TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGUYỄN VĂN DŨNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
THỊ TRẤN TRƯỜNG SƠN, HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2011-2015.
2
HÀ NỘI, NĂM 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGUYỄN VĂN DŨNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI THỊ
TRẤN TRƯỜNG SƠN, HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
GIAI ĐOẠN 2011-2015.
Chuyên ngành
: Quản lý đất đai
Lớp
: LDH4QĐ1
Mã ngành
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan
tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai
-Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban của
nhà trường và địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất đề em hoàn thành
báo cáo khóa luận tốt nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong
khoa Quản lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt
thời gian em học tập tại trường; trong đó đặc biệt là TS. Phạm Anh Tuấn
người đã trực tiếp hướng dần, chi bảo em trong suốt thời gian em thực hiện đề
tài.
Em xin chân thành cảm ơn UBND thị trấn Trường Sơn đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm đề tài tại thị trấn.
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô giáo, các cô chú các bác một
sức khỏe dồi dào, luôn thành công trong công việc cũng như cuộc sống.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trường Sơn, ngày 25 tháng 10 năm 2015.
Sinh viên
Nguyễn Văn Dũng
6
MỤC LỤC
7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NTTS
: Nuôi trồng thủy sản
KT-XH
: Kinh tế xã hội
GTSX
: Gía trị sản xuất
LX
: Lúa xuân
LM
: Lúa mùa
DANH MỤC CÁC BẢNG
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng
cho con người. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở của sản xuất nông
đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống mới với năng suất và chất lượng cao, áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn có những hạn chế
trong việc khai thác và sử dụng đất đai. Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả cao
nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của
sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển chung của nền kinh tế. Cần phải
có nghiên cứu khoa học, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp, nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để
định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Khai thác tiềm năng đất đai sao cho
đạt hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho
sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển chung của nền
kinh tế đất nước. Cần phải đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để
định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Thị trấn Trường Sơn là 1 trong 2 thị
trấn của huyện An Lão- TP Hải Phòng. Người dân nơi đây sống dựa vào nông
nghiệp là chủ yếu. Trong những năm gần đây, kinh tế nông nghiệp, nông thôn
của thị trấn tuy có những bước phát triển mới song nhìn chung vẫn còn lạc
hậu, sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ chưa đồng bộ, công cụ sản xuất chủ yếu
là thủ công, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý, năng suất lao động và hiệu quả
kinh tế chưa cao. Nhận thức của nhân dân về sản xuất hàng hoá trong cơ chế
thị trường còn rất hạn chế. Trong khi đó, những chính sách về phát triển nông
nghiệp, nông thôn, đặc biệt là những chính sách cụ thể để phát triển ngành
nông nghiệp chưa có hiệu quả cao.
Vì vậy, rất cần có định hướng chỉ đạo và có cơ chế chính sách của các
cấp, các ngành để giúp thị trấn Trường Sơn có hướng đi đúng đắn trong phát
triển nền kinh tế nông nghiệp bền vững, giúp người dân lựa chọn được
- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến
thức thực tế
của sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của
sinh viên
trong quá trình làm đề tài.
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất sản xuất nông
nghiệp từ đó đề
xuất được các giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp
1.1.1.
Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
Khái niệm về đất
1.1.1.1.
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó lá
đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyền.
Đất lả lớp phủ thổ nhưỡng, là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà
nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của
hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác động
qua lại của bốn quyểntrên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản. Đã có
rất nhiều công trinh nghiên cứu liên quan đến những khái niệm về đất.[5]
Nhà bác học Đocutraiep (1846-1903) người đặt nền móng đẩu tiên cho
khoa học đất cho rằng. Đất là một vật thể có lịch sử tự nhiên hoàn toàn độc
sản hay để trồng cây lâu năm.
Như vậy có thể nói: đất nông nghiệp (ký hiệu NNP) là đất sử dụng vào
mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông
nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. [7]
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản
xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về
tầm quan trọng của đất C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho
tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng
của tập thể” (C.Mac 1949).
Đối với nông nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là
điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác dộng trong
quá trình sản xuất như: cầy, bừa, xới, xáo...) và là tư liệu sản xuất hay công cụ
lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi...). Quá trình sản xuất luôn có mối
quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên cùa đất.
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triền xã hội loài người, sự hình
thành và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học công nghệ
đều được xây dụng trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất. Trong nông nghiệp
ngoài vai trò là cơ sở không gian đất còn có hai chức năng đặc biệt quan
trọng:
+ Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp cùa con người trong quá trình
sản xuất.
+ Tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng
nước muối khoáng, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Như vậy, đất trở thành công cụ sản
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thòi tiết...) có ảnh hưởng trực
tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Bởi các yếu tố của đỉều kiện tự nhiên là tài
nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự
nhiên trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng
đầu tư thâm canh đung.
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch.
Theo N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các
nước phát triển cho rằng: Yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây
trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân
thiếu vốn là độ phì của đất.
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối vói sản
xuất nông nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thê
lợi dụng những yếu tố đầu vào trong kinh tế, thuận lợi để tạo ra nông sản hàng
hoá với giá rẻ
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt
trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác.
- Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và
phát triền đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ,
không khí nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và
độ ẩm không khí chính là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một
trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản
lượng cây trổng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ
độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét
theo từng vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5°c, lượng mưa
trung bình từ 1.500 -2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 -1.750 giờ/năm.
trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng
đất cao.
-Yếu tố cây trồng:
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm. Con
người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng. Những sản phẩm
này cung cấp lương thực cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho xuất
khẩu.
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những
giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất. Ngược
lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những
gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học,
kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian
sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá
phát triền gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất. Vì vậy, nhừng tiến bộ trong
công tác giống cậy trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng
hoá.
• Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
- Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi
dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp
còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất
nông nghiệp được đảmbảo. Ngược lại, ngày nay khi dân số tăng nhanh kéo
theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác
nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật
sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn .
Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
nghèo, khuyến nông...thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng
đất nông nghiệp của những người nông dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá,
người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường,
thông tin thị trường, sức mua... hơn nữa các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản
xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa
bãi phân hoá học thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ... có tác động tiêu cực đến môi
trường, nguồn nước không khí và đất. Do vậy, việc nhà nước can thiệp bằng
các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng
dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực
trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp.
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được
đảm bảo ổn định và lâu dài. Trong những năm qua, Chính phủ đã không
ngừng ban hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai
nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn. Luật
đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003) đã thể chế hoá và
với rộng quyền của người sử dụng đất. Đây là một chính sách khuyến khích
người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm
phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả. Mặc dù đất đai thuộc sờ
hữu toàn dân nhưng pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu dài đôi với đất
Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền
thừa kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong
phát triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất,
sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi
thế so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thây, chính sách về đất đai
thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuẩt mới như
thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử
một cách bền vững. Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất nông nghiệp như giống cây trồng vật nuôi mới, các quy trình kỹ
thuật trong canh tác, trong chế biến bảo quản...làm tăng năng suất, chất lượng
cây trồng vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai, lao động,
vốn.
Lựa chọn các tác động khoa học kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách
sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật sẽ đạt
được mục tiêu đề ra.
1.3 Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất
1.3.1.Tính bền vững trong sử dụng đất
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã
trở thành cơ sờ cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của loài
người.
Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự
tồn tại và tương lai phát triển loài người, chính bởi vậy việc tìm kiếm các giải
pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà nghiên cứu đất và các
tổ chức quốc tế rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện theo sự phát triển của
khoa học. Thuật ngữ “Sừ dụng đất bền vững” (Sustainable Land Use) đã trở
thành thông dụng trên thế giới hiện nay.
Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm một vùng trên bể mặt trái đât
với tất cả các đặc trưng: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, động
vật, thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý đất đai
như: Hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng... Do đó, thông qua hoạt động
thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến
khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh khỏi
những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác động có
hại đến môi trường sinh thái.
Theo Fetry, “Sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính
đạt được, nểu chi đạt được một hoặc một vài mục tiêu mà không phải là tất cả
thì khả năng bền vừng chi mang tính bộ phận.
Vận dụng các nguyên tẳc trên, ở Việt nam một loại hình sử dụng đất
được xem là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về Kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị
trường chấp nhận về chất lượng, sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa
phương, trong nước và xuất khẩu, tùy vào mục tiêu của từng vùng.
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất
của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất. Tổng giá trị trong một
giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nêu dưới mức đó
thì nguy cơ người sản xuất sẽ không có lãi, lãi suất phải lớn hơn lãi suât tiên
vay vốn ngân hàng.
- Bền vững về mặt Xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống Xã
hội phát triển.
Nội lực và nguồn lực địa phương phải phát huy về đất đai, hệ sử dụng
đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có thể hưởng thu lâu dài, đất đã
được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể.
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập
quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ.
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ
màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái
đất (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2007).
Giữ đất được thể thiện bằng giảm thiểu liều lượng đất mất hàng năm
dưới mức cho phép. Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với
quản lý sử dụng bền vững. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh
thái (>35%). Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phầm loài (đa canh bền
vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng