LUẬN VĂN: Thực trạng xuất khẩu hàng hàng hoá trong thời kỳ đổi mới ở Việt nam - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Thực trạng xuất khẩu hàng hàng hoá
trong thời kỳ đổi mới ở Việt nam

Lời nói đầu
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đang
phát triển như vũ bão với tốc độ nhanh trên tất cả các lĩnh vực. Sự phát triển của khoa
học công nghệ đã làm cho nền kinh tế thế giới có những biến đổi to lớn và sâu sắc
đồng thời đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới. Chính vì vậy
ngày nay hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển đi lên của
mỗi quốc gia. Hoà nhập với xu thế này, trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, đặc
biệt là từ khi tiến hành đổi mới kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng các
hoạt động kinh tế đối ngoại. Trong báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương
Đảng tại đại hội Đảng VIII đã nhấn mạnh:
“. . . Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phương
hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất
cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập phát triển. Hợp tác
nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực. .
. ”.


Chương I: những lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng hoá trong thời kỳ đổi
mới ở Việt Nam
I Bản chất và vai trò của xuất khẩu hàng hoá
1- Thương mại quốc tế đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
1. 1 Khái niệm thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua
mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản suất hàng hoá riêng biệt của các quốc
gia.
1. 2 vai trò của thương mại quốc tế
Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ được. Thương
mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là ngoại thương mở rộng khả
năng sản suất và tiêu đùng trong nước khi thực hiện chế độ tự, cung tự cấp, không
buôn bán.

tắc cùng tồn tại hoà bình ”.
Cho đến nay dù thành tựu đã đạt được xong chưa có thể giúp chúng ta thoát khỏi
vị trí là một trong những nước nghèo trên thế giới nhưng cũng có những kết quả đáng
mừng từ chính sách mở rộng thương mại, giao lưu kinh tế với bên ngoài. Nước ta đang
từng bước chuyển mình với nhịp độ sản xuất mới bằng những công nghệ khoa học tiên
tiến. Tin tưởng rằng, với những hướng đi đúng dắn, với những ưu thế của mình và sự
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Việt nam sẽ trở thành một mắt xích quan trọng trong
nền kinh tế thế giới. Báo cáo chính trị của ban chấp hành tw đảng tại đại hội lầnVI đã
nhấn mạnh:" Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiêncũng
như sự phát triển khoa học,kỹ thuậtvà công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa của nước ta
tiến hành nhanh hay chậm phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộngvà nâng
cao hiệu quả kinh tế đối ngoại".
2. vị trí và vai trò của xuất khẩu hàng hoá trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
2. 1 Vị trí của xuất khẩu hàng hoá.
Xuất khẩu hàng hoá là những việc mua bán trao đổi hàng hoá, dịch vụ của một
nước này với các nước khác và dùng ngoại tệ làm phương tiện trao đổi. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong nền kinh tế có thương mại quốc tế mở rộng bao gồm cả việc
bán sản phẩm hàng hoá ra nước ngoài và nhập khẩu sản phẩm từ nước khác. Kinh
doanh xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán thuộc phạm vi quốc tế và
là hoạt động kinh tế thương mại rất phức tạp. Do đó nó không chỉ là một hành vi bán
riêng lẻ mà là cả một quá trình kinh doanh phức tạp bao gồm nhiều khâu khác nhau.
Trong thời đại ngày nay, thời đại của cùng tồn tại hoà bình, cùng vươn tới ấm no
hạnh phúc và cũng là thời đại của việc vươn tới mở cửa và mở rộng giao lưu kinh tế.
Do đó xu hướng phát triển của nhiều nước trong những năm gần đây là thay đổi chiến
lược kinh tế từ “đóng cửa” sang “mở cửa” và từ “thay thế nhập khẩu” sang “hướng
vào xuất khẩu”. Có thể nói đây là con đường đúng đắn cho sự phát triển vượt bậc giúp
cho nền kinh tế của mỗi quốc gia ngày càng phát triển.
Đối với những nước mà nền kinh tế chưa phát triển cao như nước ta thì những

tầm chiến lược ngày càng quan trọng trên bản đồ chính trị và kinh tế thế giới. Vị trí
của Việt nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế từ các nước SNG, Trung
Quốc, Nhật bản, Nam Triều Tiên sang các nước Nam á, Trung Đông, và Châu phi. Với
một vị trí thuận lợi như vậy tạo điều kiện cho Việt nam tham gia vào phân công lao
động quốc tế và trong sự hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong khu vực, và
các nước trên thế giới một cách dễ dàng. Mặt khác, nó cũng góp phần đẩy mạnh hoạt
động thương mại nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng.
Không những thế, Việt nam còn có biển chạy dọc theo chiều dài đất nước, nhất
là từ Phan Thiết trở vào còn có cảng nước sâu, khí hậu tốt, không có sương mù, tàu bè
nước ngoài có thể cập bến an toàn quanh năm. Điều này rất thuận lợi cho việc giao lưu
buôn bán giữa các nước. Mặt khác, về vận tải hàng không, tuy chúng ta chưa có nhiều
sân bay nhưng chúng ta có sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí lý tưởng cách đều thủ đô
các thành phố quan trọng trong vùng như Băng cốc (Tháilan), Giacacta (Indonexia),
Mamila (Philipin).
Thông qua đó cho phép chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như
hoạt động xuất nhập khẩu.
Cùng với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên ở nước ta cũng là
một trong những nguồn tiềm năng góp phần vào việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh những cơ hội, chúng ta cũng còn gặp rất nhiều khó khăn trong sự
nghiệp công nghiệp hoá đất nước. Vì xuất phát điểm của chúng ta quá thấp. Thách
thức gay gắt nhất là nguy cơ “tụt hậu ” xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu
vục và trên thế giới. Mỹ và phương tây tiếp tục mưu toan thực hiện chiến lược “diễn
biến hoà bình”. Gây áp lực đối với chúng ta về vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, đa
nguyên đa đảng. Nguy cơ đi chệch hướng XHCN.
Nền kinh tế trong nước còn nhiều yếu kém. Vẫn hiện trạng tham ô, tham nhũng
nhiều. Bộ máy quản lý còn quan liêu, thủ tục hành chính còn dườm dà. Đội ngũ cán bộ
vừa thiếu lại vừa yếu, đặc biệt đối với cán bộ thuộc lĩnh vực ngoại thương.
Nhận thức rõ những điều kiện thuận lợi và khó khăn trên Đảng và Nhà nước ta đã

quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất
yếu đối với nước ta.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá
nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như
nước ta, sản xuất về cơ bản là chưa đủ cho nhu cầu tiêu dùng nếu chỉ thụ động chờ sự
“thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp. Sản
xuất và thay thế cơ cấu kinh tế cũng sẽ rất chậm chạp.
Hai là, coi thị trường đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ
chức sản xuất. Quan điển thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới
để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này nên sản xuất thể hiện ở các mặt sau:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có cơ hội phát triển thuận lợi. Ví dụ khi
phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội đầy đủ cho
việc phát triển các ngành sản xuất nguyên liệu như bông, vải sợi. . . Sự phát triển của
ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu gạo, chè, cà phê. . . sẽ thúc đẩy sự
phát triển của các ngành sản xuất nông nghiệp và các ngành chế biến có liên quan.
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát
triển ổn định. Khi sản xuất bắt đầu lớn mạnh thị trường trong nước không đủ khả năng
làm cho sản xuất phát triển mạnh được, chỉ có thị trường rộng lớn ở bên ngoài mới có thể đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng của các ngành nghề trong
nước và đảm bảo sản xuất phát triển ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng
cao năng lực sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng
lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng
tạo ra vốn, kỹ thuật và công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt nam nhằm hiện đại

