LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đồ án này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan cac thông tin trích dẫn trong đồ án đều được dũ lỗ nguồn
gốc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nguồn gốc và sổ liệu thông tin
được sử dụng trong đồ án này.
Sinh viên
NGUYỄN VĂN DŨNG
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan
tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai
-Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban của
nhà trường và địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất đề em hoàn thành
báo cáo khóa luận tốt nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong
khoa Quản lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt
thời gian em học tập tại trường; trong đó đặc biệt là TS. Phạm Anh Tuấn
người đã trực tiếp hướng dần, chi bảo em trong suốt thời gian em thực hiện đề
tài.
Em xin chân thành cảm ơn UBND thị trấn Trường Sơn đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm đề tài tại thị trấn.
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô giáo, các cô chú các bác một
sức khỏe dồi dào, luôn thành công trong công việc cũng như cuộc sống.
: Cao
M
: Trung bình ( medium )
L
: Thấp ( low )
VL
: Rất thấp ( very low )
NTTS
: Nuôi trồng thủy sản
KT-XH
: Kinh tế xã hội
GTSX
: Gía trị sản xuất
LX
: Lúa xuân
toàn cầu. Điều mà các nhà khoa học trên thế giới quan tâm là làm thế nào để
sản xuất ra nhiều lương thực, thực phẩm đáp ứng cho những ai có nhu cầu,
trong khuôn khổ xã hội và kinh tế có thể thực hiện được. Mục đích của sử
dụng đất là làm thế nào để bắt nguồn tư liệu có hạn này cho được hiệu quả
kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo lợi ích trước
mắt và lâu dài. Nói cách khác mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu
xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường một
cách bền vững. Để thực hiện mục tiêu trên cần bắt đầu từ nâng cao hiệu quả
sử dụng đất trong nông nghiệp một cách toàn diện, như G.S Bùi Huy Đáp đã
viết “Phải bảo vệ một cách khôn ngoan tài nguyên đất còn lại cho một nền sản
xuất nông nghiệp bền vững”. Thực tế, trong những năm qua, đã có nhiều biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai như: giao quyền sử dụng lâu
dài, ổn định cho người sử dụng đất, hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá các giống cây trồng có năng suất cao đưa vào
6
sản xuất, nhờ đó mà hiệu quả sử dụng đất tăng lên rõ rệt. Trong đó, việc thay
đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống mới với năng suất và chất lượng cao, áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn có những hạn chế
trong việc khai thác và sử dụng đất đai. Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả cao
nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của
sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển chung của nền kinh tế. Cần phải
có nghiên cứu khoa học, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp, nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để
định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Khai thác tiềm năng đất đai sao cho
đạt hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho
Trường
Sơn.
- Định hướng và đề xuất giải pháp hợp lý nhằm sử dụng đất nông
nghiệp hiệu quả đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển
nông nghiệp, nông thôn.
3. Yêu cầu của đề tài
-
Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn thị
trấn Trường
Sơn.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với những chỉ tiêu phù
hợp với điều
kiện cụ thể của thị trấn Trường Sơn.
- Các đề xuất và giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông
nghiệp.
8
4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến
thức thực tế
của sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của
sinh viên
trong quá trình làm đề tài.
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất sản xuất nông
một vật thể sổng cũng tuân thủ theo những quy luật sống, phát sinh, phát
triển, thoái hoá và già cỗi. Tùy thuộc vào thái độ ứng xử của con người đối
với đất mà đất có thể trờ nên phì nhiêu hơn, cho năng suất cây trồng cao hơn
hay ngược lại.
Trong đánh giá đất theo FAO, đất đai được nhìn nhận là một yếu tố
sinh thái (FAO, 1976) có thể hiểu rộng ra rằng: đất đai bao gồm tất cả các
thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định
đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất, các thuộc tính đó bao gồm: khí hậu,
10
dáng đất, địa hình, địa mạo thổ nhưỡng, thực vật, thảm thực vật tự nhiên, cỏ
dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên và những biển dối của đất do hoật
động của con người. [2]
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất
nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là một khoảng không gian
có giới hạn, theo chiều thẳng đứng gồm: lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động
vật, diện tích mặt nước, mặt nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất theo
chiều nằm ngang - trên bề mặt đất, giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa hết
sức to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người. [7]
1.1.1.2.Khái niệm đất nông nghiệp
Theo quan điểm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp
thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn...
và những loại cây được coi là cây lương thực. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử
dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chi đơn thuần là để trồng
lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy
sản hay để trồng cây lâu năm.
Như vậy có thể nói: đất nông nghiệp (ký hiệu NNP) là đất sử dụng vào
mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông
đặc biệt trong nông nghiệp.
1.2. Nguyên tắc và những quan điểm về sử dụng đất
1.2.1. Nguyên tắc sử dụng đất
• Khái niệm và nguyên tắc sử dụng đất
- Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan
hệ người với đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi
trường. Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không
ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung
và mục tiêu sử dụng đất họp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công
12
dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy,
sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi
phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất
và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Với vai trò là nhân
tố sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện ở các
khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không
gian sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng,
hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô
kinh tế sử dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai
một cách kinh tế, tập trung, thâm canh.
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nông nghiệp
• Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thòi tiết...) có ảnh hưởng trực
Trong khi đó, ở miền nam khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung
hình 22,6 - 27,50c, lượng mưa trung bình 1.400 1 2.400 mm, nắng trên 2.000
giờ/năm.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các
loại cây trồng, cùng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu
như ờ trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu
côve, súp lơ xanh... ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông
có nguồn gốc ôn đới... thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng cây đặc
sản như sầu riêng, măng cụt... hay miền Đông Nam bộ có thể trồng chôm
14
chôm, trái bơ, và Tây Nguyên trồng cây công nghiệp lâu năm cao su, cà phê,
điều là nhũng cây nhiệt đới điển hình.
- Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp với các mức độ khác nhau. Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc
Trung bộ, nhiệt độ thấp vào vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm
ướt,mưa phùn, thiếu ánh sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây
trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn
gốc ôn đới. Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát
triển phá hại mùa màng.
-Yếu tố đất trồng:
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng. Đất trồng
với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, có vai
trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng,
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố
sinh trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí. Độ phì là một trong những
yếu tố quan trọng nhất của đất. Vị trí từng mảnh đất có ảnh hường đến quá
nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật
sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn .
Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói
riêng, dân số vừa là thị trường của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là
nguồn cung về lao động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể
phát triển nếu không có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra. Đặc
biệt, đối với một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở
nên quan trọng.
16
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt
động sản xuất nông nghiệp. Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có
ý thức trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.
- Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có
ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông
nghiệp nói riêng và ngược lại. Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Khi kinh tế phát triển là tiền đề cho quá trình sử
dụng đẩt đạt được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ
kỹ thuật, công nghệ cao, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây
trồng.
- Cơ chế chính sách
Do có tầm quan trọng đặc biệt nên nông nghiệp, nông thôn luôn giành
được những ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trong mỗi
nền kinh tế, người nông dân tiến hành sản xuất, kinh doanh ở những điều kiện
khác nhau, đặc biệt là các điều kiện về tự nhiên và kinh tế, gây ra bất bình
đẳnng về thu nhập. Mặt khác, thị trường luôn hàm chứa các hoạt động canh
thừa kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong
phát triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất,
sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi
thế so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thây, chính sách về đất đai
thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuẩt mới như
thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử
dụng để sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao. Các quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất nông nghiệp cũng là cơ sở đê phát triên hệ thong cây trồng, vật
nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện
18
thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá,
hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
• Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây
trồng vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất
để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể
hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường
và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác
động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với
các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở
để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Theo Frank Elli và Douglass
C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỳ thuật, giống
mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ
chức sử dụng đẩt. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một
đảm bảo vật chất cho kinh tể nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc
chuyển đổi sử dụng đất. Cho đển giữa thể ký 20, trong nông nghiệp nước ta
các quy trình kỹ thuật đã dóng góp đến 30% năng suất kinh tế. Như vậy nhóm
Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm một vùng trên bể mặt trái đât
với tất cả các đặc trưng: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, động
vật, thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý đất đai
như: Hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng... Do đó, thông qua hoạt động
thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến
khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh khỏi
những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác động có
hại đến môi trường sinh thái.
Theo Fetry, “Sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính
là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi
20
trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội”
(FAO, 1994). FAO đã đưa các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương
lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác.
Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc
tốt cho mọi người trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài
nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo
được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân
bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa - xã hội của các cộng đồng sống
ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường.
Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin
trong nông dân.
Vào năm 1991 ở Nairobi đã tổ chức hội thảo về “Khung đánh giá việc
quản lý đất đai” đã đưa ra định nghĩa quản lý bền vững đất đai bao gồm các
công nghệ, chính sách và hoạt động nhăm liên hợp các nguyên lý kinh tê - xã
đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có thể hưởng thu lâu dài, đất đã
được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể.
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập
quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ.
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ
được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường
sinh thái đất (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2007).
Giữ đất được thể thiện bằng giảm thiểu liều lượng đất mất hàng năm
dưới mức cho phép. Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với
quản lý sử dụng bền vững. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh
thái (>35%). Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phầm loài (đa canh bền
22
vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng
năm...
Ba yêu cầu trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất
hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để giúp
cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng sinh thái.
Bền vững là một khái niệm động, bền vững ở nơi này có thể không bền
vững ở nơi khác, bền vững ở thời điểm này, có thể không bền vững ở thời
điểm khác. Đo lường trực tiếp tính bền vững là một khó khăn nhưng sự đánh
giá đó có thể thực hiện được dựa vào những biểu hiện và chiều hướng của các
quá trình chi phối đến chức năng một hệ canh tác nhất định, ở một địa phương
cụ thể. Nguyên tắc chung khi đánh giá tính bề vững là:
+ Tính bền vững được đánh giá cho một kiểu sử dụng đất nhất định,
một mô hình sản xuất nhất định, cho một đơn vị cụ thể, cho một hoạt động
điều hành, cho một thời hạn xác định.
+ Dựa trên quy trình và dữ liệu khoa học, những chỉ sô và tiêu chuẩn
- Thứ hai: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã
hội) là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành
giữa con người vói con người trong quá trình sản xuất.
-Thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu
cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế. Trong quy hoạch
và quản lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào
và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết
quả nhầt định với chi phí nhỏ hơn (PGS.TS Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2007).
Như vậy, bản chất của hiệu quả được xem là: việc đáp ứng nhu cầu của của
con người trong xã hội; việc bảo tồn tài nguyên, thiên nhiên và nguồn lực để phát
triển bền vững.
* Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu so sánh mức độ
tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu
24
ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng
thêm lợi ích của xã hội:
Hiệu quả kinh tế phải đạt được 2 vấn đề sau:
+ Một là: Mọi hoạt động sản xuất của con người đều phải tuân theo quy
luật tiết kiệm thời gian.
+ Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết
hệ thống.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết
quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan cần xét cả phần so
sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó.