ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM DƯƠNG THANH HUYỀN Tên đề tài:
“
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI XÃ TUY LỘC, THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
GIAI ĐOẠN 2010 - 2013
” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý Tài Nguyên
Khóa học : 2010 – 2014
Người hướng dẫn : ThS.Hà Anh Tuấn
Thái Nguyên, năm 2014
1
LỜI NÓI ĐẦU Để hoàn thành chương trình đào tạo của Nhà trường, thực hiện phương châm
“học đi đôi với hành”, “ lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt
nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình dạy và học của các trường
Đại học nói chung và của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng. Thực
tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra
trường. Đây là khoảng thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống hóa lại toàn
bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen dần với thực tế sản
xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, nắm bắt được phương pháp tổ chức
và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản
xuất, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, sáng tạo để khi ra trường trở
thành một kỹ sư địa chính có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản
xuất, góp phần nhỏ vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Từ những mục tiêu đó được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản Lý
Tài Nguyên - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự hướng dẫn của thầy
giáo và sự tiếp nhận của cơ sở, tôi đã tiến hành đề tài: “Đánh giá thực trạng sử
dụng đất nông nghiệp tại xã Tuy Lộc, Thành phố Yên Bái, Tỉnh Yên Bái giai đoạn
2010 - 2013 ”.
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên trong quá trình thực hiện đề
tài không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy rất mong được sự nhận xét của
quý thầy cô, bạn bè để đề tài ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Tuy Lộc, Ngày 30 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Dương Thanh Huyền
3
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Đất đai là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và tất cả các sinh vật
khác trên trái đất, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của con
người, không có đất đai con người không thể tồn tại được. Đối với mỗi quốc gia, đất
đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất
nước, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh và quốc phòng. Đặc biệt trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất
đặc biệt và chủ yếu, không gì có thể thay thế được.
Kinh tế - xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối
quan hệ con người và đất đai ngày càng trở nên căng thẳng. Những sai lầm của con
người trong quá trình sử dụng đất cùng với sự tác động của thiên nhiên đã và đang làm
hủy hoại môi trường đất, một số công năng của đất đai bị suy yếu đi. Vấn đề tổ chức
quản lý và sử dụng đất đai đúng pháp luật, có hiệu quả cao và bền vững càng trở nên
quan trọng, bức xúc và mang tính toàn cầu, là vấn đề cấp thiết đang được đặt ra cho các
cấp, các ngành và các đối tượng sử dụng đất.
Ở Việt Nam, đất đai chưa được coi như là một hàng hóa cho đến khi Luật
Đất đai 1993 ra đời và có hiệu lực, nhà nước ta đã cụ thể hóa giá trị đất đai và coi
đất đai như là một hàng hóa đặc biệt. Hiện nay nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng
do đó đất đai ngày càng trở nên khan hiếm. Xuất phát từ thực tế trên và từ những
quy định của nhà nước mà đất đai ngày nay được sử dụng một cách hiệu quả, người
sử dụng đất đã biết cách đầu tư, cải tạo. Xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu
cầu sử dụng đất đai ngày càng nhiều, từ đó đất đai trở nên khan hiếm, đặc biệt là đất
ở đô thị, khu dân cư nông thôn và đất sản xuất nông nghiệp. Hiện trạng sử dụng đất
phản ánh sự tác động của con người lên tài nguyên đất đai, là kết quả của quá trình
chọn lọc và sử dụng lâu đời của con người. Vì vậy đánh giá tình hình sử dụng đất là
một trong các hoạt động nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai.
định lượng hiệu quả về mặt kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu
quả xã hội, hiệu quả môi trường và chỉ dừng lại ở mức định tính.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Thu thập số liệu chính xác về các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã.
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp.
- Đưa ra phương hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và trang bị những kiến
thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên
trong quá trình làm đề tài.
- Trên cơ sở đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất nông nghiệp từ đó đưa ra
phương hướng sử dụng đất đạt hiệu quả.
6
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp
2.1.1. Khái niệm, chức năng và quá trình hình thành đất
2.1.1.1. Khái niệm về đất
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá và
khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tươi xốp
của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ
nhưỡng, là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là
do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy
- Chức năng môi trường sống: đất đai là cơ sở của mọi hình thái sinh vật sống
trên lục địa thông qua việc cung cấp các môi trường sống cho sinh vật và gen di truyền
để bảo tồn nòi giống cho động vật, thực vật và các cơ thể sống cả trên và dưới mặt đất.
- Chức năng cân bằng sinh thái: đất đai và việc sử dụng nó là nguồn và là
tấm thảm xanh đã hình thành một thể cân bằng năng lượng trái đất thông qua việc
phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí
quyển của địa cầu.
- Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước: đất đai là kho tàng lưu trữ
nước mặt và nước ngầm vô tận, có tác động mạnh đến chu trình tuần hoàn nước
trong tự nhiên và có vai trò điều tiết nước rất to lớn.
- Chức năng dự trữ: đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi
nhu cầu sử dụng của con người.
- Chức năng không gian sự sống: đất đai có chức năng tiếp thu, gạn lọc, là
môi trường đệm và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại.
- Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử: đất đai là trung gian để bảo vệ các
chứng tích lịch sử, văn hóa của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí
hậu, thời tiết và cả quá tŕnh sử dụng đất trong quá khứ.
- Chức năng vật mang sự sống: đất đai cung cấp không gian cho sự chuyển
vận của con người, cho đầu tư sản xuất và cho sự dịch chuyển của động vật giữa
các vùng khác nhau của hệ sinh thái tự nhiên.
- Chức năng phân dị lãnh thổ: sự thích hợp của đất đai về các chức năng chủ
yếu nói trên thể hiện rất khác biệt ở các vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia nói riêng và
trên toàn trái đất nói chung. Mỗi phần lãnh thổ mang những đặc tính tự nhiên, kinh
tế, xã hội rất đặc thù [12].
Đất đai có nhiều chức năng và công dụng, tuy nhiên không phải tất cả đều
bộc lộ ngay tại một thời điểm. Có nhiều chức năng của đất đai đã bộc lộ trong quá
8
triển rừng bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,
đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp khác.
2.1.2.2. Vai trò của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Quá trình
Quá trình
Đất
Đá mẹ
Mẫu chất
Phá hủy
Hình thành
9
Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất
trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Đối với nông nghiệp:
Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng thời là đối
tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như: Cày, bừa, xới,
xáo…) và công cụ lao động hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn
nuôi…). Quá trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá
trình sinh học tự nhiên của đất.
Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành
và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học công nghệ đều được
. Những
loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6%. Những loại đất quá
xấu chiếm tới 40,5%. Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích
tự nhiên. Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu
Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%,
Châu Đại Dương chiếm 6%) [15]. Bước vào thế kỷ XXI với những thách thức về an
ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất
lương thực, thực phẩm cơ bản đối với loài người [7]. Nhu cầu của con người ngày
càng tăng đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. Đất nông
nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản.
Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề môi trường và
tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm
phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực. Đất khô cằn có ở mọi
khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái đất. Theo ước tính, có khoảng 10 - 20% diện
tích đất khô cằn đã bị thoái hoá [5]. Điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất
nông nghiệp trên đất.
2.3. Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33.097,24 ha. Tính đến năm 2012, đất
nông nghiệp là 26.371,52 ha, trong đó sản xuất nông nghiệp chỉ có 10.210,80 ha [6].
11
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất của cả nước năm 2012
Mục đích sử dụng
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
12
Hiện nay việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho
xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các
nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy trong những năm qua do
tốc độ công nghiệp hóa cũng như đô thị hóa diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa
phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có
nhiều biến động.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nước ta gần tương đương với
diện tích đất chưa sử dụng nên cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể
khai thác được diện tích đất nói trên phục vụ cho các mục đích khác nhau [9].
So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào mục đích nông
nghiệp rất thấp. Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân
diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp và manh mún là một trở
ngại to lớn. Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương
thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác
hợp lý đất đai, cần thiệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở
phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
2.4. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc, Việt Bắc và trung du Bắc
Bộ, thành phố Yên Bái nằm ở vị trí 21,42
0
B, 104,52
0
Đ, là trung tâm tỉnh lỵ tỉnh Yên
Bái với diện tích tự nhiên là 58.020 km
2
đất phi nông nghiệp 3.262,21 ha và đất chưa sử dụng 96,81 ha [14].
Hiện trạng sử dụng đất thành phố Yên Bái được thể hiện qua bảng 2.2:
14
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Yên Bái năm 2013
Thứ
tự
Mục đích sử dụng đất
Mã
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
sử dụng đất
(%)Tổng diện tích tự nhiên 1.0674,19
100
1
Đ
ất nông
Đất trồng cây hàng năm khác HNK
325,35 3,05
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 1760,14 16,50
1.2
Đ
ất lâm nghiệp
LNP
4429,88
41,50
1.2.1 Đất rừng sản xuất RSX 4429,88 41,50
1.2.2 Đất rừng phòng hộ RPH 168,19 1,57
1.2.3 Đất rừng đặc dụng RDD1.3
Đ
ất nuôi trồng thủy sản
NTS
129,71
1,21
2.2
Đ
ất chuy
ên dùng
CDG
1.770,21
16,58
2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự
nghiệp
CTS 53,07 0,49
2.2.2
Đ
ất quốc ph
òng
CQP
456,55
4,30
2.2.3 Đất an ninh CAN
34,80 0,33
15
2.5. Tài liệu về đánh giá đất đai của thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
Phương pháp đánh giá khả năng thích nghi đất đai do FAO đề nghị (1983,
1992) đã được đưa vào áp dụng thử nghiệm ở Việt Nam vào năm 1993, sau đó đã
được thực hiện phổ biến ở nhiều nơi trong cả nước, đến nay đã được Bộ Nông
Nghiệp - PTNT biên soạn thành quy phạm kỹ thuật và là một tiêu chuẩn ngành nông
nghiệp (Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp, số 10 TCN 343 - 98, Bộ
Nông Nghiệp và PTNT, 1999).
Tuy nhiên, tương tự như công tác điều tra đất, cho đến nay việc đánh giá khả
năng thích nghi đất đai để lập Bản đồ thích nghi đất đai cấp Huyện vẫn chưa được
thực hiện đại trà ở vùng Tây Bắc. Trên địa bàn thành phố Yên Bái, đánh giá khả
năng thích nghi đất đai cho nông nghiệp cũng đã từng được thực hiện năm.
16
Phần 3
- Số liệu trong phương hướng phát triển đất nông nghiệp của địa phương.
3.4.1.2. Điều tra thu thập số liệu sơ cấp
- Tiến hành phỏng vấn cán bộ địa chính và cán bộ nông nghiệp tại thị trấn.
17
-
Phỏng vấn nông hộ: điều tra theo mẫu.
3.4.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh để hệ thống hóa số
liệu thu thập và điều tra.
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Excel
Nhập và tính toán các số liệu thu thập được trên phần mềm Excel.
3.4.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất
3.4.4.1. Hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:
+ Giá trị sản xuất - GTSX (GO - Gross Output): Là giá trị toàn bộ sản phẩm
sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng).
GO = p1.q1 + p2.q2 + + pn.qn
Trong đó: q là khối lượng của từng loại sản phẩm được sản xuất/ ha/ năm.
p là giá trị của từng loại sản phẩm trên thị trường cùng thời điểm.
+ Chi phí trung gian - CPTG (IC - Intermediate cost) là toàn bộ chi phí vật
chất và dịch vụ sản xuất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (
giống, phân bón thuốc hóa học, dịch vụ, nhiên liêu, nguyên liệu).
+ Giá trị gia tăng - GTGT (VA - Value Added): Là giá trị sản phẩm vất chất
mới tạo ra trong quá tình sản xuất, trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất được
19
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Xã Tuy lộc có tổng diện tích tự nhiên 583,96 ha được phân chia thành 9 thôn
dân cư, trung tâm xã cách trung tâm của thành phố 5 km về phía đông nam và cách
trung tâm huyện Trấn Yên 4 km về phía Tây bắc.
- Phía Bắc giáp : Xã Nga Quán - Huyện Trấn Yên;
- Phía Nam giáp: Phường Nguyễn Phúc - Thành phố Yên Bái;
- Phía Đông giáp : Xã Nam Cường - Thành phố Yên Bái;
- Phía Tây giáp : Sông Hồng.
- Thời gian chiếu sáng của mặt trời dao động trong ngày từ 10 - 12 giờ.
- Lượng mưa trung bình năm : 1500 - 2200 mm tập trung từ tháng 5 đến
tháng 10 hàng năm
- Lượng nước bốc hơi trung bình năm : 629 mm
- Độ ẩm tương đối trung bình : 87 %.
4.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên nước:
+ Xã chịu ảnh hưởng nhiều của mực nước sông Hồng
+ Tài nguyên nước được nhìn nhận và đánh giá dựa trên 2 nguồn nước
chính là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm.
Nguồn nước mặt: Được lấy từ sông Hồng qua tuyến kênh nguồn cung cấp nước
chính cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Nguồn nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu chung của tỉnh thì nguồn nước
ngầm của xã khá phong phú, chất lượng nước tốt, tuy nhiên nước ngầm hiện tại mới
được khai thác sử dụng cho sinh hoạt của các khu dân cư. Trong tương lai cần khai
thác đưa vào phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt của nhân dân.
