Phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty ArtExport sang thị trường Nhật Bản - Pdf 32

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
LỜI MỞ ĐẦU
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời.
Truyền thống đó gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu
hiện bằng những sản phẩm thủ công truyền thống, với những nét độc đáo,
tinh xảo, hoàn mỹ. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam có nét riêng và
độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc Việt - một dân tộc có bề dày phát triển
hơn 4000 năm. Nhiều nghề và làng nghề truyền thống của ta đã nổi bật hẳn
lên trong lịch sử văn hoá, văn minh Việt Nam. Ở đó không chỉ tập chung
một hay nhiều nghề thủ công, trở thành một trung tâm sản xuất lớn hoặc khá
lớn, mà còn là nơi hội tụ các thợ và nghệ nhân tài khéo, tạo ra những sản
phẩm có bản sắc riêng, nơi khác khó bề bắt chước được.
Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, cũng như bất cứ của một dân
tộc nào khác, chất văn hoá lại rất đậm đà. Trên các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ thường biểu đạt phong cảnh sinh hoạt, con người, cảnh quan thiên
nhiên, lễ hội truyền thống, quan niệm về tự nhiên, biểu tượng thần, Phật..
Những nét chấm phá nghệ thuật trên tranh sơn mài, tranh lụa, những bức
chạm khắc gỗ, khảm xà cừ.. với cánh cò bay, cành trúc uốn cong, mái đình,
cây đa, con đò bến nước, ... đã thể hiện đất nước - con người và tâm hồn tình
cảm Việt Nam, làm cho người nước ngoài yêu mến nhân dân và đất nước
Việt Nam.
Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển ngoài công tác kinh
doanh, công ty ArtExport, đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực xã hội.
Một trong những thành tựu quan trọng đó là: Công ty đã góp phần giữ gìn,
bảo vệ và quảng bá rộng rãi các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
với thế giới. Hay nói cách khác, công ty đã góp phần bảo vệ và phát huy nền
văn hoá của dân tộc.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Hiện nay, không chỉ công ty ArtExport, mà rất nhiều các công ty xuất

mở rộng hoạt động.
Doanh nghiệp có tài chính để trả lương cho công, nhân viên làm việc
cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có thể quảng bá và phát triển thương hiệu một cách tốt
nhất, để từ đó sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ còn bị bó hẹp ở các thị
trường nhỏ bé nữa và ngày càng có nhiều người tiêu dùng biết đến và sử
dụng sản phẩm của doanh nghiệp hơn.
2. Các hình thức xuất khẩu.
2.1. Xuất khẩu trực tiếp.
Là hình thức xuất khẩu trong đó sản phẩm dệt may được chuyển trực
tiếp đến thị trường nhập khẩu bằng các phương tiện vận chuyển mà không
cần qua bất cứ khâu trung gian nào.
Ưu điểm: Hàng hóa được xuất khẩu nhanh, chất lượng hàng hóa được
bảo đảm theo yêu cầu của 2 bên, thông tin từ hai phía có thể phản hồi cho
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
nhau một cách nhanh nhất và chính xá nhất từ đó hai bên có thể kịp thời điều
chỉnh khi có những thay đổi, quan hệ giao dịch mua bán đơn giản và thuận
tiện, quan hệ hai bên sẽ ngày càng được củng cố.
Nhược điểm: Khó có thể mở rộng thị trường và thâm nhập thị trường
mới nhất là đối với các doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu và uy
tín trên thị trường, khó có thể tiếp xuc được hết với tất cả các bạn hàng.
2.2. Xuất khẩu qua trung gian.
Là hình thức xuất khẩu sản phẩm đến nơi người nhập khẩu phải qua
một hoặc một số các trung gian như trung gian giới thiệu, trung gian bán, ...
Ưu điểm: Hình thức xuất khẩu này có thể giúp doanh nghiệp mở
rộng thị trường, tìm kiếm thêm các thị trường và bạn hàng mới, doanh
nghiệp có thể tiếp xúc với nhiều bạn hàng trong cùng một thời gian.
Nhược điểm: Hình thức xuất khẩu này làm chậm tốc độ chu chuyển

