Tiểu luận địa lý kinh tế - Đề tài: " WTO THÁCH THỨC HAY CƠ HỘI CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM" pot - Pdf 11

SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
1

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Bộ môn ĐỊA LÝ KINH TẾ

**

Tiểu luận: THÁCH THỨC HAY CƠ HỘI
CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Việt Lâm
Nhóm : 10 Lớp :ĐHQT5TC Khoa: QTKD
Thứ 3 Tiết 13-16 Phòng :A 06.01
 Thành phố Hồ Chí Minh – 02 / 2012  SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
2


-Lời cảm ơn.
- Mục lục.
- Nhận xét của giáo viên hướng dẫn và danh sách nhóm.
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu.
6. Kết quả nghiên cứu.
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lí luận của vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.
1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1. Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area – FTA).
2.2. Liên minh thuế quan (Customs Union).
2.3. Thị trường chung (Common Market).
2.4. Liên minh kinh tế (Economic Union).
2.5. Liên minh toàn diện (Comprehensive Union).
3. Các đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế.
4.1. Tích cực
4.2. Tiêu cực
5. Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam.
6. Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức thương mại thế giới WTO.

SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm

3.2. Đối với doanh nghiệp.
PHẦN 3: KẾT LUẬN
- Phụ lục.
- Tài liệu tham khảo.
SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN.

…Chân thành nhận lời góp ý của giáo viên hướng dẫn :
……………………………………………… ………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………

DANH SÁCH NHÓM
STT
Họ và tên
MSSV Điểm

nghiệp, nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn hình thành và còn nhiều ảnh
hưởng của thời kinh tế tập trung bao cấp. Tình trạng độc quyền vẫn tồn tại khá nặng
nề trong một số lĩnh vực, nhất là tài chính, ngân hàng, điện, bưu chính viễn thông;
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn rất thấp; hệ thống pháp luật hiện hành
chưa đáp ứng các yêu cầu của hội nhập…
Do đó, là sinh viên thuộc khối ngành kinh tế trước một sự kiện quan trọng ảnh
hưởng rất lớn đến nền kinh tế của nước ta – gia nhập WTO, thì việc tìm hiểu những
tác động của tổ chức này đối với nền kinh tế Việt Nam là hết sức cần thiết để trang
bị thêm kiến thức trong việc góp phần tìm ra những giải pháp tối ưu cho nền kinh tế
phù hợp với từng giai đoạn của đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Phân tích tình hình kinh tế Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO
- Tìm hiểu những mặt hạn chế chưa giải quyết được của nền kinh tế nước ta.
- Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm cải thiện tình hình kinh tế trong
bối cảnh hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu quá trình hội nhập kinh tê quốc tế của Việt Nam.
- Nghiên cứu sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO
SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
7

4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu chủ yếu được dựa trên phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
từ sách, báo điện tử, website có liên quan. Sau đó dùng phương pháp so sánh số liệu
rồi đưa ra nhận xét và kết luận.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu của tiểu luận tập trung vào việc phân tích tình hình tăng
trưởng kinh tế Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO. Vì thời gian nghiên cứu
có hạn nên chúng tôi chỉ trình bày sự hiểu biết của mình với đề tài từ năm 1986 đến

Tự do hóa lưu chuyển các yếu tố khác tham gia quá trình sản xuất kinh
doanh như vốn, công nghệ, nhân công.

Thực thi bảo hộ quyền sở hửu trí tuệ.

Thực hiện các biện pháp thuận lợi hóa thương mại và đầu tư.

Thuận lợi hóa và tự do hóa việc đi lại của doanh nhân.

Xây dựng các tiêu chuẩn thống nhất và hợp chuẩn.

Giải quyết các tranh chấp thương mai theo quy định quốc tế.
2. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1 Khu vực mậu dịch tự do

Free Trade Area - FTA
﴿
:
Khu vực mậu dịch tự do là giai đoạn thấp nhất của tiến trình hội nhập
kinh tế. Ở giai đoạn này, các nền kinh tế thành viên tiến hành giảm và loại
bỏ dần các hàng rào thuế quan, các hạn chế đinh lượng và các biện pháp phi
quan thuế trong thương mại nội khối. Tuy nhiên, họ vẫn độc lập thực hiện
chính sách thuế quan đối với các nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN ﴾ AFTA﴿. . .
2.2 Liên minh thuế quan

Customs Union
﴿
.
Liên minh thuế quan là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình hội nhập.Tham

Comprehensive Union
﴿
.
Liên minh toàn diện là giai đoạn cuối cùng của quá trình hội nhập. các
thành viên thống nhất về chính trị và các lĩnh vực kinh tế. Các thành viên
cùng nhau thỏa thuận về các vấn đề sau:


Cùng nhau xây dựng một chính sách phát triển kinh tế chung cho toàn
liên minh.


Xây dựng một chính sách đối ngoại chung.


Hình thành một đồng tiền chung.


Quy đinh chính sách lưu thông tiền tệ cho toàn liên minh.


Xây dựng một ngân hàng trung ương chung thay thế cho ngân hàng
trung ương của các nước thành viên.


Xây dựng một chính sách quan hệ tài chính, đối ngoại chung của liên
minh với các nước ngoài liên minh và với các tổ chức tài chinh - tiền tệ
quốc tế.
3. Các đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế.


Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư của mỗi nước theo
hướng chuyên môn hóa sản xuất.


Thúc đẩy quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, chính trị, xã
hội ở mỗi quốc gia.


Dỡ bỏ dần các rào cản về thuế quan, phi thuế quan giữa các thành viên.
4.2 Tiêu cực:
đặt ra những thách thức đối với mỗi quốc gia.


Sự cạnh tranh gay gắt giữa hàng hóa và doanh nghiệp của mỗi quốc gia.


Xóa bỏ hàng rào thuế quan có nghĩa là các quốc gia sẽ mất đi nguồn thu
ngân sách.


Việc tiến hành cải cách và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trước áp lực hội
nhập đòi hỏi phải có một nguồn tài lực và vật lực rất lớn nên sẽ gây khó
khăn cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển và kém phát
triển.


Do có sự khác biệt về trình độ giữa các thành viên nên dễ tạo ra nguy cơ
cho các nền kinh tế đang phát triển phải phụ thuộc nhiều về kinh tế vào một
số trung tâm kinh tế chủ chốt.


đao”, một số doanh nghiệp phải giải thể. Tuy nhiên với thời gian, các doanh
nghiệp đã vươn lên, trụ vững và đã có bước phát triển.
Điều đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài là tiến trình đổi mới kinh tế
theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đã từng bước xuất hiện lớp cán
bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ, xuất hiện một đội
ngũ những nhà doanh nghiệp mới, có kiến thức, năng động và tự tin, dam
chấp nhận mạo hiểm, dám đối đầu với canh tranh. Đây là nguồn lực quý báu
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhận thức được toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia, năm 1995 Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) và kiên trì đàm phán, cải tổ để gia nhập tổ chức
này.
SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
12

6. Qúa trình hình thành và phát triển tổ chức thương mại thế giới
WTO.

Tổ chức thương mại thế giới ﴾World Trade Organization - WTO﴿ ra đời
trên cơ sở kế tục tổ chức tiền thân la hiệp định chung về thuế quan vá
thương mại ﴾ The General Agreement on Tariffs and Trade – GATT ﴿. Đây
là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra những nguyên tắc thương mại giữa các
quốc gja trên thế giới. Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và
đang được các nước đàm phán và kí kết.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức
Thương mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương
mại giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên
Hiệp Quốc về Thương mại và Việc làm tại Havana tháng 3 năm 1948. Tuy


Bảo đảm thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán.


Tạo môi trương cạnh tranh ngày càng bình đẳng.


Điều chỉnh hệ thống thương mại quốc tế.

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA WTO.
SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
14

Chương II: Thực trạng của Việt Nam trước và sau khi gia
nhập WTO.
1. Các mốc đánh dấu chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam.
04-01-1995: Đơn xin gia nhập WTO được Đại hội đồng tiếp nhận.


31-01-1995: Ban xem xét công tác gia nhập ﴾WP﴿ của Việt Nam được
thành lập với chủ tịch là ông Eiril Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO.





26-10-2006: Việt Nam hoàn tất đàm phán đa phương tốt đẹp với các
nước. Cuộc đàm phán trước đó diễn ra căng thẳng và tưởng chừng không
thể kết thúc được cho đến phút chót.


Ngày 7 tháng 11 năm 2006, nước ta đã chính thức được kết nạp vào tổ
chức này.

SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
15

2. Thực trạng của Việt Nam trước khi gia nhập WTO.
Tổng quan nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 – Đổi mới: “luồng gió
mát cho nền kinh tế Việt Nam.
Thời kỳ 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế
lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Đặc biệt, các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận và bắt đầu được tạo điều
kiện hoạt động. Nền kinh tế dần dần được thị trường hóa.Từ năm 1989, Việt Nam
bắt đầu xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn. Lạm phát được kiềm
chế dần dần. 6-1991 Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước" và "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Thời kỳ
1993-1997 là thời kỳ kinh tế Việt Nam kiềm chế thành công lạm phát đồng thời lại
tăng trưởng nhanh chóng. Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2 năm 1998-
1999. Tuy bắt đầu tăng tốc dần từ năm 2000, nhưng nền kinh tế có lúc rơi vào tình
trạng giảm phát và thiểu phát
Xuất khẩu trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 bình quân tăng 50% mỗi năm. Tỉ lệ

kết lần lượt là 21,3 tỷ USD và 5,4 tỷ USD.
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư
với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã
hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực
với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD.Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà
đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện
Kể từ 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc trên hầu hết các lĩnh
vực, tạo nên thế và lực mới, và mở ra rất nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển cho
đất nước . Liên tục trong vòng 20 năm, tăng trưởng kinh tế khá cao, GDP tăng bình
quân 7% / năm, riêng năm 2005 và 2006 tăng trưởng trên 8%/năm. Dự báo kinh tế
Việt Nam tăng trưởng 8,5% trong năm 2007. Đất nước đã chuyển mạnh sang nền
kinh tế thị trường và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Chính phủ Việt
Nam đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Cùng với Trung Quốc, Nam Phi, và
Vê-nê-zu-ê-la, đầu tháng 5/2007, tổ chức ASEAN đã chính thức ra tuyên bố công
nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ. Theo số liệu của IMF, tổng sản
phẩm quốc dân của Việt Nam tăng từ 45 tỷ USD năm 2004 lên hơn 60 tỷ USD năm
2006, kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 40 tỷ USD, thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vượt trên 10 tỷ USD.riêng năm 2006 đã thu hút được 10,2 tỷ
USD.

SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
17

Những thành tựu kinh tế chung của đất nước đã góp phần cải thiện đời sống các
tầng lớp nhân dân. Công cuộc xoá đói giảm nghèo đạt kết quả nổi trội, Việt Nam đã
hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa nghèo trước thời hạn
10 năm, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế giảm từ 58% năm 1993 xuống còn
19% năm 2006.
Chỉ số phát triển con người của Việt Nam do UNDP công bố đứng ở mức

trước đó và đạt 8,5%. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chậm cải thiện. Tăng trưởng
GDP năm 2008 chỉ đạt 6.23%.
3.1.2. Về ổn định kinh tế vĩ mô và tài chính:
 Lạm phát (tốc độ thay đổi chỉ số giá tiêu dùng CPI so với tháng 12 năm trước)
năm 2007 là 12,6% và năm 2008 – 19,98%. Đây là 2 năm có lạm phát cao kỉ
lục có sự leo thang kể từ năm 1995. Có nhiều nguyên nhân, song sự lúng túng,
bất cập trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là trong năm 2007 và
quí I/2008 đã làm xấu thêm tình hình.
 Do nhập khẩu tăng quá nhanh, nên thâm hụt thương mại hàng hoá năm 2007
và 2008 tương ứng lên tới 14,1 tỷ USD và 17,5 tỷ USD (dù đã có xu hướng
giảm theo tháng). Năm 2007, nhờ các khoản tiền kiều hối và lao động từ nước
ngoài chuyển về, FDI, ODA, và đầu tư gián tiếp,… tăng mạnh nên cán cân
thanh toán quốc tế tổng thể có thặng dư hơn 10 tỷ USD. Trong nửa năm đầu
năm 2008, khả năng tài trợ cho thâm hụt thương mại trở nên thiếu bền vững
hơn; cán cân thanh toán tổng thể vẫn có thặng dư, song thấp chỉ khoảng 0,5 tỷ
USD.
 Năm 2006-2007 chứng kiến sự bùng nổ thị trường chứng khoán, các hoạt động
tài chính, ngân hàng. Các chỉ số đo độ sâu tài chính (như tín dụng/GDP và
M2/GDP) và qui mô thị trường chứng khoán (như mức độ vốn hoá, số doanh
nghiệp niêm yết, số công ty chứng khoán,…) đều tăng cao. Hệ thống ngân
hàng và thị trường tài chính Việt Nam đã có bước phát triển nhất định. Tuy
nhiên, rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro bất ổn hệ thống ngân hàng tăng lên.
Một số ngân hàng đã và đang phải đối mặt với các vấn đề kém thanh khoản và
tỷ lệ nợ xấu tăng.
 Thu Ngân sách nhà nước năm 2007 và 2008 tăng đáng kể; riêng thu từ hoạt
động xuất nhập khẩu năm 2007 tăng 15,4% so với năm 2006 và 6 tháng đầu
năm 2008 tăng 53,7% (do nhập khẩu hàng hoá bùng nổ). Tuy nhiên, tính bất
định của thu NSNN trong thời còn cao, trong khi sức ép tăng chi thường xuyên
và chi đầu tư, nhất là cho phát triển kết cấu hạ tầng vẫn rất lớn.


Tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế thế giới. Cơ
cấu xuất khẩu tiếp tục có sự chuyển biến về chất, chuyển dần từ hàng nguyên liệu
thô sang hàng chế biến. Thị trường xuất khẩu cũng được đa dạng hóa và giúp Việt
Nam ít phụ thuộc hơn vào sự biến động của từng nước bạn hàng. Tỷ trọng của các
SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
20
mặt hàng nông sản và khai khóang trong tổng giá trị xuất khẩu giảm và tăng tỷ
trọng của các sản phẩm chế tạo. Trong cơ cấu nhập khẩu, máy móc thiết bị và
nguyên vật liệu vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu cho thấy
tỷ trọng của hàng tiêu dùng đang tăng lên. Việt Nam vẫn nhập chủ yếu hàng hóa từ
các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của Việt Nam trong tương lai khi hàng nhập chủ yếu là máy móc và
nguyên vật liệu.
- Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 và 2008 tương ứng đạt 48,6 tỷ và 62, 9 tỷ USD,
tăng tương ứng 21,9% và 29,5%; Riêng năm 2008 nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt
thép, vàng và yếu tố tăng giá thì xuất khẩu hàng hoá chỉ tăng 13,5%; Như vậy có
thể nói, xuất khẩu vẫn chưa thể hiện mức độ bứt phá so với các năm trước.
- Tổng đầu tư xã hội năm 2007 đạt tới 44% GDP và năm 2008 ước khoảng 43,1%
GDP. FDI bùng phát kể từ năm 2007 FDI đăng ký tới 21,3 tỷ USD mức cao nhất kể
từ khi có Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1987 thực hiện đạt trên 8 tỷ USD
riêng phần vốn nước ngoài là 6,7 tỷ USD. Các con số về vốn cam kết và thực hiện
giải ngân tương ứng năm 2008 là 60.3 tỷ USD, 11,5 tỷ USD. Vốn đầu tư nhà nước
năm 2007 vẫn chiếm tỷ trọng tới 47,2% tổng vốn đầu tư xã hội; đặc biệt, đầu tư của
khu vực DNNN năm 2007 tăng rất mạnh. Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực ngoài
nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội đã giảm đáng kể, từ 37-38% giai đoạn 2004-
2006 xuống còn 31,6% năm 2007. Sang năm 2008, vốn đầu tư nhà nước năm chiếm
tỷ trọng 41,3% tổng vốn đầu tư xã hội; trong khi đó khu vực ngoài nhà nước chiếm
41,3% và khu vực đầu tư nước ngoài chiếm 29,8%.
- Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 tiếp tục đà tăng trưởng của những năm trước

thực hiện hiệu quả và lạm phát vẫn ở mức cao, Việt Nam sẽ mất khả năng cạnh
tranh về giá đối với các đối thủ chính trong khu vực, đặc biệt khi đồng đô la
Mỹ phục hồi giá trị so với các ngoại tệ mạnh khác.
 Tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký lên mức kỷ lục hơn 20 tỷ đô la Mỹ
trong năm 2007 và đã đóng góp quan trọng vào phát triển các ngành công nghiệp.
Tuy nhiên, các ngành công nghiệp nhẹ, nơi Việt Nam có lợi thế so sánh, chỉ thu hút
được khối lượng khiêm tốn vốn đầu tư. Thu hút đầu tư vào những ngành có giá trị
gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, viễn thông và công nghệ cao vẫn còn hạn
chế.
 Tác động đến thị trường chứng khoán :
Thị trường chứng khóan mặc dù còn nhỏ bé so với quy mô khu vực nhưng đã
có những bước phát triển nhanh chóng với tỷ lệ vốn hóa thị trường đạt 43.7 % GDP
năm 2007, chủ yếu nhờ việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của các công
SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
22

ty lớn. Thị trường chứng khóan ngày càng thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư và
quỹ đầu tư nước ngoài. Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên
quan trọng và là lực lượng dẫn dắt thị trường chứng khóan Việt Nam.
 Tác động đến cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối :
Sự gia tăng mạnh nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và máy móc thiết bị dẫn đến
thâm hụt lớn cán cân thương mại và vãng lai. Thâm hụt này được bù đắp bởi thặng
dư trong cán cân vốn, chủ yếu từ nguồn đầu tư gián tiếp. Do đó, cán cân thanh tóan
trở nên dễ bị tổn thương hơn với những biến động của dòng vốn ngắn hạn này. Tuy
nhiên, cán cân thanh tóan vẫn thặng dư ở mức cao và dự trữ ngoài hối đạt mức tăng
kỷ lục trong năm 2007. Mức dự trữ cao này được coi là phù hợp trong bối cảnh cán
cân vốn tương đối mở hiện nay
3.1.4.Tác động đến thị trường chứng khóan 2 năm sau WTO “Thuyền

Cuối năm 2006, chỉ có khoảng 1.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài thì
cả năm 2007 con số đã lên tới 7.000. Tổng số tiền mà khối ngoại bỏ vào thị trường
là 3 tỷ USD, nhưng nếu tính cả một lượng tiền để dành cho các IPO thì vào khoảng
7-10 tỷ USD.
Tóm lại có thể khẳng định rằng 2007 là năm “nhảy vọt “ của chứng khoáng
Việt Nam.
3.1.4.2 “Mất” :
Tuy nhiên việc gia nhập wto đã tạo cho thị trường chứng khoáng Việt Nam
nhiều biến động trong sân chơi mới.Sự tác động mạnh mẽ của việc gia nhập wto
vào nền kinh tế Việt Nam với những được và mất , cùng rất nhiều thách thức
lớn.Kèm theo xu hướng nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng ,chẳng khác nào đặt
thì trường chứng khoáng Việt Nam vào cảnh “ Thuyền mới -gặp bão lớn”
“Năm 2008 phải trả nợ cho năm 2007”
Hết quý I năm 2008, khi những dấu hiệu nguy hiểm như cơn khủng hoảng
trên thị trường tín dụng nhà đất tại Mỹ bắt đầu phát tín hiệu, chỉ số lạm phát, nhập
siêu tại Việt Nam tăng kỷ lục làm chỉ số vn-index bắt đầu giảm.
Quý II, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam xấu đi nhanh chóng. VN-dex
trượt dài về đáy 366 điểm vào ngày 20/6.
Quý IV, toàn bộ bi kịch của nền kinh tế thế giới và Việt Nam được phơi bầy.
VN-Index tụt xa khỏi mốc 366 điểm. Thậm chí, cơn khủng hoảng trên TTCK Việt
Nam còn vượt xa cả những thị trường khác.
SVTH: Nhóm 10 GVHD: Th.s Nguyễn Việt Lâm
WTO – Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
24

Biểu đồ chỉ số vn-index thời gian vừa qua : sụt giảm nghiêm trọng.


Sau hội nhập, đã tạo một luồn gió mới vào xã hội người Việt , nhận thức
được nâng cao, con người được tiếp cận gần hơn với thế giới thông qua các phương
tiện hiện đại cũng như là những lợi ích điều kiện mà việc gia nhập WTO mang lại.
3.1.5.1.2 “Mất”:
Nỗi buồn văn hóa thời hội nhập không chỉ trong ngôn ngữ chuyện trò hàng
ngày, mà cả trên ti vi, tại các chương trình trò chơi truyền hình, các thí sinh tham
gia cuộc chơi sử dụng các từ: “Wow”, “Ok”, “Yes”, “No”… cách sử dụng ngôn ngữ
hàng ngày bị pha tạp ở không chỉ giới trẻ, mà cả người lớn, và ngay cả nhà văn,
nhà báo thỉnh thoảng cũng vướng phải.
Về văn học, mấy năm qua dòng văn học Việt không có tác phẩm nổi bật. Số
lượng lớn tác phẩm chạy theo xu hướng phô trương hình thức, chuyện tình ma mị,
khai thác tính dục, không phù hợp với truyền thống đạo lý của dân tộc.
Trong giới văn nghệ sĩ lại nghi kỵ nhau về chuyện đạo nhạc, “chôm” bản
quyền.
Một phần nhỏ trong xã hội đã bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tiêu cực song
chúng ta vẫn khắc phục được.
3.1.5.2 Về xã hội:
- Việc gia nhập WTO năm 2007 chưa để lại dấu ấn đáng kể đối với tạo việc làm.
Số lao động có việc làm năm 2007 và 2008 tăng tương ứng 2,3% và 2,0%, trong khi
con số này của năm 2006 là 2,7%. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm, song tỷ
lệ thất nghiệp của thanh niên lại tăng.
- Trong khi tiền lương bình quân của người làm công ăn lương năm 2007 tăng gần
10% so với năm 2006, thì lạm phát tăng quá cao làm cho thu nhập thực của số đông
người lao động bị giảm sút. Tăng trưởng kinh tế năm 2008 chậm lại, một bộ phận
doanh nghiệp đình trệ dẫn đến tình trạng mất việc làm và thu nhập giảm. Đình công
của công nhân trong nửa đầu năm 2008 diễn ra nhiều so với những năm trước. Tỷ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status