phát triển đã trở thành đối thủ cạnh tranh đối với các nước phát triển nhờ vào sự nắm
bắt hệ thống viễn thông toàn cầu, sự phát triển của ti vi,máy tính,mạng internet. Đây là
lúc thích hợp nhất cho các doanh nghiệp tận dụng những biến chuyển của thị trường
để tiến hành xuất khẩu.
Những lợi ích mà xuất khẩu có thể mang lại cho doanh nghiệp là :
-Tăng doanh số và lợi nhuận. Nếu một công ty hoạt động tốt trên thị trường nội
địa thì việc mở rộng ra thị trường nước ngoài sẽ làm tăng lợi nhuận.
- Giành được thị phần ở nước ngoài nhờ vào việc xuát khẩu,công ty sẽ học hỏi
được từ đối thủ cạnh tranh, từ các chiến lược của họ và những việc mà đối thủ cạnh
tranh, từ các chiến lược của họ và những việc mà đối thủ cạnh tranh đã thực hiện để
giành được thị phần ở nước ngoài.
-Giảm sự phụ thuộc vào thị trường nội địa hiện có. Nhờ mở rộng hoạt động ra thị
trường nước ngoài,công ty sẽ phát triển các cơ sở bán hàng và giảm sự phụ thuộc vào
khách hàng trong nước
ổn định doanh nghiệp trước sự biến động của thị trường trong nước. Bằng cách
khai thác thị trường thế giới,công ty sẽ khai thác thị trường thế giới,công ty sẽ không
bị bó tay trước những thay đổi về kinh tế, về nhu cầu của khách hàng và những biến
động theo thời vụ trên thị trường trong nước.
- Tận dụng năng lực sản xuất dư thừa. nhờ xuất khẩu mà có thể tận dụng năng lực
sản xuất và thời gian sản xuất,do đó làm giảm chi phí của một đơn vị sản phẩm,và tăng
hiệu quả kinh tế.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh. Do xuất khẩu mà có thể tăng thêm năng lực cạnh
tranh của một nước, của một doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp có lợi do việc sử dụng công nghẹ mới,các phương pháp và sản xuất mới thì năng lực của doanh nghiệp
được nâng lên và cán cân thương mại trong nước dược phát triển
II. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu.
1. Vì sao phải có chính sách thúc đẩy xuất khẩu.
Khác với hoạt động thương mại trong nước, xuất khẩu thuộc phạm vi của

giới thiệu sản phẩm, lựa chọn và áp dụng các phương pháp tiếp thị thích hợp, hỗ trợ
tiêu thụ và trong trường hợp cần thiết xây dựng hệ thống dịch vụ và các hệ thống kho
phân phối.
Yếu tố thứ tư gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu là hoạt động này đòi hỏi
những kiến thức và kinh nghiệm. Các thủ tục cần thiết trong xuất khẩu bao gồm cả các
quy định cần chú ý và việc sử dụng các loại hồ sơ và giấy tờ khác nhau và điều này thì
khác rất nhiều với kinh doanh trong nước. Để duy trì các mối quan hệ với nước ngoài
lại cần các chuyến đi ra nước ngoài hết sức tốn kém hoặc phải xây dựng và đảm bảo
kinh phí cho các cơ sở đại diện ở nước ngoài.
Thứ năm là việc đảm bảo tài chính cho xuất khẩu: một hoạt động mà ở đó
thường áp dụng các thời hạn thanh toán dài hơn và các thủ tục đặc biệt đòi hỏi phải có
sự phối phợp với các tổ chức tài chính chuyên môn. Cần đặc biệt lưu ý ở đây là các rủi
ro trong thanh toán cũng như rủi do tín dụng thông thường là các rủi do đặc thù của
mỗi quốc gia hoặc các rủi do kinh tế luôn đi kèm với các hoạt động kinh doanh với
nước ngoài. Những điều khác nhau về hệ thống pháp luật, quan niệm về pháp luật
cũng như những khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình ở nước ngoài cũng rất
quan trọng và cần phải được đặc biệt lưu ý.
Tất cả những khó khăn trên làm cho hoạt động xuất khẩu cần có sự hỗ trợ và
thúc đẩy để nó có thể tiến hành được rễ dàng.
1. 2 Những yêu cầu đặt ra cho hoạt động xuất khẩu.
Để tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng
ta cần phải xây dựng những chính sách về kinh tế cho phù hợp, đặc biệt chính sách
xuất khẩu. Tuy nhiên, để có thể có được những chính sách phát triển xuất khẩu đúng
đắn, có hiệu quả, đòi hỏi chúng ta cần phải nghiên cứu về những yêu cầu mà xuất khẩu
cần phải đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế Việt nam. 1. 2. 1 Xuất khẩu phải ra sức khai thác có hiệu quả nguồn lực của
đất nước.
Thế mạnh lớn nhất của Việt nam là có lực lượng lao động dồi dào. Lực lượng