Giúp doanh nghiệp có được một nguồn tài chính để trả lương cho cán
bộ, công nhân viên làm việc cho doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có thể đẩy mạnh hoạt đông xuất khẩu thì sẽ giúp
cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thị trường để từ đó có thể tồn
tại và phát triển.
Doanh nghiệp xuất khẩu được sản phẩm điều đó chứng tỏ là sản phẩm
của doanh nghiệp đã được thị trường chấp nhận. Đây là vấn đề quyết định
đến sự tồn tại hay diệt doanh của doanh nghiệp.
II. Những nội dung chính của xuất khẩu.
1. Điều tra nghiên cứa nhu cầu thị trường .
Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên và cũng là công việc vô
cùng quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào. Công
việc này đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian và chi phí của doanh nghiệp. Đối với
các doanh nghiệp lớn thì khâu nghiên cứu thị trường được giao cho phòng
kinh doanh còn đối với các doanh nghiệp nhỏ thì khâu nghiên cứu thị trường
do cán bộ kinh doanh đảm nhận. Quá trình nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho
doanh nghiệp trả lời các câu hỏi “ cần sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu,
bán với giá như thế nào ” để doanh nghiệp có thể trả lời được câu hỏi này thì
công việc nghiên cứu thị trường không phải làm cho qua loa và lấy lệ, nó đòi
hỏi trình độ và kinh nghiệm của phòng kinh doanh bởi nếu doanh nghiệp
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
không thể trả lời được câu hỏi này thì doanh nghiệp không thể tồn tại trong
nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt và ác liệt này. Trong nền
kinh tế thị trường này thì doanh nghiệp cần sản xuất và bán cái mà thị
trường cần chứ không phải sản xuất và bán mà cái mình có, chỉ khi nào
doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu và sở thích của thị trường thì doanh
nghiệp mới có thể đứng vững trên thị trường. Khi nghiên cứu nhu cầu thị
trường thì doanh nghiệp cần phải giải đáp rất nhiếu câu hỏi như : “đâu là thị

chuẩn bị để có đủ hàng hóa về số lượng, chất lượng và kịp thời gian để đáp
ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu của khách hàng có như vậy doanh nghiệp
mới tạo được vị thế và chỗ đứng vững chắc trên thị trường đặc biệt trong
lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa thì công tác đảm bảo có đủ hàng hóa kịp thời
đúng về chất lượng,số lượng, kịp thời gian lại càng trở lên quan trọng đối
với doanh nghiệp do vậy làm tốt công tác chuẩn bị có ảnh hưởng rất lớn đến
vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Để cho công tác này được tiến hành một
cách liên tục không bị gián đoạn thì các doanh nghiệp phải chú trọng đến các
nghiệp vụ ở kho như: Tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu sản phẩm, bao gói,
sắp xếp hàng hóa ở kho - bảo quản và ghép đồng bộ để xuất khẩu cho bạn
hàng. Tiếp nhận đầy đủ về số lượng và chất lượng hàng hóa từ các nguồn
nhập kho ( Từ các phân xưởng, tổ đội sản xuất của doanh nghiệp) theo đúng
mặt hàng quy cách, chủng loại hàng hóa. Thông thường, kho hàng hóa của
doanh nghiệp đặt gần nơi sản xuất sản phẩm. Nếu kho hàng đặt xa nơi sản
xuất ( Có thể gần nơi tiêu thụ ) thì doanh nghiệp phải tổ chức tốt công việc
tiếp nhận hàng hóa bảo đảm kịp thời, nhanh chóng, góp phần giải phóng
nhanh phương tiện vận tải, bốc xếp, an toàn sản phẩm, tiết kiệm chi phí lưu
thông.
4. Lựa chọn các hình thức xuất khẩu sản phẩm.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Có rất nhiều cách để doanh nghiệp có thể đưa hàng hóa của doanh
nghiệp mình ra thị trường và đến tay người tiêu dùng. Để hoạt động xuất
khẩu sản phẩm có hiệu quả cần phải lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm một
cách hợp trên cơ sở tính đến các yếu tố như đặc điểm sản phẩm, các điều
kiện vận chuyển, bảo quản, sử dụng…
Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và bạn hàng mà doanh
nghiệp có thể lựa chọn kênh xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp.
Kênh xuất khẩu trực tiếp là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu trực

khi mua sản phẩm của doanh nghiệp, cũng như các tin tức cần thiết từ phía
khách hàng, qua đó để doanh nghiệp tìm ra cách thoả mãn tốt nhất nhu cầu
của khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh có các hoạt động xúc tiến mua
hàng và bán hàng.
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm
và thúc đẩy cơ hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Xúc tiến bán
hàng chứa đựng trong đó các hình thức, cách thức và những biện pháp nhằm
thúc đẩy mạnh khả năng bán ra của doanh nghiệp.Xúc tiến bán hàng có ý
nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh thị trường và nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hóa trên thương trường, nhờ đó quá trình tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp được đẩy mạnh cả về số lượng và thời gian. Yểm trợ là
hoạt động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt
hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng các mối quan hệ với khách hàng, củng cố phát triển thị trường.
Những nội dung chủ yếu của hoạt động xúc tiến, yểm trợ bán hàng phải kể
đến là: quảng cáo, chào hàng, khuyến mại, tham gia hội trợ, triển lãm…
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
6. Lựa chọn đối tác để xuất khẩu.
Việc lựa có ảnh hưởng lớn đến quá trình xuất khẩu của doanh nghiệp
do vậy doanh nghiệp chọn đối tác nào để xuất khẩu thì doanh nghiệp cần
phải bỏ thời gian và chi phí để nghiên cứu về đối tác có như vậy chúng ta
mới có được các thông tin về đối tác điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ
dàng hơn khi đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác .Theo binh pháp Tôn Tử
thì “ Biết người, biết ta trăm trận trăm thắng. Biết ta mà không biết người thì
cầm chắc phần thua”. Nghiên cứu đối tác ta cần thu thập thông tin từ phía
đối tác, thông tin có thể lấy từ các bạn hàng đã làm việc với đối tác, cần phải
nghiên cứa về sở thích, nhu cầu cũng như các quy định, điều lệ của đối tác.
Việc lựa chọn đối tác nào, bỏ đối tác nào tùy thuộc vào hợp đồng cũng như

III. Khái quát chung về thị trường Nhật Bản và quan hệ thương mại
giữa Việt Nam –Nhật Bản.
1. Vài nét về Nhật Bản.
Nhật Bản là quốc gia nghèo tài nguyên, dân số đông, kinh tế bị tàn
phá kiệt quệ trong chiến tranh. Nhờ có các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật
Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973).
Từ năm 1974 đến nay, tốc độ phát triển kinh tế tuy chậm lại, song Nhật Bản
tiếp tục là một nước có tiềm năng lớn thứ 2 trên thế giới về kinh tế, KHKT,
tài chính.
Chính sách đối ngoại: Từ sau chiến tranh lạnh, Nhật Bản điều chỉnh
chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường tính độc lập, chủ động nhằm
vươn lên thành cường quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế, phát
huy vài trò và ảnh hưởng trên thế giới và Châu Á-Thái Bình Dương. Đường
lối đối ngoại của chính quyền mới thể hiện qua các khái niệm “ngoại giao
giá trị: thúc đẩy chủ nghĩa dân chủ, tự do và pháp trị” của Thủ tướng Abe và
“xây dựng vành đai tự do và thịnh vượng” của Ngoại trưởng Aso.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Hiện nay, các mặt hàng XK chính của VN sang thị trường này gồm:
may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ, hải sản, dầu thô, dây điện, đồ gỗ nội thất,
than đá, và giày dép... Đặc biệt, phải kể đến mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Đây là mặt hàng mới nổi lên và được khách hàng Nhật Bản rất ưa thích bởi
tính chất văn hoá đậm đà, truyền thống của Việt Nam.
1.1. Đặc điểm chung của thị trường Nhật Bản.
Nhật Bản không chỉ là một thị trường với khả năng tiêu dùng lớn mà
còn là một thị trường gần gũi về mặt địa lý và có nhiều điểm tương đồng về
văn hoá đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trao đổi về việc xuất khẩu
hàng hoá Việt Nam sang thị trường này, ông Nguyễn Trung Dũng: Quan hệ
giữa Việt Nam và Nhật Bản từ trước tới nay vốn là quan hệ đối tác tin

