lời nói đầu
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế
giới đang phát triển nh vũ bão với tốc độ nhanh trên tất cả các lĩnh vực. Sự
phát triển của khoa học công nghệ đã làm cho nền kinh tế thế giới có những
biến đổi to lớn và sâu sắc đồng thời đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống
kinh tế thế giới. Chính vì vậy ngày nay hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu
tất yếu đối với sự phát triển đi lên của mỗi quốc gia. Hoà nhập với xu thế này,
trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là từ khi tiến hành đổi mới
kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nớc ta rất coi trọng các hoạt động kinh tế đối
ngoại. Trong báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ơng Đảng tại đại hội
Đảng VIII đã nhấn mạnh:
. . . Tiếp tục thực hiện đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa ph-
ơng hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn
làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc
lập phát triển. Hợp tác nhiều mặt, song phơng và đa phơng với các nớc, các tổ
chức quốc tế và khu vực. . . .
Từ tháng 7/1995, ta đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các
nớc Đông Nam (ASEAN) ;từ tháng 3/1996, ta là một trong những thành viên
sáng lập của diễn đàn Hợp tác á-ÂU (ASEM). Từ tháng 11/1998, ta đã trở
thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á Thái Bình
Dơng (APEC)và đang trong quá trình đàm phán để gia nhập vào tổ chức thơng
mại thế giới (WTO).
Tham gia vào các tổ chức này sẽ tạo điều kiện cho việt Nam sánh vai với
các nớc trên diễn đàn quốc tế, mở rộng khả năng hợp tác kinh tế và đầu t cũng
nh tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thơng mại giữa nớc ta với
các nớc
Tuy nhiên, chúng ta tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới nghĩa là
chúng ta phải chấp nhận xu hớng hợp tác trong cạnh tranh. Đây vừa là thời cơ
mà ta có thể tận dụng để phát triển đất nớc đồng thời cũng là thách thức trớc
ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những ngời sản suất hàng hoá riêng
biệt của các quốc gia.
1. 2 vai trò của thơng mại quốc tế
Quốc gia cũng nh cá nhân không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ đợc.
Thơng mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là ngoại thơng
mở rộng khả năng sản suất và tiêu đùng trong nớc khi thực hiện chế độ tự,
cung tự cấp, không buôn bán.
Thơng mại quốc tế có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia, không chỉ do nó cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi
quốc gia mà nó còn giúp quốc gia đó phát triển. Bên cạnh đó có nhiều lý do
khác khiến thơng mại quốc tế trở nên vô cùng quan trọng.
Thơng mại quốc tế cần thiết cho việc thực hiện chuyên môn hoá sâu để
có hiệu quả kinh tế trong nhiều ngành công nghiệp hiện đại. Chuyên môn hoá
quy mô lớn làm cho chi phí sản xuất giảm và hiệu quả kinh tế theo quy mô sẽ
đợc thực hiện ở từng nớc trong các nớc khác nhau.
Sự khác nhau về sở thích hay mức cầu cũng là một nguyên nhân khác để
có thể buôn bán. Ngay cả trong trờng hợp hiệu quả tuyệt đối trong hai nơi
giống hệt nhau, buôn bán vẫn có thể diễn ra do khác nhau về sở thích.
Có thể nói nhu cầu trao đổi xuất hiện từ thời cổ đại nhng chỉ từ khi ra đời
của nền sản xuất t bản chủ nghĩa mới phá vỡ tính chất đóng kín của từng đơn
vị kinh tế trong từng quốc gia và của từng nớc.
Chế độ t bản chủ nghĩa gắn chặt thị trờng dân tộc với thị trờng thế giới,
gắn chặt phân công lao động trong nớc với phân công lao động quốc tế. Ngoại
thơng trở nên không thể thiếu đợc với phơng thức sản xuất đó, nh Lê-Nin đã
nhận xét: không có thị trờng bên ngoài thì một số nớc t bản không thể sống
đợc
- 3 -
. Thực tế chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể bằng chính
sách đóng cửa với nớc ngoài lại phát triển nhanh và có hiệu quả kinh tế cao đ-
ợc. Muốn phát triển nhanh, mỗi nớc không thể đơn độc dựa vào nguồn lực của
đó nó không chỉ là một hành vi bán riêng lẻ mà là cả một quá trình kinh doanh
phức tạp bao gồm nhiều khâu khác nhau.
