại TTGD CK TP.HCM cuối năm 2006, tổng giá trị niêm yết của hơn 80 lọai cổ
phiếu đạt hơn 12.000 tỷ đồng, nếu tính theo giá thị trường hay mức độ vốn hóa thì
đạt đến 150.000 tỷ đồng tương đương 9 tỷ USD. Bình quân doanh số mua bán hàng

tăng gấp 30 lần từ khi mới thành lập (năm 1996) đến nay. Riêng tổng giá trị cổ
phiếu Ngân hàng ACB do VEIL sở hữu tăng gấp 10 lần, từ 8 triệu USD lên tới 80
triệu USD trong vòng 10 năm qua.
Vietnam Opportunity Fund (VOF) của Vinacapital tuy bắt đầu hoạt động tại Việt
Nam từ tháng 9/2003, nhưng đến nay, Quỹ có quy mô vốn gần 250 triệu USD.
VOF đã đầu tư hơn 100 triệu USD vào Việt Nam, trong đó khoảng 54 triệu USD
được rót vào thị trường OTC. VOF hiện còn dành hơn 86,1 triệu USD cho những
khoản đầu tư mới. Những quỹ đầu tư nhỏ hơn lại có chiến lược đầu tư riêng.
Mekong Enterprise Fund (MEF) là một thí dụ. Ra đời từ tháng 4/2002 với quy mô
vốn 18,5 triệu USD và do Công ty Mekong Capital quản lý, đối tượng đầu tư mà
MEF nhắm tới là những công ty gia đình vừa và nhỏ, có kết quả kinh doanh tốt và
có khuynh hướng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Đến nay, MEF đã đầu
tư vào hơn 10 doanh nghiệp, với tổng số vốn khoảng 14 triệu USD.
Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2007 đến nay, đã có tới 6 quỹ đầu tư nước
ngoài được thành lập để đón bắt các cơ hội đầu tư vào Việt Nam. Yếu tố hấp dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào TTCK Việt Nam là khoản lợi nhuận kếch xù
có được từ thị trường này từ năm ngoái đến nay. Tính trung bình, một quỹ đầu tư
đầu tư vào Việt Nam trong vòng 1 năm trở lại đây đều có thể mang về cho các cổ
đông mức lợi nhuận cao gấp khoảng 2 lần vốn đầu tư.
Ngoài các quỹ đầu tư nước ngoài, hiện tại, các công ty quản lý quỹ đầu tư trong
nước có quy mô lớn như VietFund Management, Công ty Quản lý Quỹ Prudential
Vietnam, các công ty quản lý quỹ thuộc các ngân hàng thương mại lớn như
Vietcombank, BIDV… đều đang có chiến lược mở rộng hoạt động nhằm đón bắt
những cơ hội lớn trên thị trường trong thời gian tới. Đây cũng chính là những yếu
tố góp phần tạo nên "sức bật" lớn cho TTCK Việt Nam thời gian tới.
iii. Họat động của các nhà đầu tư lẻ
Số lượng các nhà đầu tư chứng khóan tham gia thị trường tăng theo cấp số nhân
trong thời gian qua. Đến hết năm 2006, số tài khỏan giao dịch đã đạt hơn 100.000,
gấp 3 lần so với cuối năm 2005 và gấp 30 lần so với khi mới thành lập thị trường.
Trong đó có 1.700 tài khoản của các nhà đầu tư nước ngòai, gồm cả những nhà đầu

đầu tư nước ngoài; mức độ tự do hoá và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính
và sự thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi
trường đầu tư trong nước; sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ
kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu
tư v.v Nhưng khác với FDI, vốn đầu tư gián tiếp quốc tế chịu ảnh hưởng trực tiếp
mạnh hơn từ phía các nhân tố, như sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng
khoán, chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và nhà nước phát
hành, cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính; sự
đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước hết là
các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ đầu tư đại
chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển và chất lượng của hệ
thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ
tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán; Đặc
biệt, vốn đầu tư gián tiếp quốc tế sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ
thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp
nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang
hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỉ lệ nắm giữ cổ
phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 20
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
2.2 Tác động của đầu tư gián tiếp quốc tế nói chung:
2.2.1. Tác động tích cực
i. Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
- Đây là kênh huy động vốn quan trọng từ nước ngoài, tiếp thu vốn dưới nhiều
quy mô
- Vốn đầu tư tiếp nhận bằng tiền nên để sử dụng theo mục đích của mình
- Nhà đầu tư không can thiệp vào quá trình hoạt động của dự án.
ii. Đối với chủ đầu tư:
- Dễ bán, dễ chuyển nhượng để thay đổi mục đích đầu tư

riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung
Việc gia tăng và phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp quốc tế sẽ làm cho thị
trường tài chính (đặc biệt là thị trường chứng khóan) Việt Nam trở nên đồng bộ,
cân đối và sôi động hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng,
thậm chí đơn điệu, kém hấp dẫn kéo dài của thị trường này trong thời gian qua.
Hơn nữa, đi kèm với sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế này là sự phát
triển các định chế và dịch vụ tài chính - chứng khoán, đó là các loại quỹ đầu tư,
công ty tài chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư
vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh…bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông
tin thị trường, đồng thời còn kéo theo sự gia tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các
nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên thị trường chứng khóan Tất cả
những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận
và tổng thể thị trường tài chính nói riêng, các thể chế và cơ chế thị trường nói
chung trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam.
iii. Góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hoá phương thức đầu
tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông
đảo người dân.
Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp cả bề rộng lẫn bề sâu sẽ mang lại
những cơ hội mới và sự đa dạng hoá trong lựa chọn các phương thức đầu tư cho các
nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài và trong nước. Đông đảo các nhà đầu tư nước
ngoài và cả trong nước sẽ có thêm điều kiện lựa chọn sử dụng vốn của mình để đầu
tư dưới các hình thức trực tiếp tự mình hay thông qua các định chế tài chính trung
gian để mua - bán các cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán có giá khác của Việt
Nam trên thị trường tài chính trong nước và nước ngoài. Việc đầu tư này sẽ cho
phép họ thu nhận được lợi nhuận từ sự chênh lệch giá cả khi mua - bán chứng
khoán, cũng như từ lãi suất và cổ tức các chứng khoán mà họ sở hữu theo thoả
thuận hoặc thực tế kết quả kinh doanh của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phát
hành chứng khoán đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cải thiện thu nhập, mức
sống của đông đảo các nhà đầu tư là người dân, tuỳ theo lượng vốn và kỹ năng đầu
tư chứng khoán mà họ có. Hơn nữa, thông qua quá trình tham gia đầu tư gián tiếp

nước ngoài
Khác với FDI là nguồn vốn đầu tư lâu dài chủ yếu dưới dạng vật chất (nhà máy,
mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất), khó chuyển đối
hoặc thanh khoản, vốn đầu tư gián tiếp quốc tế được thực hiện dưới dạng đầu tư tài
chính thuần tuý với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản
cao trên thị trường tài chính, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và
nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về
nước, hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tuý theo kế
hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình. Đặc trưng nổi bật này cũng chính là
nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuếch đại độ nhạy cảm và chấn
động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế đối với nền kinh tế
của nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt khi việc chuyển đổi và rút vốn đầu tư gián tiếp
nói trên diễn ra theo kiểu "tháo chạy" đồng loạt trên phạm vị rộng và số lượng. Sự
nhạy cảm và bất ổn kinh tế có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong, cũng có
thể hoàn toàn do các nguyên nhân bên ngoài nước tiếp nhận đầu tư do phản ứng
dây chuyền, làn sóng đô-mi-nô của các nhà đầu tư quốc tế như đã từng diễn ra
trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á những năm cuối thập kỷ 90 của
thế kỷ trước. Trong tình huống như vậy, cuộc khủng hoảng đầu tư - tài chính - tiền
tệ hay khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư, nếu không
có và triển khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả.
Đầu tư quốc tế gián tiếp: Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam
Nhóm1 – Cao học Thương Mại K15 Trang 23
GV hướng dẫn: GS-TS.Võ Thanh Thu
ii. Làm gia tăng nguy cơ bị mua lại, sáp nhập, khống chế và
lũng đoạn tài chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát
hành chứng khoán
Sự gia tăng tỷ lệ nắm giữ chứng khoán, nhất là các cổ phiếu, cổ phần sáng lập,
được biểu quyết của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài đến một mức "vượt
ngưỡng" nhất định nào đó sẽ cho phép họ tham dự trực tiếp vào chi phối và quyết
định các hoạt động sản xuất - kinh doanh và các chủ quyền khác của doanh nghiệp,