- Tài nguyên đất:
Xã Tuy Lộc có tổng diện tích tự nhiên là 587,41 ha, đất đai có một số loại đất
chính sau:
+ Đất phù sa được bồi tụ hàng năm là loại đất chiếm diện tích khá lớn trên
địa bàn xã Tuy Lộc, được phân bố ở dọc theo sông Hồng với dư lượng phù sa lớn, ít
chua, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình, độ phì cao, đã được nhân
dân khai thác để trồng lúa, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày.
+ Đất Feralit đỏ vàng trên đá sét và biến chất: Đất hình thành chủ yếu ở địa
hình chia cắt, dốc nhiều, có cấu trúc khá, mức độ phân hóa feralit từ trung bình đến
mạnh và có xu hướng giảm dần theo độ cao. Loại đất này hiện nay có một phần
đang sản xuất nông nghiệp (hoa màu,…), lâm nghiệp (trồng rừng phòng hộ đầu
nguồn); có một phần hiện nay chưa sử dụng (đất trống đồi núi trọc).
- Tài nguyên rừng:
dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 27,7% chiếm 81,65%, song tăng
trưởng không đều và ổn định qua các năm. Những thành tựu kinh tế trong những năm
gần đây có ư nghĩa hết sức to lớn với xã nhà, đời sống nhân dân nhờ đó được cải
thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã từng bước củng cố và xây dựng.
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn đến năm 2013: Nông lâm nghiệp, thủy sản 14%;
Công nghiệp - Xây dựng 81,65%; Thương mại - dịch vụ 4,35%.
14%
81.65%
4.35%
Nông lâm nghiệp Công nghiệp - Xây dựng Thương mại - Du lịch
Hình 4.1: Cơ cấu kinh tế của xã Tuy Lộc năm 2013
Nguồn: [4]
22
Cơ cấu kinh tế của xã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ
trọng ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành
nông lâm nghiệp.
* Nông lâm nghiệp, thủy sản:
- Về trồng trọt:
Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều
thuận lợi, trong những năm qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành từ
xã đến cơ sở nền sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt đã có những
bước phát triển, hệ thống cây trồng khá phong phú và đa dạng về chủng loại cây
như: cây lương thực, cây thực phẩm
23
và mô hình chăn nuôi hộ, chăn nuôi trang trại đã xuất hiện và bước đầu có hiệu quả
đang được nhân ra diện rộng.
- Về lâm nghiệp:
Tích cực trồng rừng theo các dự án và trồng cây phân tán, cơ bản phủ xanh đất
trống đồi trọc, tăng diện tích che phủ. Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được quan tâm.
- Về thủy sản:
Tổng sản lượng thủy sản năm 2013 đạt 5,8 tấn. Phần lớn diện tích ao đầm tại
xã được nuôi theo hình thức quản canh, chỉ đầu tư con giống, ít đầu tư về kỹ thuật
và thức ăn. Nguyên nhân do lượng nước ra vào trong ao nuôi hạn chế, về mùa mưa
dễ bị ngập làm tràn ao khiến người nuôi trồng thủy sản chưa mạnh.
* Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trên địa bàn xã có 4 doanh nghiệp (Trong đó sản xuất chế biến gỗ 2 doanh
nghiệp; sản xuất cơ khí 1 doanh nghiệp; và 1 doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp
công nghệ cao), 48 hộ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tập trung chủ
yếu vào một số ngành nghề như: Khai thác vật liệu xây dựng, sản xuất gạch và chế
biến gỗ thu hút trên 100 lao động có việc làm ổn định với mức lương bình quân
đạt từ 1.500.000đ - 2.200.000đ/người/tháng; giá trị sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ
công nghiệp trên địa bàn đến năm 2013 đạt 81.942 tỷ đồng.
* Kinh doanh Thương mại - Dịch vụ
Toàn xã có 77 hộ kinh doanh - dịch vụ, chủ yếu là buôn bán nhỏ lẻ nằm chủ
yếu tập trung trên trục đường tỉnh lộ Yên Bái - Khe Sang và các khu vực tập trung
đông dân cư, doanh thu về thương mại dịch vụ đến năm 2013 đạt 5.327 tỷ đồng.
4.1.4. Thực trạng xã hội
- Dân số, dân tộc:
Năm 2013, dân số xã Tuy Lộc là 4.299 nhân khẩu chủ yếu là dân tộc Kinh có
4.182 khẩu chiếm 97,3% dân số, còn lại 8 dân tộc gồm: dân tộc Tày có 65 khẩu; dân
tộc Nùng 2 khẩu; dân tộc Thái 2 khẩu; dân tộc Mường 18 khẩu; dân tộc Dáy 3 khẩu;