Về chính sách kinh tế đối ngoại: Nhật Bản đang có nhiều thay đổi
trong năm 2006, nhất là mấy tháng gần đây. Nhật Bản từ nhiều năm liền là
đồng minh thân cận của Mỹ nhưng xuất khẩu hàng hoá của nước này vào
Mỹ chiếm 22% trong khi nhập khẩu thì Trung Quốc mới là nước dẫn đầu
với tỷ lệ 25% (tổng mức xuất khẩu của tất cả các nước ASEAN chỉ chiếm
khoảng 14%, riêng Việt Nam khoảng 1%. Dự kiến, trong năm 2007, xuất
khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản sẽ đạt khoảng 12 tỷ USD).
1.2.2. Những quy định của Nhật Bản về xuất xứ hàng hóa.
Hiện nay, với cuộc sống văn minh, hiện đại trong tiêu dùng của Nhật
Bản thì đi kèm với nó là các yêu cầu đối với hàng hoá nhập khẩu vào thị
trường Nhật Bản. Do đó, có rất nhiều các hàng rào thuế quan và phi thuế
quan được dựng lên. Các hàng rào về thuế quan chủ yếu được dựng lên
nhằm bảo hộ các nhà sản xuất trong nước. Còn các hàng rào phi thuế nhằm
bảo vệ người tiêu dùng trong nước. Những hàng hoá nhập khẩu vào Nhật
Bản phải đảm bảo những tiêu chuẩn về chất lượng, xuất xứ hàng hoá, … Đối
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
với mặt hàng thủ công mỹ nghệ thì vấn đề về xuất xứ hàng hoá có vai trò rất
quan trọng. Bởi xuất xứ hàng hoá quy định nơi sản xuất ra hàng hoá đó mà
chỉ nơi đó mới sản xuất được hàng hoá đó hoặc nó mang đậm bản sắc riêng
của nơi đó, vùng đó. yếu tố văn hoá kết tinh trong hàng hoá là ưu thế của các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Chính vì vậy, đối với khách hàng nước ngoài
nói chung và khách hàng Nhật Bản nói chung rật quan tâm đến vấn đề này.
Một số kiến nghị với doanh nghiệp Việt Nam trong hợp tác với
doanh nghiệp Nhật Bản:
Doanh nghiệp Nhật Bản tương đối khó tính trong việc lựa chọn đối
tác làm ăn. Thường họ chú trọng công tác thẩm định trực tiếp. Khi chọn đối
tác để cung cấp hay nhập khẩu hàng hoá họ thường có nhu cầu thẩm định
hàng hoá trực tiếp. Mặt khác, người Nhật có thói quen đến tận doanh nghiệp

vươn lên thứ 2, vượt qua Thái Lan và Đài Loan. Tuy nhiên có một số lưu ý
là, gần đây nhu cầu về mặt hàng này đã thay đổi, thị hiếu của người Nhật
đang quan tâm vào các vật liệu gỗ lát ngoài, và phần trong của sản phẩm có
thể làm bằng các loại vật liệu khác.
Một mặt hàng cũng rất có tiềm năng trên thị trường Nhật Bản là túi
nhựa. Mỗi năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 800 triệu USD nhưng giá trị
xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 50 triệu USD.
Cuối cùng là mặt hàng thủ công mỹ nghệ: Nhu cầu về mặt hàng này
của Nhật Bản vẫn lớn nhưng thị phần của Việt Nam rất nhỏ. Trong mấy năm
gần đây đang có xu hướng chậm lại do thị hiếu của người tiêu dùng đang
thay đổi.
Quan hệ thương mại VN - Nhật Bản mang tính chất bổ sung, chứ
không cạnh tranh nhau, phù hợp với khả năng của mỗi nước. Do vậy, đây sẽ
là thị trường tiềm năng lớn cho hàng XK của VN.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của
Việt Nam.
Mậu dịch: Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ 1999.
Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là thuỷ sản, dệt may, dầu
thô, cáp điện, đồ gỗ… Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là cơ khí, sắt thép, điện
tử, xe gắn máy, nguyên liệu dệt, da…
Kim ngạch mậu dịch Việt Nam - Nhật Bản
Đơn vị: Tỷ USD
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Xuất
sang
Nhật
1,481 1,786 2,621 2,509 2,438 2,909 3,502 4,410

Viện trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản cho Việt Nam.
Đơn vị: Tỷ USD
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Viện trợ
không
hoàn lại
11,5 12,8 10,7 15,5 17,3 13,1 12,4 12,6 12,58 8,8
Khoản
vay
85 88 101,3 70 74,3 79,3 79,3 82,0 88,32 95,1
Tổng
cộng
96,5 100,8 112 86,4 91,6 92,4 91,7 92,6 100,9 103,9
(Nguồn: Cục thống kê Việt Nam)
Hai bên đã thoả thuận chương trình viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam
nhằm vào 5 lĩnh vực chính là: phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể
chế; xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực; phát triển
nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục đào
tạo và y tế; bảo vệ môi trường. Ngày 2/6/04, Nhật Bản đã công bố Chính
sách viện trợ ODA mới cho Việt Nam với 3 mục tiêu chính: Thúc đẩy tăng
trưởng, cải thiện đời sống - xã hội, hoàn thiện thể chế.
CHƯƠNG II
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA
CÔNG TY ARTEXPORT SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN.
I. Đặc điểm xuất khẩu của công ty ArtExport sang các thị trường trên
thế giới.
1. Những thị trường xuất khẩu của công ty.

tổng hợp)
Kim ngạch xuất khẩu theo từng thị trường năm 2007
Đơn vị: USD
Thị trường Giá trị Tỷ trọng (%)
Châu Á 5166725 46,62
Tây Âu 4680198 42,23
Châu Mỹ 520186 4,69
Châu Đại Dương 26963 0,35
SNG 526046 4,75
Châu Phi 162189 1,46
Tổng kim ngạch 11082307 100
(Nguồn: Kim ngạch xuất khẩu từng thị trường năm 2007 - Phòng Tài
chính tổng hợp)
1.1. Thị trường châu á.
Nhìn vào bảng trên ta thấy, xuất khẩu sang thị trường Châu Á đã có
mức tăng trưởng ngoạn mục. Năm 2006, kim ngạch đã tăng 17.5% so với
năm 2005; năm 2007 tăng 4,36% so với 2006 và Châu Á đã trở thành thị
trường xuất khẩu lớn nhất của Artexport. Các bạn hàng lớn nhất của Công ty
trong khu vực này phải kể đến Nhật Bản, Hàn Quốc , Đài Loan, Thái Lan,
Trung Quốc, Ấn Độ. Đây là các quốc gia có vị trí địa lý gần Việt Nam với
các đặc trưng văn hoá gần giống nhau, giao thông vận tải thuận lợi, thu nhập
đầu người ở mức khá trở lên. Do đó, đây là khu vực thị trường có tiềm năng
tăng trưởng rất lớn. Công ty cần tăng cường công tác quản lý kiểm tra chất
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
lượng sản phẩm, nghiên cứu kỹ các kênh phân phối với đặc thù thị trường,
tìm hiểu tập quán tiêu dùng của khu vực này để có biện pháp thích ứng.
Đơn vị tính: USD
Thị trường

thị trường). Tuy nhiên, trong năm 2006, 2007 xuất khẩu sang thị trường này
cũng đã giảm xuống tương đối (lần lượt là 48,63% , 42.23% tổng kim ngạch
các thị trường). Đó là do hậu quả của các vụ kiện bán phá giá của liên minh
EU đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Những bạn hàng lớn
nhất của Công ty trong khu vực này là Bỉ, Ý , Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức,
Pháp, Anh. Đây là những bạn hàng cực kỳ khó tính về chất lượng sản phẩm,
độ đồng đều của sản phẩm và tiến độ thực hiện hợp đồng.
Đơn vị tính: USD
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Thị trường
Tây Âu
2005 2006 2007
Giá trị
Tỷ
trọng(%)
Giá trị
Tỷ
trọng(%)
Giá trị
Tỷ
trọng(%)
Bỉ 3089983 48,35 1860518 38,15 1908499 40,78
Italia 891694 13,95 644576 13,22 1017523 21,74
Tây Ban Nha 602586 9,43 421733 8,65 380654 8,13
Hà Lan 382450 5,98 61390 1,26 302299 6,46
Đức 501845 7,85 308525 6,33 465394 9,94
Pháp 580243 9,08 418625 8,58 341832 7,30
Anh 157364 2,46 289404 5,93 217856 4,65

