Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình - Pdf 31

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và gần
70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực nông thôn có 13 triệu hộ
trong đó có khoảng 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp. Vì thế đảm bảo sinh kế
bền vững cho hộ nông dân là vấn đề được quan tâm nhiều trong nông thôn khi mà hiện
nay quá trình CNH - HĐH ngày càng diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Ngay từ Đại hội
Đảng VI (1986) Đảng và nhà nước ta đã chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp. Đến nay Việt Nam
đã có khoảng trên 150 KCN tập trung với diện tích đất tự nhiên vào khoảng 30.000ha ở
45 tỉnh thành trong cả nước, thu hút hàng nghìn dự án với tổng số vốn đầu tư lên đến
hàng trăm nghìn tỷ đồng.
Quá trình phát triển KCN đã mang lại nhiều kết quả tốt, giúp nhiều địa
phương có điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên cùng với đó là việc
thu hồi đất sản xuất đã có tác động đến đời sống của hàng ngàn hộ gia đình. Các hộ
bị thu hồi đất phần lớn là những hộ sản xuất nông nghiệp. Sau khi bị thu hồi đất, có
nhiều hộ đã được tạo điều kiện chuyển đổi sang các ngành nghề khác, nhưng cũng có
rất nhiều hộ phải đối mặt với mất việc làm. Hàng năm có khoảng 50 – 60 nghìn ha
đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, tương ứng với khoảng
1.5 lao động/hộ bị mất việc làm.Việc thu hồi đất không chỉ làm các hộ nông dân mất
đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị, các cơ hội,
nguồn thực phẩm, thu nhập của hộ gia đình và cộng đồng, gây ra sự xáo trộn xã hội.
Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất nông nghiệp, nông dân phải tìm cách kiếm
sống mới. Với trình độ dân trí có hạn, quen lao động chân tay, người nông dân đã
xoay xở như thế nào với cuộc sống mới? Có nhiều người phải đổ ra thành thị để kiếm
việc làm và đối mặt với rủi ro của cuộc sống nơi đô thị, một số ít lao động trẻ được
tuyển dụng vào làm việc trong khu công nghiệp, một số lao động tìm kiếm việc làm
tại các địa phương khác hoặc mở các dịch vụ (mở quán nước, xây dựng nhà ở cho
thuê...). Bên cạnh đó những nông dân không bị thu hồi đất cũng bị tác động đến sản
1

1.2.2 Mục tiêu cụ thể
2
- Góp phần hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về sinh kế của hộ nông dân sau
thu hồi đất để xây dựng KCN.
- Đánh giá thực trạng sinh kế và kết quả sinh kế sau thu hồi đất của hộ nông
dân xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo sinh kế cho hộ nông dân
sau thu hồi đất.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ nông dân, nguồn lực sinh kế, các hoạt
động tạo thu nhập, sự chuyển đổi nghề nghiệp sau khi mất ruộng, thu nhập và đời
sống của các hộ dân xã Đông Mỹ sau thu hồi đất.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sinh kế của hộ
nông dân sau thu hồi đất sản xuất cho xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ.
Phân tích quá trình thay đổi sinh kế và các yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của người
dân trong xã, từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục và phát triển kinh tế hộ.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại xã Đông Mỹ, thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi về thời gian:
+ Số liệu được thu thập qua 3 năm (2006 - 2008).
+ Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 08/01/2009 đến ngày 22/5/2009.
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về khu công nghiệp
Có nhiều khái niệm về khu công nghiệp, tuy nhiên có thể liệt kê một số khái
niệm sau:
KCN: là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp và cả xí nghiệp công nghiệp,

hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong thời gian tồn tại KCN.
Nguồn nhân lực chủ yếu là lao động trong nước và tại chỗ.
Được quản lý trực tiếp của Chính phủ (từ quyết định thành lập, quy hoạch
tổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm tra, kiểm soát…).
* Vai trò của xây dựng KCN
+ Thu hút vốn đầu tư trên quy mô lớn và phát triển kinh tế.
+ Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
+ Tạo nhiều việc làm cho lao động. Trong khi các nước đang phát triển dư
thừa sức lao động thì tình trạng khan hiếm nguồn lao động và giá nhân công cao ở
các nước tư bản phát triển đặt các nước này trước sự lựa chọn sử dụng lao động dồi
dào ở các nước đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, KCN là công cụ hữu hiệu thực
hiện chiến lược lâu dài về tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động cũng như sử
dụng lao động một cách hiệu quả nhất ở các nước đang phát triển.
+ Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
+ Chuyển giao công nghệ mới. Nhờ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất sẽ nâng
cao trình độ cũng như tay nghề cho công nhân, cán bộ kỹ thuật, và như vậy sẽ có một
lực lượng lao động có tay nghề cao trong sản xuất.
+ Phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm bảo sự phát triển kinh tế
xã hội trong vùng
+ Kiểm soát được vấn đề ô nhiễm môi trường. Do tập trung các cơ sở sản xuất
nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát xử lý chất thải và bảo vệ môi trường.
KCN là địa điểm tốt nhất để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các đô thị, thành
phố lớn, phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững.
5
+ Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ đô
thị hoá. Xây dựng KCN là nhân tố thúc đẩy tốc độ đô thị hoá và tác động lan toả tích
cực trong việc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
+ KCN còn có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia.
KCN là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới đặc biệt là chính sách kinh tế đối
ngoại. KCN luôn đi đầu trong việc phát triển chính sách kinh tế đối ngoại và của toàn

tăng thu nhập.
+ KCN góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương có KCN, CSHT
của địa phương phát triển, cơ sở vật chất của hộ cũng được tăng thêm nhờ số tiền đền
bù. Chuyển dịch nguồn lực lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.
+ Trình độ dân trí và ý thức cộng đồng ngày càng nâng cao hơn.
 Tác động tiêu cực:
+ Việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng KCN đã làm mất đi tài sản sinh
kế đặc biệt của nông dân là đất đai, hàng vạn lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp,
số người có công việc gắn với công nghiệp hóa tăng rất ít, nguy cơ thất nghiệp cao.
+ Tệ nạn xã hội ở địa phương có nguy cơ gia tăng do lực lượng lớn lao động ở vùng
khác vào làm việc ở KCN và tạm trú ở địa phương.
+ Giá cả lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng sẽ tăng lên do nhu cầu tăng lên.
+ Nhiều hạng mục công trình bị phá vỡ một phần do việc xây dựng KCN (như công
trình thủy lợi, nước sạch…).
+ KCN làm giảm quỹ đất nông nghiệp, từ đó làm phá vỡ môi trường tự nhiên, suy
giảm hệ động thực vật. Chất thải của KCN làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường
đất, môi trường không khí, môi trường nước (nhiều con sông bị ô nhiễm, nước sinh
hoạt cũng bị ô nhiễm). Điều đó ảnh hưởng đến đời sống của nguời dân.
+ KCN tăng làm lối sống đô thị thâm nhập vào quan hệ cộng đồng làng xã, làm
truyền thống làng xã mất dần đi.
Như vậy, việc xây dựng KCN giúp cho sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa
của địa phương cũng như của đất nước. Phát triển KCN góp phần đẩy mạnh CNH –
HĐH đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì nó cũng đưa đến
nhiều tác động tiêu cực cần khắc phục.
7
2.1.2 Khái niệm và nội dung sinh kế
2.1.2.1 Khái niệm về sinh kế
Phương pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phương pháp tiếp cận mới
trong phát triển nông thôn nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống hộ gia đình
mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn theo xu hướng bền vững và hiệu quả.

các chương trình, dự án mới, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động hiên có, sử dụng
để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử dụng cho nghiên cứu.
Một trong những điểm nổi trội của tiếp cận sinh kế là khả năng linh hoạt và khả năng
áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống.
Chiến lược sinh kế là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm
những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các
nguồn lực vật chất và phi vật chất của hộ (Seppala, 1996). Để duy trì hộ, hộ gia đình
thường có các chiến lược sinh kế khác nhau, theo (Seppala, 1996) chiến lược sinh kế
có thể chia làm 3 loại:
Chiến lược tích luỹ: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng và có
thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ và giàu có.
Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu
nhập, những ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và an sinh xã hội.
Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập
chỉ để tồn tại mà không tích luỹ.
2.1.2.2 Khung sinh kế bền vững
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế
của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng. Nó có thể sử dụng để lên
kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền
vững sinh kế của những hoạt động hiện tại. Cụ thể là:
- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên hệ
giữa những thành phần này.
- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng.
- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh
hưởng tới sinh kế.
Khung sinh kế bền vững có dạng như sau:
9
Sơ đồ 2.1: Khung sinh kế bền vững
Chú thích: N (Natural Capital): Nguồn lực tự nhiên
H (Human Capital): Nguồn lực con người

còn sử dụng các kỹ
năng sản xuất nông
nghiệp vốn có.
- Nhận số tiền đền bù
lớn
CƠ SỞ NGUỒN
LỰC CỦA HỘ
CÁC LỰA CHỌN
CỦA HỘ
- Các hoạt động tạo
thu nhập
- Xây dựng năng
lực
- Các lựa chọn khác
được xem như quá
trình điều chỉnh và
thích ứng sau sốc
Các tài sản
(N, H, P,
F, S)
CƠ HỘI
10
CÁC CHÍNH SÁCH VÀ XU
HƯỚNG KINH TẾ VĨ MÔ
Rủi ro và các rào cản khác
Nguồn: Tham
khảo từ tài liệu
của ĐFI, 1999
- Những thể chế, những chính sách và tổ chức định hình cho các loại hình tài
sản sinh kế của người dân.

Một số ví dụ về các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản và sinh kế của con người:
- Xu hướng: xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột, xu hướng
kinh tế quốc gia, quốc tế, những xu hướng thể chế (bao gồm chính sách, những xu
hướng kỹ thuật...).
- Cú sốc: cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh cây
trồng vật nuôi...
- Tính thời vụ: biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc.
Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có tác
động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ mở
ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi.
b, Những tài sản sinh kế
Tiếp cận sinh kế cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người. Nó cố gắng
đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người (tài sản hoặc
tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích.
Sơ đồ 2.2: Tài sản sinh kế của người dân
Nguồn:
Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những
sinh kế: Nguồn vốn con người, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật
thể, nguồn vốn tài chính.
- Nguồn vốn nhân lực
Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ
con người. Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm
12
kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia
đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn. Những
thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo
vệ sức khoẻ.
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai. Nó được xem là nền
tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập.
Điều gì có thể tạo nên vốn con người cho người dân ở nông thôn?

quan hệ đơn giản này các tiến trình và cấu trúc trở thành sản phẩm của nguồn vốn xã hội.
Mối quan hệ này đưa ra hai con đường và có thể làm cho nó phát triển hơn.
VD: + Khi người ta sẵn sàng liên kết các tiêu chuẩn và mệnh lệnh thông
thường chúng có thể làm cho việc hình thành các hoạt đông mới dễ dàng hơn để theo
đuổi các mối quan tâm của họ.
+ Những người có địa vị trong xã hội giúp chúng ta gọt giũa các chính
sách và bảo đảm rằng các mối quan tâm của họ được thể hiện trong luật pháp.
Làm gì để tạo ra nguồn vốn xã hội cho người dân nông thôn?
Hầu hết những nỗ lực xây dựng vốn xã hội đều tập trung vào các thể chế địa
phương, ngay cả hoạt động trực tiếp (thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn luyện
đào tạo hay phân phối các nguồn lực) hoặc gián tiếp thông qua việc tạo ra một môi
trường dân chủ thông thoáng.
Trong khi việc trao quyền cho các nhóm có thể xem như một mục tiêu chính,
vốn xã hội có thể được xem là sản phẩm phụ trong các hoạt động khác (tham gia
nghiên cứu sự hình thành nên các nhóm để phát triển và kiểm tra các công nghệ có
khả năng nâng cao đời sống của họ). Thông thường, những biến động gia tăng nguồn
vốn xã hội được theo đuổi cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác. Do đó cần gắn
chặt trách nhiệm của các tổ chức tiết kiệm và tín dụng vào nguồn vốn xã hội. Cũng
như việc kết hợp quản lý các tai hoạ cần phải dựa vào việc kết nối các hành động để
hạn chế chúng.
- Nguồn vốn tự nhiên
Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên. Nó
cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người. Có rất
nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên. Từ các hàng hoá công vô hình như
không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực
tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng...
14
Trong khung sinh kế bền vững. Mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và các
tổn hại có sự gắn kết thực sự. Nhiều thảm hoạ tàn phá kế sinh nhai của người nghèo
thường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháy

• Hoạt động nhỏ một nhà cung ứng trực tiếp hàng hoá sản xuất dẫn đến sự phụ
thuộc và phá vỡ thị trường tư nhân.
• Dự trữ trực tiếp có thể làm giảm sự tham gia cải thiện cơ cấu và quy trình thể
chế để đảm bảo những gì đạt được là bền vững và hàng hoá sản xuất được sử dụng là
tốt nhất.
Vì vậy mục tiêu sinh kế tập trung vào việc giúp đỡ tiếp cận thích hợp, những
thứ giúp ích cho sinh kế của người nghèo. Tiến tới việc tham gia là cần thiết để thiết
lập sự ưu tiên và cần thiết cho những người sử dụng.
Vốn vật thể (in particular infrastructure) có thể là đắt đỏ. Nó không chỉ yêu
cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra
và nguồn lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ.Vì
vậy, việc nhấn mạnh cung cấp một dịch vụ không chỉ đáp ứng những nhu cầu trung
gian của người sử dụng mà còn phải đủ trong thời gian dài. Nó không chỉ quan trọng
để cung cấp sự khuyến khích cùng một lúc đến phát triển kĩ năng, năng lực để đảm
bảo việc quản lý có hiệu quả của dân chúng địa phương.
Cơ sở hạ tầng là một trong những loại tài sản hỗ trợ trực tiếp người dân, đặc
biệt là người nghèo. Tài sản này có thể giúp người nghèo thoát nghèo một cách nhanh
chóng, nếu được đầu tư đúng, và phù hợp với sinh kế hộ nghèo. Như hệ thống đường
xá, vận tải, y tế.
- Nguồn vốn tài chính
Vốn tài chính thể hiện nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướng
tới mục tiêu sinh kế của họ. Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chất
kinh tế mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùng sản
phẩm. Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế quan
trọng, đó là sự giá trị của tiền mặt hoặc tính thanh khoản, người ta có thể làm theo
những cách sinh kế khác.
Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu.
+ Vốn sẵn có: Tiết kiệm là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không bị
ràng buộc về tính pháp lý. Chúng có thể có nhiều hình thức: tiền mặt, tín dụng ngân
16

thị, thị trường giảm rủi ro khi kết hợp với tiết kiệm của họ (ở hình thức vật nuôi) hơn
là thiết lập ngân hàng địa phương.
17
Đặc điểm của mô hình 5 loại tài sản
- Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng
đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó.
- Một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích. Nếu một người có thể tiếp cận
chắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể có được nguồn tài chính vì họ có
thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê.
- Phẩm chất của tài sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng thay đổi
liên tục theo thời gian.
- Hình dạng của ngũ giác diển tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại
tài sản. Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào. Các điểm nằm trên
chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản. Như vậy những ngũ giác có hình dạng
khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã
hội khác nhau trong cộng đồng đó. Điều quan trọng là một tài sản riêng lẻ có thể tạo
ra nhiều lợi ích. Sơ đồ hình ngũ giác rất hữu ích cho việc tìm ra điểm nào thích hợp,
những tài sản nào sẽ phục vụ cho nhu cầu của nhóm xã hội khác nhau và cân bằng
giữa những tài sản đó như thế nào.
c, Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế
Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của
họ. Các hộ gia đình, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách
sinh sống). Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều
kiện môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thi trường, việc làm trong nền kinh tế và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Người dân có thể sử dụng những gì mà
họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại.
Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của
họ về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau. Quy mô của các
hoạt động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi. Quản lý như thế nào để bảo tồn được
các nguồn lực sinh kế và thu nhập của họ? Cách người dân thu thập và phát triển các

của những chiến lược sinh kế.
Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản, những cá nhân và
những nhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế. Nói
chung, tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng nhiều. Vì
vậy một cách để đạt được sự trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dân xây dựng
những tài sản của họ.
19
Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có khuynh
hướng có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến lược để
đảm bảo sinh kế của họ.
Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ thuộc
chủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản. Những tài sản khác nhau cần để
đạt được những kết quả sinh kế khác nhau.
Ví dụ thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính: Diện
tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cố định ngoài đất
đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và áp dụng giống lúa mới. Tất cả các yếu
tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu nhập của nông hộ. Sự gia tăng
năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp, bằng
sự gia tăng thặng dư tương tự lúa gạo và như vậy tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh
vực chế biến ở nông thôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển (Seppala, 1996)
từ đó có thể đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn. Sự phát triển tài
nguyên nhân lực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ, có thể góp phần làm
tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông hộ gia
tăng. Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao động gia đình thủ
công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động xây dựng)
chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như: thương maị và dịch vụ. Tình
trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập thông qua giá cả của
đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng cơ hội lao động làm
tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn. Ngoài nguồn vốn tiết kiệm
của gia đình, tiếp cận tín dụng làm tăng thêm vốn cũng làm tăng thêm thu nhập của