ASEAN. Do kỹ thuật sản xuất những mặt hàng này của ta hiện còn lạc hậu, chất lượng
chưa cao, số lượng chưa lớn nên hàng hoá của ta có sức cạnh tranh kém hơn so với các
nước trong khu vực. Để có thể phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu đòi hỏi phải có sự
thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu sang những mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao, chế biến
sâu, tương đối mới và có nhu cầu lớn trên thị trường như dịch vụ phần mềm máy tính,
hàng nông sản tinh chế. . .
1.2.5 Những lý do khác.
+ Vì lý do bảo hộ cần khuyến khích xuất khẩu để mở rộng cơ hội tiêu thụ các sản
phẩm công nghiệp trong nước, đặc biệt của các doanh nghiệp Việt nam trên trường
quốc tế.
+ Khuyến khích xuất khẩu để lập lại thế cân bằng trong cạnh tranh cho các nhà
sản xuất trong nước, tránh việc họ bị thiệt thòi do chính sách khuyến khích xuất khẩu
của các nước khác gây ra.
+ Cuối cùng do những nguyên nhân về cán cân thanh toán cần thiết phải áp dụng
các biện pháp khuyến khích xuất khẩu để thông qua tăng xuất khẩu mà giảm thâm hụt
trong cán cân thanh toán.
2. Mục tiêu của chính sách thúc đẩy xuất khẩu.
Để thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội, chính sách thúc đẩy
xuất khẩu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nước nông nghiệp thành một nước
công nghiệp, từ công nghiệp chế biến dựa trên lao động thủ công, kỹ thuật giản đơn
đến công nghiệp chế tạo dựa trên vốn cao và kỹ thuật hiện đại. Theo đó sự chuyển dịch
cơ cấu hàng chế tạo và tỷ lệ hàng chế tạo xuất khẩu có xu hướng tăng nhanh. Công
nghiệp hoá hướng về xuất khẩu không phải là mục đích tự thân mà nó là phạm trù lịch
sử cho nên mục tiêu trực tiếp cụ thể không thể nào khác là nhằm phát triển kinh tế xã
hội nhanh, bền vững, có hiệu quả. Phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém
phát triển, cải thiện đời sống nhân dân củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện
cho đất nước phát triển nhanh hơn vào thế kỷ 21.
Thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu nhằm đặt nền kinh tế quốc gia trong
quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhằm phát huy lợi thế so sánh, buộc sản


USD năm 2001,chưa kể xk dịch vụ đạt khoảng 2. 4 tỷ USD. kim ngạch xuất khẩu thường đạt khoảng 50%GDP, nói lên tác động quan trọng của xk đối với quá trình phát
triển và tốc độtăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Với kim ngạch tăng trung bình hơn
20% năm trong năm qua, không kể tình hình đặc biệt năm 2001, XK đã góp phần quan
trọng vào việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Hiện nay, xuất khẩu là đầu ra của 60-70%sản phẩm của các ngành công nghiệp,
nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, sản phẩm của các làng nghề đang được phục hồi.
Qua đó thấy rõ xuất khẩu cá tác dụng không những kích thích,đẩy mạnh hàng hoá
trong nước mà còn giải quyết việc làm trong khi vấn đề việc làm đang là một sức ép
lớn đối với nhiều nước. Suy cho cùng, tạo nguồn hàng và tiến hành xuất khẩu chính là
phát huy nội lực tài nguyên,lao động đến khả năng quản lý, kinh doanh trong quá trình
phát triển. Với vai trò cầu nối,từ sự gắn két trong nước, với thị trường bên ngoài, xuất
khẩu đã làm xuất hiện những xu hướng tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu đầu tư đối với từng ngành , từng vùng và cả nước. nguồn thu do xuất khẩu mang
lại cho phép trang trải nhập khẩu vật tư, thiết bị công nghệ nhằm tạo dựng cơ sở vật
chất và kỹ thuật của nền kinh tế theo định hướng xhcn.
Nếu như trước đây chúng ta chủ yếu xk hàng nguyên liệu thô và hàng tiểu thủ
công nghiệp đơn giản, thì nay hoạt động đã khơi thông được nhiều nguồn hàng mới,
với nhiều chủng loại,mặt hàng phong phú và đa dạng. XKmở rộng đã phát huy các lợi
thế so sánh của chúng ta, góp phần giải phóng mọi nguồn lực của tất cả các thành
phần kinh tế để đầu tư sản xuất, sử dụng nhiều hơn nguồn nguyên liệu, vật tư khai thác
trong nước,đồng thời tạo ra hàng triệu chỗ làm mới trong nhiều khu vực kinh tế.
Trong thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp hoạt động XK của ta chỉ bó hẹp trong phe
XHCN và mọt vài nước khác,được thực hiện chủ yéu bằng phương thức hàng đổi hàng
với Liên Xô và các nước đông âu khác nay xk đã được mở rộng phong phú linh hoạt
với trên 100 nước, bao gồm cả trung tâm kinh tế lớn của thế giới XK ngày càng tăng
và đối tác ngày càng nhiều theo hướng đa phương hoá đã giúp ta vượt qua cú sốc thị
trường do thị trường truyền thống bị gián đoạn đầu những năm 90, tránh cho ta khỏi

một cách cơ bản cơ chế xuất khẩu, nhập khẩu theo hướng xoá bỏ chế độ độc quyền
của nhà nước, mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu sang tất cả các thành phần
kinh tế. Tóm lại tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao đã góp phần quan trọng vào tốc
độ tăng trưởng kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu tăng không những tạo nguồn thu ngoại tệ
cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần tích cực tiến tới cân bằng cán cân vãng lai, nâng cao uy tín và vị thế của Việt nam trên trường quốc
tế

kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt nam
qua những năm đổi mới 1986 - 1998
Đơn vị tính: Tr. USD
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng kim ngạch XNK
1986 789 2155 2944
1987 854 2455 3309
1988 1038 2756 3794
1989 1946 2566 4512
1990 2402 2752 5154
1991 2087 2388 4475
1992 2581 2641 5125
1993 2985 3924 6904
1994 3600 4500 8100
1995 5300 6500 11800
1996 7255 11144 18399
1997 9268 11742 21011
1998 9300 11200 20500

mức đáng kể sau nhiều năm tăng trưởng với tốc độ cao, gây ảnh hưởng không nhỏ đến
tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 1998 và mục tiêu tăng
trưởng xuất khẩu chung cho cả thời kỳ 1996-2000.
Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu năm 1998 đạt 9,361 tỷ USD, bằng 91,8% kế hoạch
đề ra và chỉ tăng có 0. 9% so với năm 1997, đây chính là lần đầu tiên kể từ năm 1992
kim ngạch xuất khẩu tăng ở mức dưới 2 chữ số. Trong số này, khối doanh nghiệp Việt
nam xuất 7,332 tỷ USD, chiếm 78,3% tổng kim ngạch và giảm 1% so với năm 1997.
Khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1. 938 tỷ USD, chiếm 21,2% tổng kim ngạch và tăng 10,8% so với năm 1997. Xuất khẩu phi mậu dịch và tiểu ngạch
đạt khoảng 46,6 triệu USD, giảm gần 40% so với năm 1997.
Năm 2000, tổng mức lưu chuyển ngoại thương đạt 29,5tỷ USD trong đó xuất
khẩu đạt 14,3tỷ USD tăng gấp 6lần năm 1990 . Như vậy sau 2năm (1998-1999) gặp rất
nhiều khó khăn bởi tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực,năm 2000 hoạt
động xuất khẩu của nước ta đã có những bước phát triển đột phá, tăng 52,8% so với
năm 1998,24% so với năm 1999và vuợt xa chỉ tiêu kế hoạch năm 2000. nếu so với
năm 1996-năm đầu của kế hoạch 5năm 1996-2000 thì kim ngạch xuất khẩu năm 2000
đã tăng gấp gần 2 lần (197,1%). Trong tổng số kim ngạch xuất khẩu năm 2000 khu
vực kinh tế trong nước chiếm tỷ trọng trên 50%, đạt 7,4tỷ USD, tăng 8%so với 1999
khu vự có vón đầu tư nước ngoài (bao gồm cả dầu thô) ước tính đạt 6,9tỷ USD, tăng
47,4%. Xuất khẩu bình quân đầu người năm 2000 đạt 184,2 USD, kết quả đó đã đưa
nước ta ra khỏi danh sách các nước có nền ngoại thương kém phát triển.
Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu đạt 15,1 tỷ USD tăng 405%so với năm 2000,
thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra từ đầu năm, nguyên nhân chủ yếu là do tình hình
kinh tế thương mại thế giới diễn ra không thuận lợi, nhất là vào những tháng cuối năm.
Có 9 mặt hàng chủ lực là lạc nhân, cà phê, chè,gạo,hạt điều,dầu thô, thủ công mỹ nghệ
và điện tử bị giảm kim ngạch,chủ yếu do giá giảm quá mạnh trên thị trường thế giới.
Tuy vậy các mặt hàng nông sẩn chủ lực đều được tổ chức tiêu thụ tốt, mức tăng về
lượng rất khá ( cà phê trên 25%, hạt tiêu trên5%). . . đã làm thị phần của ta trên thị

Đảng ta đã xác định chiến lược đưa nền kinh tế hướng về xuất khẩu và nhấn mạnh
chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu tại kỳ họp thứ 4 Đại hội Đảng VIII. Sau mấy
năm thực hiện, thực tế đã chứng minh đây là một quyết định đúng đắn.
Để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu. Chính
phủ đã ban hành nhiều đạo luật, nghị định có tác động khuyến khích đầu tư sản xuất
hàng xuất khẩu. Các biện pháp này đã góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu, tăng trưởng không ngừng trong những năm vừa qua.
1- Chính sách khuyến khích đầu tư.
Văn kiện Đại hội Đảng VIII đã chỉ rõ “ Cần huy động mọi nguồn vốn trong và
ngoài nước để đầu tư phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn
nước ngoài có ý nghĩa quan trọng ”. * Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của nó đến hoạt động
xuất khẩu.
Chủ trương hợp tác đầu tư với nước ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý và thị trường thế giới phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được
xác định và cụ thể hoá trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng thời kỳ đổi mới. Luật
đầu tư nước ngoài tại Việt nam ban hành năm 1997 đánh dấu sự khởi đầu của quá
trình mở cửa nền kinh tế.
Những đóng góp của nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế.
- Luồng vốn FDI đẫ bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển nhằm
thực hiện mục tiêu đưa đất nước ra khỏi khủng khoảng, ổn định và phát triển kinh tế
góp phần khai thác nội lực về vốn, đất đai, tài nguyên, lao động của đất nước.
- Luồng vốn FDI bổ sung đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hình thành những
cân đối lớn của nền kinh tế.
-Hoạt động của khu vực FDI đã làm tăng khả năng cung ứng hàng hoá trên thị
trường, giảm nhu cầu nhập khẩu các hàng hoá thiết yếu, qua đó làm cho quan hệ cung
cầu trên thị trường ổn định cân đối, tạo khả năng giảm giá và tỷ lệ lạm phát, nâng cao
mức sống xã hội.

phải nhập khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng như trước đây.
+ Hoạt động của khu vực FDI đã tạo ra nhiều ngành nghề mới và sản phẩm
mới, đem lại năng lực sản xuất mới và công nghệ mới trong các ngành sản xuất mũi
nhọn.
+ Hoạt động chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra
nhiều sản phẩm tốt, hình thức đẹp đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và xuất
khẩu nhất là trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng như hàng dệt may, giầy dép, thuỷ
sản. . . Chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều đạt
tiêu chuẩn Việt nam, một số đạt tiêu chuẩn ISO.
- Nguồn vốn FDI đã có đóng góp tích cực và ngày càng lớn vào việc duy trì
nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng
nguồn thu ngân sách. + Tổng doanh thu của các doanh nghiệp có vốn FDI đến hết năm 1997 đạt 8,2 tỷ
USD. Trong đó năm 1995 đạt gần 1,4 tỷ USD; năm 1996 đạt trên 1,8 tỷ USD; năm
1997 đạt khoảng 2,35 tỷ USD. Năm 1998 ước đạt 3 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng doanh
thu thời kỳ 1991- 1997 từ 25% - 30%.
+ Đóng góp của khu vực có vốn FDI vào GDP tăng dần qua các năm: tỷ lệ này
đạt 2% năm 1992; 3,6% năm 1993; 7,7% năm 1996 và 8,65 năm 1997. Nếu tính cả
xây dựng cơ bản và dịch vụ khác thì tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào GDP của cả
nước đạt trên 10%.
+ Quy mô xuất khẩu của khu vực có vốn FDI tăng nhanh qua các năm: Năm
1991 xuất khẩu đạt 52 triệu USD; năm 1995 đạt 440 triệu USD ; năm 1996 đạt 786
triệu USD; năm 1997 đạt 1720 triệu USSD; năm 1998 đạt 2000 triệu USD. Tỷ lệ xuất
khẩu so với doanh thu tăng nhanh qua các năm: Năm 1995 đạt 31%; tăng lên 445 năm
1996; năm 1997 là 60%. Tỷ trọng xuất khẩu cũng tăng dần, 1,6% năm 1990 lên 4%
năm 1994, 19% năm 1997 và đến năm 2000là 23,4%. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là
hàng tiêu dùng như dệt may, giầy dép. . . Sự phát triển nhanh của hoạt động FDI cũng
thúc đẩy mạnh các hoạt động du lịch và thu ngoại tệ tại chỗ của Việt nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status