Mỹ La tinh, Châu Phi chuyển sang khu vực này do nhân công rẻ, dễ quản lý
hơn và nhất là để phù hợp với chính sách nhất thể hoá của Liên minh Châu
Âu.
2. Cơ cấu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong chiến lược phát triển
của công ty ArtExport.
Bảng kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu mặt hàng trong 3 năm:
Đơn vị tính: USD
Mặt hàng
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Giá trị
Tỷ
trọng(%)
Giá trị
Tỷ
trọng(%)
Giá trị
Tỷ
trọng(%)
Hàng cói,
mây tre
895230 8,38 945657 9,43 733093 6,1
Sơn mài
mỹ nghệ,
đá, gỗ, sản
phẩm gỗ
mỹ nghệ
2919087 27,74 2482533 24,75 3071608 27,72
Hàng gốm
sứ, đất
nung

nghệ, đá, gỗ,
sản phẩm gỗ
mỹ nghệ
2919087 2482533 -14,96 2482533 3071608 23,73
Hàng gốm sứ,
đất nung
1356587 645805 -52,39 645805 1064738 64,87
Hàng thêu ren,
dệt may
3472160 3108.656 -10,47 3108656 3.582942 15,26
Hàng túi thêu
thủ công
384860 854451 122,02 854451 616704 -27,82
Tổng giá trị 10678160 10028707 -6,08 10028707 11082304 10,51
(Nguồn: Kim ngạch xuất khẩu từng thị trường - Phòng Tài chính tổng
hợp)
2.1. Mặt hàng thêu ren, may mặc.
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS Trần Chí Thành
Trên đây là kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của công ty.
Trong đó mặt hàng thêu ren, dệt may chiếm tỷ trọng lớn nhất - chiếm
32,52% (2005), 31% (2006), 32,33% (2007) tổng kim ngạch xuất khẩu.
Mặt hàng thêu được hình thành ngay từ khi Công ty mới thành lập
năm 1964 và mang lại hợp đồng đầu tiên trị giá 10,000 Rúp sang thị trường
Liên Xô cũ. Ngày nay, kim ngạch xuất khẩu thường giao động ở mức 30%.
Giá trị đích thực của mặt hàng này đã được khẳng định tại nhiều thị trường
lớn như Nhật, Mỹ, Pháp, Italia, Tây Ban Nha…thu hút ngày càng nhiều lao
động có tay nghề, có khả năng sáng tạo, đem lại việc làm cho hàng nghìn lao
động. Mặt hàng thêu ren hứa hẹn sự phát triển không ngừng với tiềm năng

50,000 m3. Số còn lại hơn 75% nguyên liệu gỗ phải nhập khẩu và giá đang
tăng thêm từ 10-30% trong khi giá xuất khẩu các sản phẩm gỗ chế biến vẫn
không thay đổi. Điều này có thể lý giải tại sao tỷ trọng xuất khẩu của nhóm
mặt hàng này lại giảm tới 14,96% trong năm 2005. Bên cạnh đó, phải kể đến
tình trạng các nhà máy chế biến gỗ phát triển nhanh làm mất cân đối giữa
nhu cầu sản xuất với khả năng cung cấp lao động, hầu hết các lao động chế
biến gỗ lại chưa qua đào tạo chính quy.
Năm 1997 là năm đầu tiên Artexport tham gia thị trường xuất khẩu
các sản phẩm đá xẻ tự nhiên của Việt Nam sang các nước Châu Âu. Trong
đó, thị trường khởi điểm là Ireland, sau đó là Bỉ, Hà Lan, Italia, Đức…Năm
1997 kim ngạch chỉ đạt 15,000 USD/năm và đến năm 2004 đã tăng lên gần
3,000,000 USD/năm. Sản phẩm chủ yếu được xuất khẩu gồm: Tumbled,
Honed, Kerb, Windowsill, Cubes, Flamed…Vật liệu được dùng bằng đá tự
nhiên theo dòng đá bluestone, đá basalt, granite, hoa cương, sa thạch…Các
sản phẩm này thường được sử dụng trong các công trình xây dựng, giao
thông và đặc biệt là phục chế và tu sửa các công trình đường phố cổ ở Châu
SVTH: Dương Quốc Hoàng – TM 46B Đại học Kinh Tế Quốc Dân
25

Trích đoạn Một số yếu kém về chất lượng hàng thủ công mỹ nghệ và những nguyên Cơ cấu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty ArtExport sang thị Những thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang Phương hướng phát triển và yêu cầu đặt ra đối với việc thúc đẩy xuất khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status