Trái phiếu quốc tế, tổng quan, thực trạng và giải pháp tại Việt Nam - Pdf 61

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay nền kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng, vị thế của các nước dần
thay đổi bởi tốc độ phát triển của các quốc gia mới nổi, nơi mà nền kinh tế hứa hẹn
những cơ hội đầu tư tiềm năng. Với những lợi thế chưa được khai thác như nguồn tài
nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào đang được đào tạo chuyên
nghiệp và hoàn thiện hơn và nhu cầu về vốn đang được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, các
quốc gia đang phát triển luôn luôn tìm mọi cách để thu hút và sử dụng có hiệu quả
các nguồn vốn huy động được. Ngoài nguồn vốn huy động trong nước, các quốc gia
tìm mọi cách để thú hút nguồn vốn bên ngoài.
Trong khi đó, thị trường cổ phiếu quốc tế thời gian qua đang chao đảo trước sự sụt
giảm liên tục của hàng loạt các chỉ số lớn và việc giảm điểm liên tục trong các phiên
giao dịch tại các trung tâm giao dịch lớn như New York, Tokyo, Hồng Kông. Bên cạnh
đó, cơn bão khủng hoảng tài chính do các biến động trong thị trường tài chính thứ cấp
bắt đầu từ Mỹ đã lan ra một số nền kinh tế khác kéo theo chỉ số niềm tin vào thị trường
chứng khoán thế giới nói chung sụt giảm nghiêm trọng. Thị trường chứng khoán xuống
dốc là một khó khăn cực kỳ to lớn đối với những công ty, những tổ chức tài chính muốn
thông qua thị trường này để huy động vốn cho các dự án đầu tư của mình. Phát hành cổ
phiếu lúc này trở nên một quyết định nhiều rủi ro khiến các công ty đau đầu. Chính lúc
này thì thị trường trái phiếu tỏ ra là một lựa chọn thích hợp, đặc biệt là thị trường trái
phiếu quốc tế do những ưu điểm của thị trường này đem lại cho nhà đầu tư và những tồ
chức muốn huy động vốn.
Việt nam là một nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ nên nhu cầu về vốn để đầu tư
phát triển là rất cao. Trong bối cảnh này, phát hành trái phiếu quốc tế là một kênh huy
động vốn hiệu quả mà Chính phủ và các doanh nghiệp nên tìm hiểu và tận dụng để
phục vụ cho nhu cầu phát triển, nhưng nhìn chung thì loại hình này còn khá mới mẻ do
đó thông qua đề tài này hướng mọi người có cái nhìn cận cảnh hơn về các lần phát hành
trái phiếu quốc tế của Việt nam và hướng phát triển trong tương lai.
Chương 1: Khái quát chung về trái phiếu quốc tế.
1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của thị trường trái phiếu quốc tế
1.1.1 Khái niệm và phân loại
Theo cách phân loại cơ bản thì thị trường trái phiếu quốc tế gồm có thị trường

Mỹ(USD).
1.1.1.2 Thị trường trái phiếu nước ngoài (Foreignbond)
Là thị trường mua bán trái phiếu do người không cư trú (chính phủ, các công ty
nước ngoài) phát hành tại một nước ghi bằng đồng tiền nước đó để thu hút vốn từ các
nhà đầu tư nội địa. Ví dụ: Công ty BP (Anh) phát hành trái phiếu bằng đồng Yên ở Sở
giao dịch chứng khoán Tokyo, hay như Chính phủ Trung Quốc đã có 2 đợt phát hành
trái phiếu Chính phủ trên thị trường chứng khoán New York vào năm 1994 với tổng
mức phát hành hơn 1 tỷ USD, hoặc giả như là trường hợp Đan Mạch quyết định phát
hành trái phiếu bằng đồng Sterling ở thị trường chứng khoán Luân Đôn. Tất cả các loại
trái phiếu trên là trái phiếu nước ngoài.
Có mười lăm thị trường trái phiếu nước ngoài trên thế giới (xem phụ lục), ví dụ
như Thị trường trái phiếu Yankee của Mỹ, Samurai của Nhật, Bulldog của United
Kingdom. Đó là trái phiếu trên các thị trường trái phiếu công khai của các quốc gia kể
trên. Ngoài ra, còn có các thị trường không công khai, nơi mà nhà phát hành trái phiếu
không cần phải đăng ký với sở giao dịch và có thể được bán trực tiếp cho nhà đầu tư.
Tuy nhiên, thị trường này có quy mô nhỏ và số lượng các nhà đầu tư tham gia cũng ít
hơn.
1.1.2 Đặc điểm
1.1.2.1 Thị trường Trái phiếu Châu Âu
Ích lợi chính của thị trường trái phiếu Châu Âu là tương đối ít bị điều chỉnh, thu
nhập từ thị trường này phần lớn không phải chịu thuế và việc phát hành chứng khoán
mang tính linh hoạt hơn so với thị trường nội địa.
Về loại đồng tiền thanh toán, doanh số phát hành trái phiếu Châu Âu bằng dollar
là lớn nhất (trong năm 1996, trái phiếu châu Âu ghi bằng USD chiếm 43,78% trên tổng
số phát hành), tiếp theo là Bảng Anh, Mác Đức, Yên Nhật, và đơn vị tiền tệ của Châu
Âu ECU (European Currency Unit).
Hầu hết các Eurobond được phát hành bởi những tổ chức có hệ số tín nhiệm cao,
ví dụ hệ số AAA và AA chiếm tới gần 80% tổng số các đợt phát hành. Những nhà phát
hành Eurobond tích cực nhất là các chính phủ, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế
giới, Ngân hàng đầu tư Châu Âu và các công ty đa quốc gia. Một số nhà phát hành

Đối với việc phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế phải tuân thủ
các quy định trong Luật Quản lý nợ công còn phải có đề án phát hành trái phiếu được
Chính phủ phê duyệt. Giá trị phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế phải
nằm trong tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài của Chính phủ hàng năm và phù
hợp với chiến lược quản lý nợ công, chương trình quản lý nợ trung hạn được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt.
Quy trình của việc phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế do Bộ
Tài chính là cơ quan đảm nhận phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ. Việc phát
hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
+ Đầu tiên việc phát hành trái phiếu từ thị trường vốn quốc tế phải được sử dụng
cho các chương trình, dự án sử dụng vốn từ phát hành trái phiếu quốc tế được xác định
là trọng điểm quốc gia; ngoài ra còn dùng cho các chương trình, dự án đầu tư có hiệu
quả, đã hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định
của pháp luật có liên quan góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt nam.
+ Bộ tài chính trình đề án phát hành trái phiếu lên Chính phủ. Sau khi đề án phát
hành được Chính phủ thông qua thì Bộ tài chính là cơ quan được Chính phủ giao cho
nhiệm vụ thực hiện đề án phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế.
+ Căn cứ vào tình hình thực tế, trình tự phát hành trái phiếu theo một số bước
cơ bản như sau:
• Để nâng cao mức tín nhiệm của chủ thể phát hành trong quá trình tiếp cận nguồn
vốn, cần thiết phải có người bảo lãnh phát hành. Thông thường Bộ tài chính sẽ
lựa chọn các tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành: lựa chọn một hoặc một số
tổ chức tài chính, tín dụng đầu tư quốc tế hàng đầu trên thế giới, có kinh nghiệm
trong lĩnh vực phát hành trái phiếu để bảo lãnh phát hành cho đợt phát hành trên
cơ sở chào thầu cạnh tranh theo các tiêu chí cụ thể và danh sách các tổ chức do
các tạp chí uy tín quốc tế bình chọn. Đây có thể là một tập đoàn tài chính hoặc
một ngân hàng đầu tư có uy tín, có kinh nghiệm trên thị trường vốn quốc tế, đã
từng giúp một quốc gia trong khu vực phát hành. Việc lựa chọn sẽ thông qua
phương thức đấu thầu cạnh tranh để đảm bảo có lợi nhất cho chính phủ phát
hành. Vì vậy các định chế tài chính quốc tế hoặc các ngân hàng lớn sẽ là tổ chức

hành theo đúng các thỏa thuận đã ký;
• Hoàn tất giao dịch phát hành: sau khi nhận tiền bán trái phiếu, Bộ Tài chính hoàn
tất và ký kết các văn bản pháp lý kết thúc giao dịch phù hợp với thông lệ quốc tế,
đồng thời báo cáo kết quả phát hành theo các quy định hiện hành
1.3. Mục tiêu của phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế:
• Góp phần bổ sung nguồn lực tài chính trung và dài hạn, góp phần thúc đẩy sự
tăng trưởng và ổn định kinh tế của các nước
• Đáp ứng khả năng thanh toán của các chủ thể khác nhau khi tham gia vào các
hoạt động tài chính quốc tế
• Góp phần hình thành và phát triển hệ thống thị trường tài chính quốc tế
• Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương
theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
• Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ;
• Cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại
theo quy định của pháp luật;
• Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh được phát hành để đầu tư cho các chương
trình, dự án: Chương trình, dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính
phủ quyết định chủ trương đầu tư, bao gồm cả phương án tái cơ cấu nợ của các
chương trình dự án này; Chương trình, dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án
trong lĩnh vực năng lượng khai thác, chế biến khoáng sản hoặc sản xuất hàng
hóa, cung ứng dịch vụ xuất khẩu do Thủ tướng Chính phủ quyết định phù hợp
với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Chương trình, dự án
thuộc lĩnh vực, địa bàn được nhà nước khuyến khích đầu tư theo quyết định của
Thủ tướng Chính phủ; Chương trình tín dụng có mục tiêu của nhà nước do Ngân
hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc tổ chức tài chính,
tín dụng thực hiện theo quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Chương 2: Tác động của phương thức phát hành trái phiếu quốc tế:
2.1. Tác động của phương thức phát hành trái phiếu quốc tế:
2.1.1. Cân bằng bên trong và bên ngoài đối với nền kinh tế của một nước:
2.1.1.1. Cân bằng bên trong (cân bằng giữa thị trường hàng hóa và tiền