- 4 -
Trong thời đại ngày nay, thời đại của cùng tồn tại hoà bình, cùng vơn tới
ấm no hạnh phúc và cũng là thời đại của việc vơn tới mở cửa và mở rộng giao
lu kinh tế. Do đó xu hớng phát triển của nhiều nớc trong những năm gần đây
là thay đổi chiến lợc kinh tế từ đóng cửa sang mở cửa và từ thay thế nhập
khẩu sang hớng vào xuất khẩu. Có thể nói đây là con đờng đúng đắn cho
sự phát triển vợt bậc giúp cho nền kinh tế của mỗi quốc gia ngày càng phát
triển.
Đối với những nớc mà nền kinh tế cha phát triển cao nh nớc ta thì những
nhân tố thuộc về tiềm năng nh lao động và tài nguyên thiên nhiên là rất lớn
trong khi các nhân tố nh vốn, kỹ thuật - công nghệ, và kinh nghiệm quản lý
còn thiếu. Vì vậy, chiến lợc hớng vào xuất khẩu thực chất là giải pháp mở cửa
nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nớc ngoài kết hợp với những
tiềm năng bên trong về lao động và tài nguyên thiên nhiên sẽ giúp cho nền
kinh tế Việt nam tăng trởng nhanh, rút ngắn khoảng cáchchênh lệch giàu
nghèo. Mặt khác, Việt nam cũng phải ra sức phát triển sản xuất, xuất khẩu
hàng hoá, nhập khẩu những công nghệ mới tiên tiến nhằm thực hiện tốt các
mục tiêu kinh tế đã đặt ra.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lu thông hàng hoá
của quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu
dùng của nớc này với nớc khác. Ngoài ra, xuất khẩu hàng hoá ra nớc ngoài
cho phép chúng ta khai thác đợc tiềm năng, thế mạnh về sức lao động và tài
nguyên thiên nhiên. Vì vậy, nền sản xuất xã hội phát triển nh thế nào trong
giai đoạn hiện nay phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu không những đợc thừa nhận là hoạt động cơ bản của hoạt
động kinh tế đối ngoại mà nó còn là một phơng tiện thúc đẩy tăng trởng kinh
tế. Do vậy, các Chính phủ ở các quốc gia trong chiến lợc phát triển kinh tế của
mình đều coi hoạt động xuất khẩu là một hoạt động trọng tâm để thúc đẩy
động xuất khẩu.
Bên cạnh những cơ hội, chúng ta cũng còn gặp rất nhiều khó khăn trong
sự nghiệp công nghiệp hoá đất nớc. Vì xuất phát điểm của chúng ta quá thấp.
Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều
nớc trong khu vục và trên thế giới. Mỹ và phơng tây tiếp tục mu toan thực hiện
chiến lợc diễn biến hoà bình. Gây áp lực đối với chúng ta về vấn đề dân
chủ, nhân quyền, đa nguyên đa đảng. Nguy cơ đi chệch hớng XHCN.
Nền kinh tế trong nớc còn nhiều yếu kém. Vẫn hiện trạng tham ô, tham
nhũng nhiều. Bộ máy quản lý còn quan liêu, thủ tục hành chính còn dờm dà.
Đội ngũ cán bộ vừa thiếu lại vừa yếu, đặc biệt đối với cán bộ thuộc lĩnh vực
ngoại thơng.
Nhận thức rõ những điều kiện thuận lợi và khó khăn trên Đảng và Nhà n-
ớc ta đã đề ra phơng hớng chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Phát
huy lợi thế tơng đối, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá. Đáp
ứng tốt nhu cầu của sản xuất và đời sống. Hớng mạnh vào xuất khẩu, thay thế
- 6 -
nhập khẩu những mặt hàng trong nớc sản xuất có hiệu quả. Mở rộng quan hệ
kinh tế đối với các nớc, các tổ chức quốc tế, các công ty và các t nhân nớc
ngoài, trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền bình đẳng và cùng có lợi,
phù hợp với cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Vậy đẩy mạnh xuất khẩu có vị trí, vai trò quan trọng trong đổi
mới cơ cấu kinh tế, thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vai trò của xuất khẩu đợc thể hiện ở các mặt sau:
2. 2. 1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
ở nớc ta, để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nớc
trong thời gian ngắn, đòi hỏi chúng ta phải có nguồn vốn lớn để nhập khẩu
máy móc thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có
thể đợc hình thành từ các nguồn sau: đầu t nớc ngoài, vay nợ hoặc viện trợ,
ngoại tệ thu đợc từ các nguồn khác. Trong các nguồn trên thì các nguồn nh
Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu gạo, chè,
cà phê. . . sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất nông nghiệp và các
ngành chế biến có liên quan.
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần cho sản
xuất phát triển ổn định. Khi sản xuất bắt đầu lớn mạnh thị trờng trong nớc
không đủ khả năng làm cho sản xuất phát triển mạnh đợc, chỉ có thị trờng
rộng lớn ở bên ngoài mới có thể đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ và không
ngừng của các ngành nghề trong nớc và đảm bảo sản xuất phát triển ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phơng
tiện quan trọng tạo ra vốn, kỹ thuật và công nghệ từ thế giới bên ngoài vào
Việt nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nớc tạo ra một năng lực sản
xuất mới.
Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thị trờng thế giới về giá cả, chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng
ta phải tổ chức lại sản xuất hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi với thị trờng.
Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và không
ngừng phát triển trong hoạt động kinh doanh của mình để có thể đứng vững
trong cạnh tranh trên thị trờng thế giới.
2. 2. 3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống của nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống của nhân dân bao gồm rất nhiều
mặt:
Trớc hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi tiêu thu hút hàng triệu lao động
vào làm việc với thu nhập không nhỏ.
- 8 -
Hơn nữa, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu các vật phẩm
tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của
ổn định doanh nghiệp trớc sự biến động của thị trờng trong nớc. Bằng
cách khai thác thị trờng thế giới,công ty sẽ khai thác thị trờng thế giới,công ty
- 9 -
sẽ không bị bó tay trớc những thay đổi về kinh tế, về nhu cầu của khách hàng
và những biến động theo thời vụ trên thị trờng trong nớc.
- Tận dụng năng lực sản xuất d thừa. nhờ xuất khẩu mà có thể tận dụng
năng lực sản xuất và thời gian sản xuất,do đó làm giảm chi phí của một đơn vị
sản phẩm,và tăng hiệu quả kinh tế.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh. Do xuất khẩu mà có thể tăng thêm năng
lực cạnh tranh của một nớc, của một doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp có
lợi do việc sử dụng công nghẹ mới,các phơng pháp và sản xuất mới thì năng
lực của doanh nghiệp đợc nâng lên và cán cân thơng mại trong nớc dợc phát
triển
II. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu.
1. Vì sao phải có chính sách thúc đẩy xuất khẩu.
Khác với hoạt động thơng mại trong nớc, xuất khẩu thuộc phạm vi của
thơng mại quốc tế, do vậy nó chịu sự chi phối và điều khiển của các quy luật
vợt ra khỏi phạm vi biên giới của một quốc gia. Chính vì thế mà hoạt động
xuất khẩu thờng phức tạp hơn nhiều so với các hoạt động thơng mại trong nớc.
Nếu để hoạt động xuất khẩu tự do không có các biện pháp điều chỉnh và thúc
đẩy thì hoạt động xuất khẩu sẽ không hiệu quả và gặp nhiều khó khăn bởi các
lý do sau đây:
1. 1 Những khó khăn của hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu phụ thuộc vào rất nhiều các điều kiện khác nhau,
đồng thời trong quá trình tiến hành hoạt động xuất khẩu cũng nảy sinh nhiều
vấn đề có tính chất đặc thù của loại hình này.
Một trong những điều kiện để có đợc các sản phẩm có khả năng cạnh
tranh quốc tế là sự tồn tại của một hệ thống các điều kiện khung về chính sách
thích hợp cho sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất doanh nghiệp sản xuất ra
các sản phẩm thích hợp cho xuất khẩu. Các điều kiện khung này bao gồm các
các hoạt động kinh doanh với nớc ngoài. Những điều khác nhau về hệ thống
pháp luật, quan niệm về pháp luật cũng nh những khó khăn trong việc bảo vệ
quyền lợi của mình ở nớc ngoài cũng rất quan trọng và cần phải đợc đặc biệt
lu ý.
Tất cả những khó khăn trên làm cho hoạt động xuất khẩu cần có sự hỗ
trợ và thúc đẩy để nó có thể tiến hành đợc rễ dàng.
1. 2 Những yêu cầu đặt ra cho hoạt động xuất khẩu.
Để tránh nguy cơ tụt hậu so với các nớc trong khu vực và trên thế giới,
chúng ta cần phải xây dựng những chính sách về kinh tế cho phù hợp, đặc biệt
chính sách xuất khẩu. Tuy nhiên, để có thể có đợc những chính sách phát triển
xuất khẩu đúng đắn, có hiệu quả, đòi hỏi chúng ta cần phải nghiên cứu về
những yêu cầu mà xuất khẩu cần phải đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế
Việt nam.
1. 2. 1 Xuất khẩu phải ra sức khai thác có hiệu quả nguồn lực của
đất nớc.
- 11 -
Thế mạnh lớn nhất của Việt nam là có lực lợng lao động dồi dào. Lực l-
ợng lao động của Việt nam đợc đánh giá là có khả năng tiếp thu kỹ thuật cộng
nghệ nhanh lại cần cù, siêng năng, có nhiều ngành nghề truyền thống, nhạy
cảm với cái mới, hơn nữa giá nhân công lại rẻ. Xuất khẩu phát triển có nghĩa
là chúng ta đã giải quyết đợc việc làm cho một số lợng lớn ngời lao động.
Ngoài ra, Việt nam còn có một quỹ tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa
dạng nh đất, rừng, biển, khoáng sản, thuỷ sản. . . . Yêu cầu đặt ra là phải khai
thác đợc nguồn lực trong nớc, thúc đẩy xuất khẩu có hiệu quả.
1. 2. 2 Xuất khẩu phải mở rộng thị trờng, nguồn hàng và đối tác kinh
doanh xuất khẩu nhằm tạo thành cao trào xuất khẩu, coi xuất khẩu là mũi
nhọn đột phá cho sự giàu có.
Xuất khẩu phải mạnh và có hiệu quả để tạo thế đứng cho nớc ta trên th-
ơng trờng quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, muốn gia nhập các tổ chức kinh
tế quốc tế thì nớc ta phải có đợc các quan hệ kinh tế bền vững với các trung
+ Cuối cùng do những nguyên nhân về cán cân thanh toán cần thiết phải
áp dụng các biện pháp khuyến khích xuất khẩu để thông qua tăng xuất khẩu
mà giảm thâm hụt trong cán cân thanh toán.
2. Mục tiêu của chính sách thúc đẩy xuất khẩu.
Để thực hiện chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội, chính sách
thúc đẩy xuất khẩu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nớc nông nghiệp
thành một nớc công nghiệp, từ công nghiệp chế biến dựa trên lao động thủ
công, kỹ thuật giản đơn đến công nghiệp chế tạo dựa trên vốn cao và kỹ thuật
hiện đại. Theo đó sự chuyển dịch cơ cấu hàng chế tạo và tỷ lệ hàng chế tạo
xuất khẩu có xu hớng tăng nhanh. Công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu không
phải là mục đích tự thân mà nó là phạm trù lịch sử cho nên mục tiêu trực tiếp
cụ thể không thể nào khác là nhằm phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững,
có hiệu quả. Phấn đấu vợt qua tình trạng nớc nghèo và kém phát triển, cải
thiện đời sống nhân dân củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất
nớc phát triển nhanh hơn vào thế kỷ 21.
Thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu nhằm đặt nền kinh tế quốc gia
trong quan hệ cạnh tranh trên thị trờng quốc tế nhằm phát huy lợi thế so sánh,
buộc sản xuất trong nớc phải luôn đổi mới công nghệ, không thể tồn tại với
năng suất thấp kém, mau chóng nâng cao khả năng mở rộng thị trờng và xúc
tiến thơng mại. Đích cuối cùng là làm thoả mãn nhu cầu của thị trờng, kể cả
thị trờng trong nớc và thị trờng quốc tế. Thúc đẩy xuất khẩu không có nghĩa là
xem nhẹ nhu cầu trong nớc, không chú ý thay thế nhập khẩu.
Chính sách thúc đẩy xuất khẩu nhằm:
+ Đảm bảo kim ngạch nhập khẩu phục vụ cho quá trình Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
+ Gắn sản xuất vì nền kinh tế trong nớc với các hoạt động của nền
kinh tế thế giới, nối kết các nền kinh tế với nhau và tạo ra một không
gian kinh tế rộng lớn hơn nhờ hiệu quả và buôn bán quốc tế.
- 13 -
+ Tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trởng kinh tế
khả năng quản lý, kinh doanh trong quá trình phát triển. Với vai trò cầu nối,từ
sự gắn két trong nớc, với thị trờng bên ngoài, xuất khẩu đã làm xuất hiện
những xu hớng tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu t đối với
từng ngành , từng vùng và cả nớc. nguồn thu do xuất khẩu mang lại cho phép
- 14 -
trang trải nhập khẩu vật t, thiết bị công nghệ nhằm tạo dựng cơ sở vật chất và
kỹ thuật của nền kinh tế theo định hớng xhcn.
Nếu nh trớc đây chúng ta chủ yếu xk hàng nguyên liệu thô và hàng tiểu
thủ công nghiệp đơn giản, thì nay hoạt động đã khơi thông đợc nhiều nguồn
hàng mới, với nhiều chủng loại,mặt hàng phong phú và đa dạng. XKmở rộng
đã phát huy các lợi thế so sánh của chúng ta, góp phần giải phóng mọi nguồn
lực của tất cả các thành phần kinh tế để đầu t sản xuất, sử dụng nhiều hơn
nguồn nguyên liệu, vật t khai thác trong nớc,đồng thời tạo ra hàng triệu chỗ
làm mới trong nhiều khu vực kinh tế.
Trong thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp hoạt động XK của ta chỉ bó hẹp
trong phe XHCN và mọt vài nớc khác,đợc thực hiện chủ yéu bằng phơng thức
hàng đổi hàng với Liên Xô và các nớc đông âu khác nay xk đã đợc mở rộng
phong phú linh hoạt với trên 100 nớc, bao gồm cả trung tâm kinh tế lớn của
thế giới XK ngày càng tăng và đối tác ngày càng nhiều theo hớng đa phơng
hoá đã giúp ta vợt qua cú sốc thị trờng do thị trờng truyền thống bị gián đoạn
đầu những năm 90, tránh cho ta khỏi bị ảnh hởng tiêu cực do phụ thuộc vào
một vài thị trờng đơn lẻ khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ cuối những
năm 90 xảy ra và cả sau sự kiện 11/9/2001, giữ vững sự ổn định của nền kinh
tế nớc ta.
Quá trình phát triển tích cực và có hiệu quả của hoạt động xuất khẩu
không tách rời sự phát triển của thị trờng trong nớc theo định hớng XHCN.
trong hơn 10 năm qua, lu thông hàng hoá trong nớc diễn ra sôi động ,cơ bản
đáp ứng đợc các nhu cầu sản xuất tiêu dùng trong nớc ngày càng đa dạng, góp
phần thực hiện công bằng xã hội
Chơng II
kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt nam
qua những năm đổi mới 1986 - 1998
Đơn vị tính: Tr. USD
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng kim ngạch XNK
1986 789 2155 2944
1987 854 2455 3309
1988 1038 2756 3794
1989 1946 2566 4512
1990 2402 2752 5154
1991 2087 2388 4475
1992 2581 2641 5125
1993 2985 3924 6904
1994 3600 4500 8100
- 16 -
1995 5300 6500 11800
1996 7255 11144 18399
1997 9268 11742 21011
1998 9300 11200 20500
1999 11540 11622 23162
2000 14308 15201 29509
2001 15100 16000 31100
Nguồn:Bộ kế hoạch và đầu t
Nhìn chung trong thời kỳ đổi mới, kim ngạch xuất khẩu của Việt nam
tăng nhanh. Năm 1988, một năm sau khi thực hiện cơ chế chuyển sang kinh tế
thị trờng, khối lợng xuất khẩu tăng 80% so với năm 1987. Bắt đầu từ đó, Việt
nam duy trì mức tăng trởng xuất khẩu bình quân hơn 20% một năm. Hoạt
động nhập khẩu trong 10 năm qua ( 1986-1996) cũng đi theo một xu hớng t-
ơng tự: gia tăng đều đặn nhng tốc độ chậm hơn tăng trởng xuất khẩu.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ 1991-1995 đạt 39,14 tỷ USD,
Năm 2000, tổng mức lu chuyển ngoại thơng đạt 29,5tỷ USD trong đó
xuất khẩu đạt 14,3tỷ USD tăng gấp 6lần năm 1990 . Nh vậy sau 2năm (1998-
1999) gặp rất nhiều khó khăn bởi tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu
vực,năm 2000 hoạt động xuất khẩu của nớc ta đã có những bớc phát triển đột
phá, tăng 52,8% so với năm 1998,24% so với năm 1999và vuợt xa chỉ tiêu kế
hoạch năm 2000. nếu so với năm 1996-năm đầu của kế hoạch 5năm 1996-
2000 thì kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đã tăng gấp gần 2 lần (197,1%).
Trong tổng số kim ngạch xuất khẩu năm 2000 khu vực kinh tế trong nớc
chiếm tỷ trọng trên 50%, đạt 7,4tỷ USD, tăng 8%so với 1999 khu vự có vón
đầu t nớc ngoài (bao gồm cả dầu thô) ớc tính đạt 6,9tỷ USD, tăng 47,4%. Xuất
khẩu bình quân đầu ngời năm 2000 đạt 184,2 USD, kết quả đó đã đa nớc ta ra
khỏi danh sách các nớc có nền ngoại thơng kém phát triển.
Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu đạt 15,1 tỷ USD tăng 405%so với năm
2000, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra từ đầu năm, nguyên nhân chủ yếu
là do tình hình kinh tế thơng mại thế giới diễn ra không thuận lợi, nhất là vào
những tháng cuối năm. Có 9 mặt hàng chủ lực là lạc nhân, cà phê, chè,gạo,hạt
điều,dầu thô, thủ công mỹ nghệ và điện tử bị giảm kim ngạch,chủ yếu do giá
giảm quá mạnh trên thị trờng thế giới. Tuy vậy các mặt hàng nông sẩn chủ lực
đều đợc tổ chức tiêu thụ tốt, mức tăng về lợng rất khá ( cà phê trên 25%, hạt
tiêu trên5%). . . đã làm thị phần của ta trên thị trờng thế giới đợc cải thiện.
Kim ngạch của nhóm hàng khác ngoài 16 nhóm chủ lực đạt mức tăng trởng
cao nhất từ trớc tới nay là 28,2% làm tỷ trọng của nhóm này trong tổng kim
ngạch xuất khẩu lên tới 26%. Điều này thể hiện tác dụng của việc mở rộng
quyền kinh doanh xuất khẩu cho mọi thơng nhân,khai thác triệt để tiềm năng
của các thành phần kinh tế trong việc tạo ra các mặt hàng xuất khẩu mới.
Năm 2001qua đi với nhièu sự kiện phức tạp,đặc biệt là sự kiện 11/9 đã có
những ảnh hởng bất lợi đến nền kinh tế thế thế giới. Năm 2002 kinh tế thế
giới cha có dấu hiệu phục hồi nhanh,giá một só mặt hàng của ta vẫn ở mức
thấp, dự đoán đó bộc lộ phần nào qua tình hình xuất khẩu tháng 1/2002 chỉ
- 18 -
trong và ngoài nớc để đầu t phát triển, trong đó vốn trong nớc có ý nghĩa
quyết định, vốn nớc ngoài có ý nghĩa quan trọng .
* Đầu t trực tiếp n ớc ngoài và tác động của nó đến hoạt động
xuất khẩu.
Chủ trơng hợp tác đầu t với nớc ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ,
kinh nghiệm quản lý và thị trờng thế giới phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
- 19 -
hoá đã đợc xác định và cụ thể hoá trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng
thời kỳ đổi mới. Luật đầu t nớc ngoài tại Việt nam ban hành năm 1997 đánh
dấu sự khởi đầu của quá trình mở cửa nền kinh tế.
Những đóng góp của nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế.
- Luồng vốn FDI đẫ bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu t phát triển
nhằm thực hiện mục tiêu đa đất nớc ra khỏi khủng khoảng, ổn định và phát
triển kinh tế góp phần khai thác nội lực về vốn, đất đai, tài nguyên, lao động
của đất nớc.
- Luồng vốn FDI bổ sung đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hình
thành những cân đối lớn của nền kinh tế.
-Hoạt động của khu vực FDI đã làm tăng khả năng cung ứng hàng hoá
trên thị trờng, giảm nhu cầu nhập khẩu các hàng hoá thiết yếu, qua đó làm cho
quan hệ cung cầu trên thị trờng ổn định cân đối, tạo khả năng giảm giá và tỷ lệ
lạm phát, nâng cao mức sống xã hội.
- Hoạt động của khu vực FDI cũng có những tác động tích cực đến cân
đối chung của nền kinh tế. Cùng với quá trình phát triển của khu vực FDI và
mức đóng góp của chúng vào nguồn thu ngân sách ngày một gia tăng, tạo khả
năng chủ động hơn trong cân đối ngân sách, giảm mức bội chi ngân sách. .
Ngoài ra, trong thời kỳ đầu tuy nhập khẩu trong hoạt động FDI lớn hơn xuất
khẩu nhng mặt nhập khẩu này mang tính tích cực vì nó tạo ra tài sản cố định
và công nghệ cho sự phát triển bền vững. Khi hoạt động FDI đợc định hớng
tốt hơn và ổn định thì cánh kéo xuất nhập khẩu trong khu vực này sẽ đợc thu
hẹp lại và về lâu dài FDI sẽ có tác động tích cực đến cán cân thơng mại quốc
may, giầy dép, thuỷ sản. . . Chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài đều đạt tiêu chuẩn Việt nam, một số đạt tiêu chuẩn ISO.
- Nguồn vốn FDI đã có đóng góp tích cực và ngày càng lớn vào việc
duy trì nhịp độ tăng trởng cao và ổn định của nền kinh tế, đẩy mạnh xuất
khẩu, mở rộng nguồn thu ngân sách.
+ Tổng doanh thu của các doanh nghiệp có vốn FDI đến hết năm 1997
đạt 8,2 tỷ USD. Trong đó năm 1995 đạt gần 1,4 tỷ USD; năm 1996 đạt trên
1,8 tỷ USD; năm 1997 đạt khoảng 2,35 tỷ USD. Năm 1998 ớc đạt 3 tỷ USD.
Tốc độ tăng trởng doanh thu thời kỳ 1991- 1997 từ 25% - 30%.
+ Đóng góp của khu vực có vốn FDI vào GDP tăng dần qua các năm: tỷ
lệ này đạt 2% năm 1992; 3,6% năm 1993; 7,7% năm 1996 và 8,65 năm 1997.
Nếu tính cả xây dựng cơ bản và dịch vụ khác thì tỷ lệ đóng góp của khu vực
FDI vào GDP của cả nớc đạt trên 10%.
+ Quy mô xuất khẩu của khu vực có vốn FDI tăng nhanh qua các năm:
Năm 1991 xuất khẩu đạt 52 triệu USD; năm 1995 đạt 440 triệu USD ; năm
1996 đạt 786 triệu USD; năm 1997 đạt 1720 triệu USSD; năm 1998 đạt 2000
triệu USD. Tỷ lệ xuất khẩu so với doanh thu tăng nhanh qua các năm: Năm
1995 đạt 31%; tăng lên 445 năm 1996; năm 1997 là 60%. Tỷ trọng xuất khẩu
- 21 -
cũng tăng dần, 1,6% năm 1990 lên 4% năm 1994, 19% năm 1997 và đến năm
2000là 23,4%. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng nh dệt may,
giầy dép. . . Sự phát triển nhanh của hoạt động FDI cũng thúc đẩy mạnh các
hoạt động du lịch và thu ngoại tệ tại chỗ của Việt nam.
Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài năm 1998 đạt 2000 triệu
USD tăng hơn 11,7% so với năm 1997 ( năm 1997 đạt 1790 triệu USD ), năm
2000 ớc đạt 6,9 tỷ USD(bao gồm cả dầu thô), tăng 47,4%, năm 2001 tăng 5%
2- Chính sách lựa chọn thị tr ờng xuất khẩu.
Mục tiêu thị trờng trong tơng lai của chúng ta là biến đổi cơ cấu khu
vực và cơ cấu bạn hàng hiện nay theo hớng đa phơng hoá thị trờng, đa dạng
hoá bạn hàng . Xác định mục tiêu nh vậy chính là nhằm vận dụng đúng đặc
sách phù hợp cho từng nớc trong khu vực để có khả năng xuất khẩu tốt hơn.
