Tài liệu Đề tài "Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương Mại Thế giới" doc - Pdf 97

z


ĐỀ TÀI
Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt -
May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương
Mại Thế giới

Giáo viên h
Giáo viên h
ướng dẫn
ướng dẫn
:
:
Sinh viên thực hiện
Sinh viên thực hiện
:
:
MỤC LỤC
NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT
MAY
SAU KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI
THẾ GIỚI
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I – TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 3
VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI (MFA)
1.1 Tính tất yếu của sự ra đời Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 3
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - 3
Tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới
1.1.1.1 Bối cảnh ra đời của GATT 3

2.1.5 Khái quát thị trường tiêu thụ trong nước 36
2.2 Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
những năm qua 37
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 37
2.2.1.1 Tổng quát về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam những năm qua 37
2.2.1.2 Phân tích cụ thể tình hình xuất khẩu hàng dệt may
trong năm 2002 38
2.2.2 Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 39
2.2.2.1 Những chủng loại xuất khẩu chủ yếu trong thời
gian qua 39
2.2.2.2 Thực hiện cơ cấu về hàng dệt may xuất khẩu
của Việt Nam 40
2.2.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu và kênh phân phối 41
2.2.3.1 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam 41
2.2.3.2 Đặc điểm về hệ thống phân phối của thị trường
mục tiêu xuất khẩu 44
2.2.4 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 48
2.2.4.1 Gia công xuất khẩu 48
2.2.4.2 Xuất khẩu trực tiếp 50
2.3 Vấn đề năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 51
2.3.1 Đặc điểm chủ yếu về cạnh tranh của hàng dệt may
Việt Nam xuất khẩu (XK) 51
2.3.2 Năng lực canh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 55
2.3.2.1 Chất lượng hàng dệt may XK của Việt Nam 55
2.3.2.2 Chí phí XK và mức giá XK của hàng dệt may Việt Nam 58
2.3.2.3 Năng lực cạnh tranh trong hệ thống phân phối 61
hàng dệt may của Việt Nam
2.3.2.4 Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam 61

3.2.2 Nhóm giải pháp về chiến lược sản phẩm và nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 78
3.2.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và
năng lực cạnh tranh 78
3.2.2.2 Giải pháp tập trung hóa kết hợp đa dạng hóa
sản phẩm với nhiều mẫu mã “mốt” thời trang 81
3.2.3 Nhóm giải pháp về chiến lược đầu tư công nghệ và
nâng cao năng lực cạnh tranh 82
3.2.3.1 Giải pháp về chiến lược công nghệ và nâng cao
năng lực cạnh tranh 82
3.2.3.2 Giải pháp về vốn đầu tư cho chiến lược công nghệ
87
3.2.4 Nhóm giải pháp về chiến lược chi xuất khẩu thấp và
tăng nhanh phương thức tự doanh trong xuất khẩu 88
3.2.4.1 Giải pháp về chiến lược chi phí xuất khẩu thấp,
nâng cao năng lực cạnh tranh 88
3.2.4.2 Giải pháp mở rộng phương thức xuất khẩu trực tiếp
hay tự doanh xuất khẩu 91
3.2.5 Các giải pháp còn lại 93
3.2.5.1 Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động quảng cáo 93
3.2.5.2 Chú trọng hoạt động hội chợ triển lãm thương mại
quốc tế và các công cụ yểm trợ xuất khẩu khác 93
3.5.2.3 Giải pháp qui hoạch và đào tạo nguồn nhân lực 94
KIẾN NGHỊ
96
KẾT LUẬN
98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
99
LỜI MỞ ĐẦU

khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các thầy cô và những ai
quan tâm đóng góp ý kiến.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Ngoại thương, Công ty
XNK tổng hợp Vạn xuân - BQP, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Vinatex, các doanh nghiệp XNK hàng dệt-may. Và đặc biệt là thầy giáo hướng
dẫn Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khải đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
CHƯƠNG I
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI
1.1. TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ RA ĐỜI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - tiền thân của Tổ chức
Thương mại Thế giới
1.1.1.1 Bối cảnh ra đời của GATT
Sau hơn 7 năm chính thức hoạt động, Tổ chức Thương mại Thế giới đã có
những đóng góp bước đầu vào sự phát triển của nền thương mại thế giới và từng
bước tỏ rõ sự thích ứng với vai trò của một cơ quan điều tiết mậu dịch quốc tế.
Đạt được như vậy một phần cũng vì Tổ chức Thương mại Thế giới đã kế thừa và
phát huy các thành quả mà các tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại đã tạo được. Do đó, để hiểu sâu hơn về Tổ chức
Thương mại Thế giới không thể không nghiên cứu về GATT.
Nhìn lại lịch sử ta nhận thấy phải đến cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV thị
trường thế giới mới bắt đầu được hình thành rõ nét. Thời gian sau đó cho đến
chiến tranh thế giới lần thứ II mặc dù thị trường thế giới liên tục phát triển song
chưa có Hiệp định thương mại đa biên nào điều chỉnh. Thời gian này, các cường
quốc kinh tế đồng thời cũng là các cường quốc quân sự thường chủ động sử dụng
chiến tranh để phân chia lại thị trường.
Kể từ sau năm 1945, với cục diện thế giới mới và thắng lợi của phe Đồng
minh trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, nước Mỹ có ý đồ thiết lập lại các thể
chế chính trị, kinh tế có lợi cho mình. Đồng thời, nhiều nước khác cũng có nhu
cầu xây dựng các cơ chế mới để điều chỉnh mối quan hệ quốc tế, duy trì hoà

3. Quyền "Khước từ" và khả năng có hành động cấp thiết, không thực hiện
một số nghĩa vụ trong thời hạn nhất định khi có lý do chính đáng về kinh tế và
thương mại.
4. Bảo hộ mậu dịch bằng công cụ thuế quan là chính. Không tăng cường
bảo hộ, có cơ chế thương lượng hiệu quả để gỡ bỏ dần mọi rào cản thương mại.
5. Khuyến khích việc cạnh tranh công bằng, cho phép đánh thuế đối kháng,
thuế chống bán phá giá, hoặc chống trợ cấp nếu bị thiệt hại do sản phẩm của
nước khác bán phá giá hay trợ cấp gây ra.
6. Quan hệ "có đi có lại" bằng cách yêu cầu lẫn nhau những nhượng bộ
tương tự nhằm khuyến khích mở cửa thị trường.
7. Ưu tiên đặc biệt cho các nước đang phát triển, ví dụ như Hệ thống ưu
đãi phổ cập GSP, các ưu đãi trong việc tiếp cận thị trường, không phải "có đi có
lại " với các nước phát triển.
8. Công nhận các dàn xếp thương mại khu vực và sự hoà nhập chặt chẽ
hơn các nền kinh tế quốc gia thông qua các liên kết khu vực này. Tuy nhiên, thuế
hay các quy định điều chỉnh thương mại của các thành viên trong nhóm đối với
các nước không phải là thành viên không được hạn chế hơn những gì đã áp dụng
trước khi nhóm được thành lập.
1.1.2 SỰ RA ĐỜI TẤT YẾU CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Bên cạnh những thành công, GATT cũng gặp không ít trở ngại và còn
nhiều lĩnh vực hoạt động chưa có hiệu quả. Thắng lợi của GATT trong việc cắt
giảm thuế quan, cùng một loạt nhân nhượng kinh tế trong những năm 70, 80 đã
khiến các chính phủ đưa ra các hình thức bảo hộ khác như tự nguyện hạn chế
xuất khẩu, trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, tăng cường các biện pháp kiểm
dịch, nâng cao tiêu chuẩn hàng hoá nhập khẩu
Xu hướng quốc tế hoá đầu tư quốc tế và trao đổi dịch vụ ngày càng tăng
đang là mối quan tâm lớn của nhiều nước và đồng thời liên quan chặt chẽ đến sự
gia tăng liên tục của thương mại hàng hoá thế giới thì lại không được GATT điều
chỉnh.
Thậm chí ở một số lĩnh vực tuy đã được đưa ra xem xét nhưng còn nhiều

GATT chủ yếu chỉ điều chỉnh thương mại hữu hình còn WTO đảm nhận
trách nhiệm lớn hơn, bắt đầu quá trình điều chỉnh tự do hoá thương mại, dịch vụ
quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các biện pháp đầu tư liên quan
đến thương mại. Đây là đòi hỏi cấp bách vì thực tế những lĩnh vực này ngày càng
trở nên quan trọng hơn trong cơ cấu thương mại quốc tế, đặc biệt đối với các
nước phát triển tỷ trọng này thường chiếm khoảng 65 - 70% thu nhập quốc dân.
Thông qua cơ chế xem xét định kỳ chính sách thương mại của các nước
thành viên WTO sẽ đưa hệ thống chính sách kinh tế, thương mại của các nước
thành viên vào một thể hài hoà, thống nhất nâng cao tính trong sáng, rõ ràng và
sự hiểu biết lẫn nhau trong môi trường mậu dịch toàn cầu.
Điểm mới nữa là WTO sẽ phối hợp nhiều hơn, chặt chẽ hơn với Liên hợp
quốc, Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế gắn kết các vấn đề thương mại
với tài chính, tiền tệ quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát triển toàn diện quan hệ
kinh tế quốc tế.
Sau hơn 14 năm kể từ ngày thành lập, GATT mới có trên 23 nước thành
viên. Sau gần 46 năm hoạt động, Tổ chức này mới có 129 nước tham gia, chiếm
trên 90% thương mại quốc tế. Nhưng Tổ chức Thương mại Thế giới thì chỉ 6
tháng sau khi thành lập đã có hơn 132 nước gia nhập. Theo dự tính trong vòng 3
năm tới số thành viên sẽ lên tới 145 nước chiếm gần 100% giá trị mậu dịch thế
giới.
1

Trước đây trong cơ chế của GATT, các nước "lớn" thường ngăn cản hay
trì hoãn việc thi hành các quyết định của Ủy ban giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế khi chúng không có lợi cho họ. Nhưng đối với WTO, các quy định
về giải quyết tranh chấp thương mại chặt chẽ, mạnh mẽ hơn nên các nước có tiềm
lực mạnh cũng có ít khả năng trì hoãn việc khám xét và thi hành quyết định liên
quan đến tranh chấp thương mại.
1.2. GIỚI THIỆU CHUNG WTO
1.2.1 CÁC CHỨC NĂNG NGUYÊN TẮC CHỦ ĐẠO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ

Tuy nhiên công việc hàng ngày của WTO sẽ do một số cơ quan chức năng
giải quyết; chủ yếu là Đại hội đồng bao gồm tất cả các thành viên của WTO, có
nhiệm vụ làm báo cáo cho Hội nghị cấp Bộ trưởng giải quyết các công việc
thường nhật, Đại hội đồng nhóm thành 2 Ủy ban: Ủy ban đánh giá chính sách
thương mại để đánh giá thường xuyên các chính sách thương mại của từng nước
thành viên và Ủy ban giải quyết các tranh chấp để giám sát các thủ tục giải quyết
tranh chấp.
Đại hội đồng cũng chia sẻ trách nhiệm thành 3 Hội đồng:
- Hội đồng về thương mại hàng hoá
- Hội đồng về thương mại dịch vụ
- Hội đồng về sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại
Trực thuộc mỗi Hội đồng trên có các cơ quan chuyên môn.
Ba ủy ban khác được Hội nghị Bộ trưởng thành lập và có nhiệm vụ báo
cáo lên Đại hội đồng, đó là:
- Ủy ban về thương mại và phát triển.
- Ủy ban về cán cân thanh toán.
- Ủy ban về ngân sách.
Mỗi hiệp định trong 4 hiệp định đa phương của WTO có các cơ quan quản
lý riêng của mình với nhiệm vụ báo cáo lên Đại hội đồng.
Giúp việc cho bộ máy nêu trên là Ban thư ký. Ban này có trụ sở tại
Geneva, Thụy Sỹ, nơi đặt trụ sở chính của WTO. Ban thư ký có khoảng 450 nhân
viên, đứng đầu là Tổng giám đốc được chọn theo nguyên tắc nhất trí. Dưới Tổng
giám đốc có Phó Tổng giám đốc (4 người ), Giám đốc các Ban chuyên trách do
Tổng giám đốc đề nghị và được Đại hội đồng thông qua.
Ngân sách của WTO vào khoảng 150 triệu USD (năm 2001) do các nước
thành viên đóng góp theo tỷ lệ nhất định trong tổng giá trị hoạt động thương mại
của chính mình. Một phần ngân sách của WTO được dùng để duy trì hoạt động
của trung tâm thương mại Quốc tế.
1.2.3 NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ
CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

đa dạng của các vấn đề tranh chấp, từ việc áp dụng biện pháp kiểm dịch động
thực vật đến các thủ tục cấp giấy phép hay hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm
nhập khẩu hoặc bán phá giá hàng hoá, trợ cấp hàng nông sản, vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ
Nếu giải quyết tranh chấp là nội dung nóng hổi thì việc điều tiết thương
mại hàng hoá lại là nội dung chính, truyền thống từ GATT, nay vẫn chiếm vị trí
quan trọng trong hoạt động của WTO. Hai năm qua các Ủy ban của WTO đã
giám sát việc thực hiện các Hiệp định của vòng đàm phán Urugoay, soạn thảo và
đệ trình hàng loạt văn bản mới liên quan để củng cố môi trường pháp lý cho
thương mại hữu hình trên thế giới, đặc biệt là các văn bản liên quan đến các hạn
chế số lượng, và các biện pháp phi thuế quan. Kể từ mười năm lại đây WTO
cũng bắt đầu đưa dần 2 lĩnh vực "nhạy cảm" vẫn từng nằm ngoài khuôn khổ các
nguyên tắc chung của GATT trước đây và hệ thống chung đó là hàng dệt may và
nông nghiệp. Tuy là những vấn đề phức tạp có tác động lớn đến quyền lợi sống
còn của nhiều nước lại được điều chỉnh bằng các hiệp định song phương trong
thời gian dài (từ vòng đàm phán Tokyo, 1974) nhưng việc hợp nhất các lĩnh vực
này dưới sự điều chỉnh của WTO đã được các nước hưởng ứng.
Về các thành công của WTO không thể không nói đến lĩnh vực lần đầu
tiên được điều chỉnh một cánh chính thức là dịch vụ, với hai thị trường nổi cộm
là tài chính và viễn thông. Thắng lợi rõ nét nhất là thoả thuận đạt được về thị
trường thông tin viễn thông quốc tế ký hồi 2/1997 và việc Nhật Bản mở cửa thị
trường bảo hiểm trị giá tới gần 400 tỷ USD, chấm dứt tình trạng phân biệt đốỉ với
nguyên tắc cơ bản của GATT cũng như WTO lâu nay. Các thị trường hàng hải,
dịch vụ chuyên ngành cũng được xúc tiến ở các cấp độ khác nhau.
Ngoài các lĩnh vực quan trọng nêu trên WTO còn triển khai đồng thời
nhiều nội dung khác liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ các biện pháp tự vệ, các
hoạt động đầu tư liên quan đến thương mại, bốn hiệp định đa phương, công tác
đào tạo, trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên WTO cũng đã tạo được mối
quan hệ mới với các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc, Quỹ tiền tệ thế giới,
Ngân hàng thế giới, tạo ra cơ chế hành động thống nhất trong điều hành kinh tế

và môi trường còn tiếp tục phải thảo luận, vì trong khi chưa có một hệ thống tiêu
chuẩn chung về môi trường có liên quan về thương mại thì các nước vẫn còn
dùng vấn đề này như một biện pháp phi thuế quan để bảo hộ hay phân biệt đối xử
trong buôn bán.
1.3 HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1.3.1 Nội dung chính
Khi GATT được thành lập năm 1947, chưa có hiệp định nào liên quan đến
hàng dệt may. Nhưng chỉ đến cuối thập niên 50, sản phẩm nhạy cảm này đã phát
triển không ngừng. Trên thị trường thế giới tình hình trở nên sôi động và các
nước đã chủ động tìm đến hàng loạt hiệp định ngắn hạn rồi dài hạn để thu xếp
thị trường hàng dệt may. Đặc biệt là đối với một số nước phát triển, đứng trước
sức ép ngày càng tăng của các sản phẩm rẻ hơn từ các nước đang phát triển làm
cho hoạt động buôn bán hàng dệt bị lệch khỏi các quy tắc cơ bản của GATT, làm
sai lệch cạnh tranh và thương mại thông thường. Trước thực tế đó, đầu thập niên
60, lĩnh vực dệt may đã được bàn đến trong khuôn khổ GATT nhưng như một
trường hợp ngoại lệ, theo các quy tắc đàm phán riêng. Trên cơ sở các thoả ước
song phương giữa các nước và đặc điểm tình hình, dưới sự giám sát của GATT,
Hiệp định về mậu dịch quốc tế hàng dệt còn gọi là Hiệp định đa sợi đã được ký
năm 1973 và có hiệu lực từ 01/01/1974.
Về cơ bản Hiệp định này cho phép các nước phát triển thông qua các hiệp
định song phương hay các hành động đơn phương áp đặt hạn ngạch đối với hàng
dệt may nhập khẩu từ các nước đang phát triển. MFA có giá trị hiệu lực đối với
các nước tham gia ký kết chứ không phải là hiệp định bắt buộc với tất cả các
nước thành viên GATT /WTO.
Mục tiêu tổng quát của MFA là :
+ Mở rộng và tự do hoá thương mại quốc tế
+ Chống lại tình trạng rối loạn thị trường.
+ Tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội của các nước đang phát
triển.
Hàng dệt may theo quy định của MFA chỉ giới hạn ở "vải, sợi và các sản