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ QUẢN LÝ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TTCK VIỆT NAM.
1. NHỮNG HẠN CHẾ CHỦ YẾU CẦN KHẮC PHỤC ĐỂ HẤP DẪN
DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP QUỐC TẾ ĐỔ VÀO VIỆT NAM:
Nếu thu hút FDI có đóng góp cho ngành công nghiệp sản xuất, tăng kim ngạch
xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho người Việt nam nhưng lại không tác động
được tới các doanh nghiệp Việt nam thì thu hút FII có thể giúp vốn cho doanh
nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh
tranh. Do vậy, FII rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước đang thiếu
vốn.
Dòng vốn FII vào Việt nam tuy đã tăng trở lại sau cuộc khủng hoảng tài chính khu
vực nhưng vẫn đứng ở mức thấp so với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Cụ thể, năm 2002 chiếm 1,2%, năm 2003 lên 2,3% và đạt 3,7% vào năm 2004.
Trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan, Malaysia và Trung quốc vào khảong 30-40%.
Và so với FDI, tỷ lệ FII này khá khiêm tốn, chỉ bằng 2-3%.
Trước hết, để hiểu rõ vì sao trong thời gian qua, dòng vốn đầu tư FII đổ vào Việt
nam lại quá khiêm tốn như vậy, chúng ta cần tìmhiểu bản chất của nguồn FII là gì.
Như nhiều người đã biết, dòng vốn FII được các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp sử
dụng để lập nên doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nứớc ngoài,
còn nguồn vốn FDI lại được nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt nam thông qua
cáac quỹ đầu tư hay qua thị trường chứng khoán mua cổ phần của doanh nghiệp
Việt nam. Mặc dù hiện nay chính phủ đã nâng mức sở hữu cho các nhà đầu tư nước
ngoài lên đến 49% đối với cổ phiếu niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường
chứng khoán , nhưng một pháp nhân nước ngoài khi đầu tư vào một doanh nghiệp
thường không mua quá 30% vốn, nên doanh nghiệp được đầu tư vẫn là doanh
nghiệp Việt nam. Sự đầu tư này chủ yếu mang tính hỗ trợ về tài chính và quản trị
hơn là can thiệp vào công việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện có nhiều nhược điểm cản trở dòng vốn FII đổ vào Việt nam. Điều quan trọng

Qua thực tế cho thấy vốn FII vào Việt nam còn rất thấp, nguyên nhân từ cả hai phía
nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước chưa có một hệ thống chính sách rõ ràng,
minh bạch đối với FII. Các qui định về công ty cổ phần, cổ phần hóa DNNN hiện
hành vẫn chủ yếu nhằm vào giao dịch giữa các công ty, tổ chức và người Việt nam
chăm lo bảo vệ lợi ích nhà nước và người lao động trong doanh nghiệp hơn là quan
tâm đến lợi ích và quyền của nhà đầu tư chuyên nghiệp/chiến lược. Còn doanh
nghiệp thì không có động lực thu hút vốn FII và sợ tuột mất quyền quản lý, sở hữu
doanh nghiệp và tài sản của mình. Nhà nước vẫn còn dè dặt trong việc phát triển thị
trường vốn và các dịch vụ tài chính ở Việt nam…. Do vậy, nhà nước cần ban hành
chính sách chính sách rõ ràng về thu hút FII như một chiến lược trong phát triển
kinh tế thị trường ở Việt nam, đưa FII vào thành một bộ phận của Luật đầu tư
mới, được coi trọng, hoan nghênh. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kế
toán, kiểm toán, thuế (và hành thu thuế), thanh tra kiểm tra doanh nghiệp theo
hướng công khai, minh bạch…. Thúc đẩy cải cách hệ thống ngân hàng và các tổ
chức tín dụng, phát triển thị trường chứng khoán …. Chúng ta cần thực hiện
nghiêm túc các cam kết quốc tế trong các lĩnh vực phát triển thị trường vốn và các
dịch vụ liên quan.
2. PHÁT HUY NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐỂ THU HÚT NGUỒN
VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI:
Từ năm 1995 đến 2005, nền kinh tế của Việt nam đã tăng trưởng ổn định và cao
hơn những nền kinh tế khác trong khu vực bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính-
tiền tệ tại châu Á xảy ra trong các năm 1997-1998. Việt nam đã không bị tác động
tiêu cực của cuộc khủng hoảng này vì chưa hội nhập đủ để bị ảnh hưởng. Bên cạnh
đó, Chính phủ Việt nam đã có những giải pháp kịp thời và đúng đắn.

Trích đoạn Đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước Củng cố và phát triển công ty chứng khoán Nghiên cứu và sử dụng các giải pháp kỹ thuật theo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status