thành công lớn, nó đã làm cho tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ trên 70% (năm
1978) xuống còn dưới 50% (năm 1991).
Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (vấn
đề tam nông) vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc. Những chính sách nhằm
nâng cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng. Trong đó đặc biệt chú trọng
việc nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo bằng việc mở mang các
ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách vốn, tín dụng...
Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho người dân
nông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm
sau:
21
- Thứ nhất: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá
ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất, mở mang
hoạt động phi nông nghiệp... đã góp phần lớn tạo nên tốc độ phát triển kinh tế và làm
đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu hút nhiều lao động vào các
hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
- Thứ hai: Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất trong
nước. Điều này giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn. Từ đó sinh kế của
người dân cũng được cải thiện hơn.
- Thứ ba: Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng, miền làm hạn chế
sinh kế của người dân nông thôn. Do các doanh nghiệp sẽ gây khó dễ trong việc trả
lương hoặc hạn chế trong việc sử dụng tay nghề của người dân.
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển kinh tế
của Việt Nam. Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước nông nghiệp, nông
nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc. Nông dân Hàn Quốc cũng là người Châu Á,
mang ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti. Trước năm 1970, GDP bình quân
đầu người của Hàn Quốc tương tự nước ta vào năm 1991, 1992, khoảng 300 – 350
USD/người/năm.
Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện cải cách

đất nước vừa đảm bảo được an ninh lương thực. Phát triển nông nghiệp, nông thôn
theo từng bước không nóng vội, hoàn thành cấp này mới làm tiếp cấp kia.
2.2.2 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc
làm và sinh kế cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá
trình CNH – HĐH ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở nông thôn và
làm nông nghiệp. Theo thống kê của hội Nông dân Việt Nam, mỗi năm nước ta có
khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng với
mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm. Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước
phải có biện pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất, làm sao để đảm
bảo sinh kế bền vững cho họ. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 11/2006/CT – TTG
yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương có định hướng quy hoạch,
kế hoạch về chuyển đổi mục đích sử dụng, chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy
nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động ngay trong quá
23
trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp.
( BT2410088126).
- Thứ nhất là việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả, nâng
cao độ phì của đất, bồi dưỡng đất, tăng hiệu quả kinh tế của đất. Vì đất đai là tư liệu
sản xuất đặc biệt, không sinh thêm mà lại ngày càng thu hẹp lại cho nên phải có kế
hoạch sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, đất nào sử dụng với mục đích ấy. Hạn chế tối đa
việc sử dụng đất 2 vụ lúa vào xây dựng KCN, khu đô thị. Nên sử dụng đất đồi, đất
bãi để xây dựng KCN. Trước khi quy hoạch sử dụng đất để xây dựng KCN, khu chế
xuất, khu đô thị mới thì cần thông báo công khai cho nhân dân biết. Cần có sự phối
hợp giữa các cơ quan, đơn vị, chính quyền các cấp để tuyên truyền chủ trương, chính
sách đất đai của Đảng và Nhà nước. Thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và đền bù phải
theo quy định.
- Thứ hai là việc giải quyết việc làm cho nông dân đang là vấn đề bức xúc.
Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cho người
dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ trợ đào tạo nghề,

biệt là hội nông dân vận động người dân nâng cao nhận thức, tuân thủ luật pháp nói
chung và luật đất đai nói riêng.
2.2.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề sinh kế và việc làm cho hộ nông dân bị
thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.
2.2.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Theo thống kê của Bộ Lao động – TBXH trong 5 năm (2001 - 2004) số người
mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu: xây dựng KCN, khu chế xuất,
khu đô thị... ở Hà Nội là gần 800.000 người. Trong 8 năm (từ 2001 đến 2007), Hà nội
đã triển khai hơn 2800 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất. Thành phố đã bàn giao
cho chủ đầu tư gần 1300 dự án với 6300 ha đất, trong đó trên 80% là đất nông
nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân. Bình quân mỗi năm Hà Nội đã giải phóng
mặt bằng gần 1000ha. ( />Trong những năm qua, mặc dù Trung Ương và Thành phố đã có những chính
sách về hỗ trợ việc làm và học nghề nhưng lại chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn đến nguy
cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn. Bởi họ khó học
nghề mới, phần lớn lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hoá hạn chế, không đáp ứng được nhu
cầu lao động chất lượng cao. Một bộ phận nông dân khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất
nông nghiệp đã trở thành hộ nghèo. Ở 5 quận, huyện bị thu hồi nhiều nhất, có 1223 hộ
nghèo với 4389 nhân khẩu. ( /2008/03/772111/).
25

Trích đoạn Hệ thống cỏc chỉ tiờu nghiờn cứu Tỡnh hỡnh thu hồi đất ở xó Đụng Mỹ Sự dịch chuyển nguồn lực của hộ dõn sau thu hồi đất sản xuất nụng nghiệp để xõy Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thỏch thức trong sinh kế của hộ dõn sau khi bị thu Chiến lược và mụ hỡnh sinh kế của hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status