gian 12 tháng, kết thúc vào 2 tháng trước khi đưa ra yêu cầu tham vấn" Phụ lục B
cũng quy định rằng mức nới lỏng các hạn chế nhập khẩu bình quân hàng năm
không được thấp hơn 6%. Một nước nhập khẩu có thể áp dụng mức thấp hơn
nhưng trong trường hợp đặc biệt.
* Hiệp định đa sợi còn quy định về tính linh hoạt trong sử dụng hạn ngạch.
Nước xuất khẩu có thể cho phép mở rộng hạn ngạch đã được phân bổ đối với
nhóm sản phẩm cụ thể trong thời gian nhất định theo một trong các cách sau :
- Chuyển hạn ngạch không dùng hết của một nhóm sản phẩm sang nhóm
sản phẩm khác đã dùng hết hạn ngạch; tỷ lệ cho phép là 7%.
- Sử dụng trước hạn ngạch của năm tiếp theo; tỷ lệ cho phép là 5%.
- Sử dụng trước hạn ngạch của năm trước; tỷ lệ cho phép là 10%. Các nước
nhập khẩu có thể áp dụng tỷ lệ thấp hơn trong trường hợp đặc biệt, nhưng tỷ lệ
Swing không được thấp hơn 5%.
+ Điều 4: Cho phép các nước thành viên điều tiết thương mại hàng dệt
may của mình thông qua các hiệp định song phương mà không có nghĩa vụ phải
dành các quy định tương tự cho các đối tác thương mại khác.
Việc quản lý thực hiện MFA do Ủy ban dệt tiến hành. Ủy ban này gồm đại
diện của các bên ký kết Hiệp định đa sợi và do Tổng giám đốc GATT làm chủ
tịch. Ủy ban này sẽ thành lập cơ quan giám sát hàng dệt để theo dõi trực tiếp tình
hình thực thi MFA.
1.3.2. Tình hình thực hiện hiệp định đa sợi
Trong thực tế thi hành Hiệp định đa sợi MFA các nước thường đạt được
các Hiệp định song phương khác nhau đối với các nước khác nhau. Tuy nhiên,
hạn ngạch quy định trong các Hiệp định song phương thường được phân theo 3
cấp. Mức tổng cộng hay là mức hạn chế xuất khẩu của một nước hàng năm.
Trong hạn ngạch tổng cộng này có hạn ngạch theo nhóm hàng và theo từng sản
phẩm cụ thể.
Các sản phẩm không thuộc 3 cấp hạn ngạch trên thì được điều tiết bởi mức
tham vấn tính trong Hiệp định song phương, nếu cần có thể được cấp hạn ngạch
bổ sung.

Trade and Industry)
Có thể nói MFA đã tạo cho các nước phát triển một cơ chế quốc tế hiệu
quả hơn để đối phó với tình trạng phá vỡ thị trường hàng dệt, bảo hộ sản xuất.
Mặt khác nó cho phép các nước đang phát triển thâm nhập phần nào vào thị
trường ngày càng tăng của các nước phát triển và tạo ra sự mở rộng của thị
trường dệt may.
Dù điều 3 quy định rằng các biện pháp hạn chế chỉ được áp dụng đối với
những mặt hàng cụ thể và với nước xuất khẩu những mặt hàng gây ra rối loạn thị
trường đó. Nhưng trên thực tế chúng đã mở rộng và đang điều tiết toàn bộ thương
mại hàng dệt may thế giới.
Điều quan trọng nhất là các quy định của MFA đã vi phạm nghiêm trọng
nguyên tắc cơ bản không phân biệt đối xử của GATT bằng việc cho phép các
nước đặt ra các hạn chế thương mại thông qua các Hiệp định song phương hay
các hành động đơn phương. Hơn thế nữa, rất khó quản lý việc áp dụng MFA
trong các Hiệp định song phương mang nặng tính chất phân biệt đối xử vì chúng
còn phụ thuộc nhiều vào các lý do chính trị. Do vậy, có thể nói nhiều năm qua
MFA đã tồn tại như vừng sáng mờ, một ngoại lệ của GATT.
Trên thực tế, MFA cũng đã không giúp cải thiện đáng kể nền công nghiệp
đang giảm dần sức cạnh tranh do chi phí cao ở các nước phát triển dù có bảo hộ
chúng. Vì nhìn tổng thể, khi thống nhất áp dụng hạn ngạch cả nước xuất khẩu và
nước nhập khẩu đã liên kết với nhau để kìm hãm sự tự do hoá thị trường, là điều
tối kỵ đối với mọi ngành công nghiệp.Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải nhất thể
hoá thương mại hàng dệt may theo các nguyên tắc chung của GATT/WTO hay
đặt lĩnh vực này dưới sự điều chỉnh của hệ thống thương mại thế giới. Như vậy
không những tăng cường sức mạnh cho WTO mà còn tạo ra cơ hội tự do hoá
hoàn toàn một trong những thị trường sôi động nhất của mậu dịch hàng hoá thế
giới. Nhiều nước phát triển vì lợi ích của mình đã không nhất trí với mục tiêu mà
mong muốn duy trì hạn chế số lượng theo quy định của MFA. Điển hình là Mỹ
và Châu Âu đều khuyến khích một cơ chế "tăng dần" (Growing-up) nghĩa là áp
dụng MFA cho tất cả các sản phẩm dệt may và gia hạn Hiệp định đa sợi cho đến

cáo cho hội đồng thương mại hàng hoá của WTO, cơ quan chịu trách nhiệm đánh
giá hoạt động của Hiệp định ATC trước khi kết thúc từng giai đoạn của quá trình
hoà nhập.
Nội dung quan trọng nhất của Hiệp định là điều khoản về các hạn chế số
lượng và chương trình chuyển tiếp sản phẩm dệt may vào khuôn khổ WTO.
Trong vòng 60 ngày kể từ ngày Hiệp định ATC có hiệu lực các nước thành
viên phải thông báo tất cả các hạn chế về số lượng của mình theo các Hiệp định
song phương đã ký cho Ban giám sát hàng dệt may. Các hạn chế về số lượng bao
gồm toàn bộ các hạn chế mà nước thành viên áp dụng trước ngày Hiệp định ATC
có hiệu lực.
Nếu những hạn chế số lượng nào không được thông báo trong thời hạn trên
thì sẽ bị bắt buộc loại bỏ sau đó.
Sau khi đã thông báo các hạn chế số lượng, các nước thành viên không
được áp dụng những hạn chế số lượng mới nữa trừ khi chúng phù hợp với những
điêu khoản thích hợp của GATT 1994 hay những điều khoản được quy định
trong Hiệp định ATC này. Quá trình chuyển tiếp của sản phẩm dệt may được
đánh dấu bằng 4 mốc thời gian chính.
+ Ngày 1/1/1995 các nước thành viên phải tự do hoá thêm ít nhất 16%
tổng khối lượng sản phẩm dệt may nhập khẩu năm 1990 của mình.
+ Ngày 1/1/1998 các nước thành viên phải tự do hoá thêm ít nhất 17%
tổng khối lượng sản phẩm dệt may nhập khẩu năm 1990 của mình.
+ Ngày 1/1/2002 các nước thành viên phải tự do hoá tiếp ít nhất 18% tổng
khối lượng sản phẩm dệt may nhập khẩu năm 1990 của mình.
+ Ngày 1/1/2005, toàn bộ sản phẩm còn lại phải được tự do hoá.

Trích đoạn Gia công xuất khẩu Đặc điểm chủ yếu về cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu Chất lượng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam: Chi phí xuất khẩu và mức giá xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam. Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status