LUẬN VĂN:
Thực trạng – giải pháp phát triển kinh tế
tư bản nhà nước ở việt nam hiện nay 1. Sự cần thiết và khả năng sử dụng kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta
hiện nay.
1.1. Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản
nhà nước ở nước ta hiện nay.
Để thấy rõ tính khách quan của việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà
nước ở nước ta hiện nay chúng ta cần phải nắm được đặc điểm cũng như trình độ
của nền kinh tế nước ta. Có thể nói nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu với gần 80% dân số tham gia hoạt động nông nghiêp với kỹ thuật
thô sơ là phổ biến. Công nghiệp nhỏ bé, thương nghiệp, giao thông vận tải và dịch
vụ chưa phát triển. Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đang lãnh đạo nhân dân ta tiến
hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với mục đích đưa
thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại Đặc biệt trong điều kiện cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão thì hình thức kinh tế tư
bản nhà nước sẽ giúp chúng ta tránh khỏi nguy cơ bị tụt hậu. Bên cạnh đó, chúng
ta còn học tập thêm được những phương pháp cũng như những kinh nghiệm quý
báu của các nhà tư bản nước ngoài trong quản lý kinh tế. Đó là những tiền đề hết
sức cần thiết để nước ta tiến hành thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Như vậy, sử dụng kinh tế tư bản nhà nước không những là một tất
yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà còn là một biện pháp
để chúng ta tăng cường phát triền lực lượng sản xuất, trên cơ sở đó phát triển
nhanh nền kinh tế để đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước còn phù hợp với xu
thế quốc tế hoá đang diễn ra trên toàn bộ thế giới và đặc biệt là khu vực Đông
Nam á. Chúng ta sẽ không thể phát triển được nếu không mở rộng quan hệ kinh tế
với các nước trong khu vực và trên thế giới kể cả các nước chủ nghĩa xã hội cũng
như các nước tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, sự hợp tác về kinh tế với các nước tư bản
thông qua hình thữc kinh tế tư bản nhà nước là một tất yếu trong quá trình mở
rộng sự hợp tác phát triển trên mọi lĩnh vực. Từ tất cả các điều trên có thể kết luận rằng ở nước ta hiện nay, việc sử dụng
hình thức kinh tế tư bản nhà nước là một tất yếu khách quan. Sử dụng kinh tế tư
bản nhà nước sẽ là điều kiện cần thiết để khắc chế tính tự phát trong sản xuất và
chế độ sản xuất phân tán kém hiệu quả của kinh tế sản xuất nhỏ, nhằm khai thác
tối đa tiềm năng để tập trung cho các nguồn lực hướng về mục tiêu kinh tế - xã hội
cao nhất như công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và các chương trình kinh tế
lớn khác. Hơn nữa, tố chất cạnh tranh vốn có của hình thái kinh tế tư bản chủ
nghĩa sẽ như chất xúc tác cho một môi trường kinh tế cạnh tranh sôi động, giúp
cho tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội có một sự nhận thức về bản thân
mình đúng hơn, ý thức hơn về nhu cầu tồn tại trong phát triển xã hội, và do đó sẽ
đáp ứng sản phẩm tốt hơn cho người tiêu dùng. Một hệ quả hết sức quan trọng của
bản tư nhân trong nước và liên doanh, liên kết giứa nhà nước và tư bản tư nhân
nước ngoài
Thứ ba, về mặt luật pháp, chúng ta đã ban hành và đang tiếp tục hoàn thiện
hành lang pháp lý về thành phần kinh tế tư nhân trong nước, liên doanh giữa nhà
nước và kinh tế tư bản tư nhân trong nước, về đầu tư nước ngoài cũng như liên
doanh giữa nhà nước và nước ngoài
Không những thế, những xu thế quốc tế hiện nay cũng tạo cho nước ta những
thuận lợi nhất định. Trước hết, đó là xu thế hoà bình, hợp tác quốc tế trên cơ sở hai
bên cùng có lợi. Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh trước kia, ngày nay, Việt Nam
mong muốn làm bạn với tất cả các nước, cùng hợp tác trong mọi lĩnh vực, đặc biệt
là kinh tế. Đây không chỉ là mong muốn của nước ta mà đã là sách lược của tất cả
các nước trong khu vực và hầu hết các nước trên thế giới. Xu thế này tạo điều kiện
rất thuận lợi để chúng ta kêu gọi, thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Cùng với xu thế hợp tác là xu thế quốc tế hoá. Quá trình quốc tế hoá đang
diễn ra hết sức mạnh mẽ trong khu vực cũng như toàn thế giới tác động rất mạnh
mẽ đến nền kinh tế nước ta. Trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại độc lập, riêng rẽ mà phải nằm trong mối quan hệ với các quốc gia khác,
đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Có thể nói nền kinh tế của một quốc gia ngày
nay nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế toàn cầu.
Chính vì vậy, kinh tế tư bản nhà nước đặc biệt là liên kết giữa nhà nước và tư bản
nước ngoài sẽ tạo điều kiện để nước ta gia nhập và là một bộ phận trong nền kinh
tế đó để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu.
Như vậy, nước ta có đầy đủ khả năng và điều kiện để vận dụng chủ nghĩa tư
bản nhà nước kể cả về mặt kinh tế cũng như chính trị, xã hội, luật pháp và xu
hướng quốc tế. Điều quan trọng nhất hiện nay là chúng ta phải vận dụng tốt lý luận
của Lê- nin vào tình hình cụ thể của nước ta để thu được hiệu quả cao.
2. Những hình thức cụ thể của kinh tế tư bản nhà nước đang được vận
dụng ở nước ta.
9% GDP của cả nước. Để phát huy thế mạnh của thành phần kinh tế này, bên cạnh
việc tạo điều kiện cho thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển, cần khuyến
khích nó liên doanh, liên kết với kinh tế nhà nước, qua đó mà tăng vốn, đổi mới
công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tăng sức cạnh tranh và tăng khả năng hợp
tác với nước ngoài. Đây là một đòi hỏi bức xúc của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Trong thời gian qua, nước ta đã áp dụng các phương thức góp vốn liên doanh
giữa nhà nước với các nhà tư bản để hình thành các công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn nhưng trong tổ chức vẫn còn những trở ngại. Để mở rộng hình
thức này, một mặt cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, mặt khác, đẩy mạnh hơn
nữa cổ phần hoá một bộ phận các doanh nghiệp nhà nước, phát triển các loại hình
các công ty cổ phần, có quy chế tạo khả năng lưu hành rộng rãi cổ phiếu, phát
triển thị trường chứng khoán, hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường. 2.2. Hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản tư nhân nước ngoài.
Trong lý luận của mình về chủ nghĩa tư bản nhà nước, Lê nin đã chỉ rõ việc
sử dụng vốn, các chuyên gia tư sản nước ngoài vào phát triển kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội là hết sức quan trọng. Hiện nay, trong bối cảnh quốc
tế mới, các nước đang và mới phát triển có cơ hội sớm đi tới một nền kinh tế hiện
đại thông qua nhiều con đường như học hỏi, tiếp nhận chuyển giao công nghệ
của các nước phát triển. Chính vì vậy, đối với nước ta hình thức liên doanh giữa
kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân nước ngoài sẽ giúp chúng ta phát triển sản
xuất trong nước, rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa nước ta với các nước trong
khu vực.
Hiện nay, liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản nước ngoài có hai hình
thức. Đó là các công ty liên doanh giữa nhà nước và tư bản nước ngoài và các
công ty 100% vốn nước ngoài. Thông qua các hình thức này, Nhà nước thu hút và
cho phép các nhà tư bản và công ty nước ngoài đầu tư vào trong nước để phát triển
sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, ta có thể tiếp thu những công nghệ sản xuất tiên
này theo đúng đường lối của Nhà nước.
2.3. Hình thức gia công đặt hàng.
Hình thức này áp dụng trong các ngành sản xuất vật chất. Thông qua hình
thức này, Nhà nước đặt hàng với các nhà tư bản trong và ngoài nước hoặc các
doanh nghiệp nhà nước nhận gia công cho các công ty nước ngoài. Hình thức này
với những chính sách phù hợp cũng đang mang lại những kết quả khả quan ở Việt
Nam trong những năm gần đây. Do đặc điểm của lực lượng lao động ở Việt Nam
là dổi dào với giá nhân công rẻ, lao động khéo léo, chăm chỉ nên nhiều đơn vị
nước ngoài đã quan tâm và thực hiện liên doanh, liên kết với các đơn vị kinh tế
thuộc sở hữu nhà nước dưới hình thức gia công, đặt hàng tham gia sản xuất một số
công đoạn trong dây chuyền chế tạo. Điều này cũng phù hợp với xu thế quốc tế
hoá và chính sách mở cửa ở Việt Nam hiện nay, tạo điều kiện giải quyết việc làm,
đúc rút kinh nghiệm về quản lý và cạnh tranh cho các đơn vị trong nước. Ngoài ra, trong hình thức gia công đặt hàng này còn có hình thức các đơn vị tham gia sản
xuất kinh doanh theo đơn đặt hàng của nhà nước, cũng có những vai trò nhất định
đối với sự nghiệp phát triển kinh tế.
2.4. Khu chế xuất.
Khu chế xuất về thực chất được coi là các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà
nước. Tại đây không phải chỉ có một loại hình kinh tế tư bản nhà nước đơn độc,
thuần tuý mà có nhiều hình thức cụ thể, bao gồm cả hình thức tô nhượng, liên
doanh, cho tư bản nước ngoài thuê. ở Việt Nam hiện nay, kể từ ngày thành lập khu
chế xuất đầu tiên 25/12/1981, bên cạnh 45 khu công nghiệp còn có 3 khu chế xuất.
Với việc phát triển nhanh về quy mô và số lượng các khu công nghiệp, khu chế
xuất, Việt Nam không chỉ giải quyết được một số lượng lớn lao động có việc làm
mà các khu công nghiệp, khu chế xuất này còn góp phần thúc đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tham gia vào quá trình hợp lý hoá, quy
hoạch hoá đô thị và bảo vệ môi trường. Do đó, các khu công nghiệp, khu chế xuất
này đã góp phần biến những vùng chậm phát triển có mức sống thấp thành những
nền kinh tế nhiều thành phần.
2.6.Các tổ chức hợp tác với tính cách là các hình thức kinh tế tư bản nhà nước.
Các cá thể tập hợp nhau lại và cùng tham gia vào sản xuất kinh doanh - đó là
loại hình kinh tế hợp tác. Nhưng trên thực tế còn xuất hiện những tổ chức hợp tác
khác nữa mà ta có thể coi đó là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Đó là các tổ chức hợp tác như kinh doanh liên hộ, tổ hợp dịch vụ, tổ hợp chế
biến, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm Những tổ chức hợp tác này có sử dụng
đất đai của sở hữu toàn dân, có vay vốn của Nhà nước, và nhất là có sự kiểm kê,
kiểm soát của nhà nước, thì với quan niệm rộng theo tư tưởng của Lê-nin đó cũng
là hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Hình thức này thể hiện rõ nét nhất
trong chế độ kinh doanh hỗn hợp giữa nhà nước với tập thể trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần nắm lấy hình thức này để phát triển
nền kinh tế quốc dân nói chung và xã hội hoá sản xuất nông nghiệp nói riêng.
2.7. Một số hình thức khác mới bắt đầu áp dụng ở Việt Nam.
Hiện một số lượng không nhỏ những công ty cổ phần. Việc cổ phần hoá các
xí nghiệp quốc doanh hiện nay là chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu hỗn hợp
là làm gọn nhẹ, tối ưu các thành phần kinh tế quốc doanh, tăng thành phần kinh tế
cá thể, tập thể, tư nhân. Đây là giải pháp nhằm thoát khỏi tình trạng làm ăn thua lỗ
của các xí nghiệp quốc doanh, tránh được tình trạng thất thoát tài sản, lãng phí
dưới nhiều hình thức, nâng cao trách nhiệm của người lao động cũng như nâng cao
được trình độ quản lý Tất nhiên, chúng ta vẫn phải củng cố các xí nghiệp quốc
doanh, nhất là những đơn vị có vị trí quan trọng trong nền kinh tế cũng như xác
định mức cổ phần thích hợp trong từng loại đơn vị cổ phần. Cổ phần hoá các xí
nghiệp nhà nước đang trở nên phổ biến và đem lại kết quả rõ rệt ở hầu hết các
nước trên thế giới. Đây cũng là xu thế tất yếu của nước ta. Tuy nhiên, ở nước ta,
cái khó hiện nay là sản xuất chưa ổn định, lạm phát vẫn còn cao, số đông người
lao động không có vốn để góp cổ phần. Những người có khả năng về vốn trong lúc
này chưa dám mạo hiểm bỏ tiền ra mua cổ phần mà gửi tiết kiệm lấy lãi hoặc kinh
vạn lao động vệ tinh khác. Chúng đã có những đóng góp không nhỏ vào sự tăng
trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là góp phần từng bước cân bằng cán cân ngoại
thương, tạo điều kiện cho chúng ta học tập kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của
các nước.
Nhưng trong quá trình phát ttiển, lực lượng kinh tế này cũng đã bộc lộ một
số hạn chế, khiếm khuyết như: các dự án đầu tư có quy mô nhỏ lại chủ yếu đầu tư
vào những ngành có thể đêm lại lợi nhuận ngay và thu hồi vốn nhanh, ít đầu tư
vào những ngành có công nghệ cao - ngành mà chúng ta đang thiếu; vốn đầu tư
chủ yếu tập trung ở phía nam đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu; thủ tục đầu tư còn nhiều vướng mắc, trình độ của lao động kỹ
thuật còn hạn chế Chính vì vậy chúng ta phải có những phương hướng để nâng
cao hiệu quả của thành phần kinh tế này.
Muốn tạo điều kiện để cho kinh tế tư bản nhà nước ở Việt Nam phát triển
theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta đã đề ra phương
hướng trong văn kiện đại hội Đảng VIII như sau: “ Cải thiện môi trường đầu tư và
nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong các xí nghiệp
hợp tác, liên doanh. “ Đối với các nhà đầu tư trong nước: “ áp dụng nhiều phương
thức góp vốn liên doanh giữa nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong nước
nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác
và cạnh tranh với bên ngoài. “ Chỉ có vậy tư bản nước ngoài mới yên tâm đầu tư
vào nước ta cũng như các nhà đầu tư trong nước có thể yên tâm đầu tư, thay thế,
sử dụng những trang thiết bị hiện đại. Đó chính là phương hướng để phát huy
được những ưu việt của thành phần kinh tế này. Cụ thể phương hướng phát triển
thành phần kinh tế tư bản nhà nước như sau:
Thứ nhất, đối với đầu tư nước ngoài: Chúng ta cần chủ động tạo điều kiện
như cải thiện môi trường đầu tư, giảm bớt các thủ tục hành chính, tạo nhiều ưu
đãi và bằng nhiều hình thức khác nữa để thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư của
đa dạng hoá các hình thức liên doanh, liên kết với các tổ chức và công ty tư bản
nước ngoài, chúng ta cần nâng cao tỷ lệ đầu tư của phía Việt Nam để phát huy khả
năng kiểm kê, kiểm soát, cũng như để đưa những đơn vị này phát triển theo đúng
định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, chúng ta cũng cần áp dụng những phương
thức thích hợp nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp trong nước phát triển,
tăng sức cạnh tranh và có đủ điều kiện khả năng để hợp tác với bên ngoài. 3.2. Điều kiện để vận dụng thành công chủ nghĩa tư bản nhà nước vào
nước ta
Điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất để có thể vận dụng thành công chủ
nghĩa tư bản nhà nước vào nước ta là nâng cao vai trò lãnh đạo của nhà nước, mà
vấn đề trọng tâm là củng cố và tăng cường sức mạnh điều tiết kinh tế của nhà
nước.Trước hết, cần tăng cường tiềm lực kinh tế của nhà nước bằng nhiều biện
pháp. Cần phát triển hơn nứa thành phần kinh tế nhà nước, làm cho kinh tế nhà
nước thực sự hoạt động có hiệu quả, phát huy tốt vai trò chủ đạo, dần dần trở
thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thứ hai, chúng ta cần phải nâng cao
năng lực điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Những công cụ quan trọng nhất
cần được sử dụng có hiệu quả là các chính sách tài chính, tiền tệ. Với công cụ này,
Nhà nước có thể điều tiết (khuyến khích hay hạn chế) sự phát triển của bất cứ
doanh nghiệp nào. Hệ công cụ điều tiết cụ thể ở đây là chính sách thuế, lãi suất, tỉ
giá hối đoái. Không những thế, bộ máy nhà nước cần được củng cố và đổi mới
theo hướng đoạn tuyệt triệt để với các di sản của cơ chế bao cấp, thay bộ máy
quan liêu bằng bộ máy quản lý hoạt động theo nguyên tắc công nghiệp và thị
trường.
Như vậy, có thể nói, để sự phát triển “ đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà
nước ” không làm thay đổi gì bản chất chế độ xã hội ở nước ta, không đi ra ngoài
quỹ đạo của định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta cần được củng cố vững
chắc, thật sự là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước cần nắm vững các đỉnh cao
của nền kinh tế, nắm chắc các công cụ kinh tế vĩ mô (đặc biệt là chính sách tài
được nhu cầu của thị trường thế giới, giúp chúng ta nhanh chóng rút ngắn khoảng
cách về trình độ kinh tế so với thế giới, tạo ra những điều kiện thuận lợi để cho
thành phần kinh tế tư bản nhà nước có điều kiện phát triển, đặc biệt là hình thức có
thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sản xuất hàng xuất khẩu.
Kết luận
Qua tất cả các phần đã nghiên cứu ở trên, chúng ta đã phần nào nắm được tư
tưởng của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong hệ thống chính sách “ Kinh
tế mới ” cũng như vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước đối với thực tiễn hiện nay
của nước ta.
Như vậy, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự can thiệp một cách tích cực của
nhà nước xã hội chủ nghĩa vào quá trình kinh tế của các nhà tư bản. Nó khác hẳn
chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ còn tồn tại nhà nước tư sản. Tính chất
hoạt động của nó đã thay đổi: nó không chỉ chịu sự kiểm soát và chi phối của nhà
nước xã hội chủ nghĩa mà còn hợp tác với nhà nước xã hội chủ nghĩa để cùng sản
xuất kinh doanh. Chính vì vậy, Lê nin đã cho rằng việc sử dụng chủ nghĩa tư bản
nhà nước là “ bước đệm quan trọng để tiến tới chủ nghĩa xã hội ”. Và việc sử dụng
chủ nghĩa tư bản nhà nước “ sẽ đưa chúng ta tới chủ nghĩa xã hội bằng con đường
chắc chắn nhất ”.
Hiện nay, nước ta đang từng bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn
cảnh mới. Trong đường lối đổi mới của mình, chúng ta đã đặt kinh tế tư bản nhà
nước đứng ở vị trí thứ ba trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Như vậy, kinh tế
tư bản nhà nước không chỉ được coi như một thành phần kinh tế cùng tồn tại bình
đẳng với các thành phần kinh tế khác, mà nó còn mang ý nghĩa như những “ nấc
thang trung gian cần thiết ” để liên kết các thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong
nước, kể cả tầng lớp tiểu tư sản hướng sự phát triển đó theo tay lái Nhà nước
XHCN. Với ý nghĩa như vậy, kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta không thể chỉ coi