2. 1. 2 Thị tr ờng Nhật Bản
Nhật Bản hiện nay là thị trờng xuất khẩu lớn nhất của việt nam. Nhật Bản
là một trong ba trung tâm công nghệ của thế giới. Nhật bản hiện nay đã trở
thành trung tâm giao dịch chứng khoán tiền tệ lớn thế giới. Nhật bản có thế
mạnh về kinh tế, công nghiệp, thơng mại, thị trờng. Đây là thị trờng chiếm
16%tổng kim ngạch xuất khẩu của nớc ta. Các mặt hàng việt nam xuất sang
Nhật Bản gồm hàng nông sản, thuỷ hải sản, hàng may mặc, bên cạnh đó còn
một số hàng công nghiệp nh máy móc thiết bị. thị trờng Nhật bản có những
nét đặc thù, vì vậy cần có sự nghiên cứu để có thể khai thác một cách tối đa
2. 1. 3 Thị tr ờng Mỹ.
Mỹ là thị trờng lớn nhất tiêu thụ các hàng thành phẩm của những nớc đang
phát triển. Mỹ là thị trờng chủ lực, tạo đà cho sự cất cánh và phát triển kinh tế
của nhiều nớc. Sử dụng công nghệ, kỹ thuật của Mỹ sẽ giúp ta nhanh chóng hoàn
thành sự nghiệp CNH - HĐH đất nớc. Ngày 3/2/1994, Mỹ đã bỏ cấm vận đối
với Việt nam và tháng 8/2000vừa qua nớc ta đã ký hiệp định thơng mại với Hoa-
Kỳ, đây là điều kiện thuận lợi cho Việt nam gia nhập WTO. kim ngạch xuất
nhập khẩu của ta với Hoa Kỳ tăng rất nhanh, năm sau cao hơn nhiều so với năm
trớc. Riêng xuất khẩu năm 1996 là 300 triệu, năm 1997 là 400 triệu USD.
Quan hệ thơng mại Việt - Mỹ
Đơn vị: 1000USD
1994 1995 1996 1997 1998
Xuất khẩu từ Việt nam vào
Mỹ
50. 450 198. 966 319.
037
388.
189
2. 1. 5 Thị trờng Trung Quốc.
Số liệu thống kê cho thấy nếu gộp cả hai bộ phận Trung Quốc lục địa và
Hồng Kông thì năm 1998, khu vực thị trờng này chiếm vị trí thứ t về kim
ngạch XNK và thứ sáu về vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt nam.
Việt nam xuất khẩu sang khu vực này trên 1300 tấn cà phê, gần 900 ngàn
tấn dầu thô, trên 110 triệu USD hàng hải sản, 26 triệu USD sản phẩm giầy
dép. .
2. 1. 6 Thị trờng Trung Đông
Khu vực Trung Đông nằm giữa ba Châu: Châu á, Châu âu, Châu phi,
không những có vị trí chiến lợc vô cùng quan trọng đối với các nớc lớn mà
- 24 -
còn là một thị trờng hàng năm nhập một khối lợng lớn hàng nông, lâm, hải
sản, gia vị, hàng mỹ nghệ và các mặt hàng tiêu dùng khác. Khu vực này với
dân số khoảng 250 triệu ngời. Trung Đông chiếm khoảng 60% trữ lợng dầu
mỏ của thế giới. Hầu hết các nớc trong khu vực này đã có quan hệ ngoại giao
với Việt nam
2. 1. 7 Thị tr ờng Nga và các n ớc SNG
Thị trờng Nga và các nớc SNG đã từng là thị trờng quan trọng nhất đối
với Việt nam trong quá khứ. Nhờ có thị trờng Liên Xô mà trong nhiều năm
chúng ta nhập khẩu đợc những nguyên liệu thiết yếu nh sắt thép, xăng dầu,
phân bón, hoá chất. . phục vụ cho công cuộc bảo vệ đất nớc và phát triển nớc
nhà. Đồng thời ta cũng xuất khẩu đợc nhiều sản phẩm sang thị trờng SNG.
Ngoài các thị trờng chính nói trên, các thị trờng úc, ấn độ, Châu phi, Mỹ
la tinh, Hàn Quốc, Đài Loan. . . Là những thị trờng có khả năng tiêu thụ hàng
xuất khẩu của ta. Do vậy, chúng ta cần tiếp tục hợp tác, tìm kiếm thị trờng để
đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trờng này
2. 2 Tác động của chính sách thị tr ờng đối với hoạt động xuất khẩu
của Việt nam.
Cùng với sự tăng trởng nhanh kim ngạch xuất khẩu, sự chuyển biến tích
cực cơ cấu hàng xuất khẩu, thị trờng xuất khẩu của Việt nam thời kỳ 1991-