bằng mới đạt được, thì vị trí cân bằng này sẽ thấp hơn vị trí cân bằng cũ. Và vì vậy,
nền kinh tế đã thụt lùi so với trước khi vay vốn bằng hình thức phát hành trái phiếu
quốc tế.
2.1.2. Cung cầu ngoại tệ:
Trái phiếu khác với vay nợ. Trái phiếu đưa lên giao dịch thì luân chuyển trong thị
trường. Ông nào bỏ tiền ra mua trái phiếu ngày hôm nay, ngày mai cần tiền thì bán
đi. Chứ không phải cho vay. Cho vay thì làm sao sang nợ được? Còn đây mua trái
phiếu, ngày mai nếu bí tiền thì bán đi, có người mua ngay lập tức. Bởi vì người đó
đang có nhu cầu đầu tư mà thấy lãi suất (trái phiếu) này hấp dẫn hơn lãi suất trái
phiếu kho bạc Mỹ. Hoặc giả sử muốn đa dạng hoá danh mục đầu tư, mua trái phiếu
vào...
Trái phiếu không phải là nợ mà là công cụ nợ, có thể mua bán, sang nhượng. Tính
thanh khoản khi niêm yết cao hơn hẳn việc vay nợ.
2.1.3. Ngưỡng an toàn của các khoản vay nợ nước ngoài:
Lấy ví dụ như nước ta thì giá trị trái phiếu phát hành quá bé. Nước ta vay hàng tỷ
đôla, trái phiếu chỉ có mấy trăm triệu. Hơn nữa, vay nợ để phục vụ kinh tế nói
chung, còn trường hợp này là phát hành trái phiếu phục vụ cho những dự án cụ thể
có thu nhập bằng đôla. Nên việc phát hành trái phiếu theo một vài chuyên gia thì
không ảnh hưởng đến ngưỡng an toàn của các khoản vay nước ngoài.
Tuy nhiên, huy động trái phiếu có nghĩa là chính phủ đi vay ở nước ngoài. Đã đi
vay thì phải trả mà còn phải trả với lãi suất cao. Một khoản đi vay chỉ có thể trả
được khi suất sinh lợi mà nó làm ra tối thiểu phải bằng lãi suất đi vay.
Vấn đề đặt ra đầu tiên đối với khoản vay này là phải sử dụng một cách hiệu quả. Có
nghĩa là, việc sử dụng khoản vốn này không được rơi vào vết xe đổ của các khoản
vốn vay ODA khi đi vay chỉ lãi suất tượng trưng một vài phần trăm năm, nhưng ta
phải chịu những ràng buộc để lãi suất thực phải trả cao hơn gấp nhiều lần. Hoặc rơi
tình trạng đầu tư lãng phí ngân sách hiện nay với một tỷ lệ thất thoát không thể tính
toán được .
Thế hệ này đi vay, thế hệ sau sẽ phải trả . Các khoản nợ chỉ có thể trả được khi mà
một nền tảng vững chắc được để lại. Nếu không gánh nặng nợ nần cho thế hệ sau là

chịu sự ràng buộc nào từ phía các nhà đầu tư. Đây là một ưu điểm vượt trội hơn
so với việc phát hành cổ phiếu. Nếu như các cổ đông có quyền tham gia vào các
quyết định định đầu tư cũng như cách thức sử dụng vốn, và đôi khi vì mâu thuẫn
trong lợi ích nhận được từ các quyết định đầu tư mà các cổ đông sẽ ngăn cản,
thậm chí bác bỏ các dự án đầu tư mặc dù chúng sẽ đem lại lợi nhuận cho công
ty; thì ngược lại, các trái chủ hoàn toàn đứng ngoài các quyết định này.
• Quyền quyết định khối lượng và thời hạn của trái phiếu:
Khối lượng vốn huy động và thời hạn của trái phiếu đều do tổ chức phát hành
quyết định. Điều này tỏ ra có hiệu quả tốt, nhất là trong các trường hợp phát
hành trái phiếu trung và dài hạn.
• Chi phí:
Chi phí có thể thấp hơn nếu xét về lâu dài, khi đã có được sự tin tưởng của thị
trường thì càng về sau lãi suất huy động có thể giảm. Phát hành trái phiếu quốc
tế không chỉ là một phương thức huy động vốn đơn thuần mà nó còn là một cách
khẳng định uy tín của tổ chức phát hành trên thị trường vốn quốc tế.
Quan trọng hơn nữa, nếu như các khoản nợ và lãi vay được thanh toán đúng hạn,
cũng như vốn vay được sử dụng hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao cho công ty thì
sẽ làm gia tăng uy tín và kéo theo việc nâng bậc hệ số tín nhiệm, một chỉ số rất
quan trọng mà các nhà đầu tư thường tham khảo khi muốn đầu tư vào một công
ty. Một khi công ty được đánh giá cao thì lãi suất vay cho những lần phát hành
sau sẽ giảm hơn lần trước.
• Không cần thế chấp :
Phát hành trái phiếu không đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm hay thế chấp. Điều
đó giúp các công ty chủ động hơn trong việc sử dụng tài sản của mình trong kinh
doanh.
• Công cụ quản lý nợ quốc gia :
Đối với những nước có thị trường tài chính phát triển, ngân sách nhà nước thặng
dư, trái phiếu quốc tế còn đóng vai trò là công cụ để thực hiện chính sách quản
lý nợ quốc gia. Thông qua việc phát hành mới trái phiếu ra thị trường quốc tế,
chính phủ có thể chủ động điều tiết danh mục tài sản nợ chính phủ để thực hiện

chức phát hành phải có những cam kết vay chặt chẽ với những điều khoản khắt
khe hơn để tạo lòng tin nơi các nhà đầu tư.
- Để phát hành trái phiếu quốc tế buộc phải có sự xếp hạng tín nhiệm của một
công ty xếp hạng uy tín mà chi phí cho việc mời công ty đó thường không rẻ và
việc mời các công ty xếp hạng thường là công ty nước ngoài sẽ cần nhiều thời
gian để đưa ra xếp hạng.
- Nguy cơ là chính phủ và các công ty trong nước sẽ trở nên phụ thuộc quá nhiều
vào các khoản vay nước ngoài, để né tránh những quyết định khó khăn hơn
nhưng cần thiết để củng cố hệ thống tài chính trong nước. Nếu sử dụng các
khoản vay này không hiệu quả thì các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường vốn
quốc tế thì rủi ro phải trả một cái giá khá đắt cho những khoản vay không mang
lại mấy giá trị. Bên cạnh đó, ngay cả trong giai đoạn thị trường thuận lợi thì nhà
nước vẫn phải thận trọng trong việc giữ nợ ở mức kiểm soát được để tránh
những cú sốc chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai.
- Lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế sẽ được quyết định theo thị trường quốc
tế và sẽ phản ánh mức chi phí vốn thực tế so với các nước khác. Với chính sách
kinh tế mở, hội nhập kinh tế quốc tế sản phẩm hàng hóa quốc gia cần phải cạnh
tranh trên thị trường thế giới. Lãi suất trái phiếu quốc tế sẽ phản ánh chi phí vốn
thực tế của quốc gia trên thị trường và sẽ giúp cho chính phủ cũng như các công
ty tính toán đầu tư vào các dự án có hiệu quả, đảm bảo sản phẩm có thể cạnh
tranh được trên thị trường. Đây là một bước đi chiến lược đảm bảo tính hiệu quả
và cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.
- Lãi suất có thể cao hơn lãi suất danh nghĩa của các khoản vay ưu đãi, tín dụng
xuất nhập khẩu và vay qua ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên theo dự đoán
nguồn ODA sẽ giảm trong tương lai tín dụng xuất nhập khẩu thường kèm theo
các ràng buộc đẩy phí vay lên cao, trong khi hệ thống ngân hàng không đủ đáp
ứng nhu cầu vốn trung dài hạn. Huy động vốn bằng phát hành trái phiếu quốc tế
sẽ đa dạng hóa các nguồn vốn vay, tạo kênh huy động vốn trung dài hạn, nếu
được quản lý thận trọng, hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh tài
chính quốc gia, hình thức huy động mới này sẽ tạo động lực thúc đẩy tiến trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status