Thách thức do cắt giảm thuế quan khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới - Pdf 25



1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG TÙNG

THÁCH THỨC DO CẮT GIẢM THUẾ QUAN KHI
VIỆT NAM THAM GIA TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2012
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng. biểu đồ
Danh mục các chữ viết tắt

Trang
Mở đầu
1
CHƢƠNG 1: CÁC QUY ĐỊNH VỀ THUẾ QUAN CỦA WTO VÀ CAM KẾT
GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM
5
1.1. Những khái niệm cơ bản về thuế quan của WTO
5
1.1.1. Thuế quan và các phí khác
5
1.1.2. Các dạng thuế quan
6
1.1.3. Hệ thống phân loại thuế quan
7
1.1.4. Định giá hải quan
8
1.1.5. Mục đích của thuế quan
8
1.1.6 Ràng buộc thuế quan
10
1.2. Đàm phán thuế quan trong WTO
12
1.2.1. Các danh mục thuế quan

28
1.3.5. Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho
các nước kém phát triển nhất
29
1.3.6. Các mục tiêu cụ thể khi đàm phán cắt giảm thuế quan để gia nhập WTO của
Việt Nam
30
1.4. Các cam kết về cắt giảm thuế quan của Việt nam khi gia nhập WTO
31
1.4.1. Cam kết thuế quan trong lĩnh vực nông nghiệp
31
1.4.1.1. Cam kết về thuế quan đối với sản phẩm lương thực
34
1.4.1.2. Cam kết về thuế quan đối với mặt hàng cây công nghiệp
35
1.4.1.3. Cam kết về thuế quan đối với sản phẩm chăn nuôi
37
1.4.2. Cam kết thuế quan trong lĩnh vực công nghiệp
41
1.4.2.1. Cam kết về thuế quan đối với sản phẩm ngành giấy
44
1.4.2.2. Cam kết về thuế quan đối với sản phẩm điện tử
46
1.4.2.3. Cam kết về thuế quan đối với hàng dệt may
49
CHƢƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT VỀ CẮT GIẢM
THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
53
2.1. Tình hình thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế quan của Việt nam
trong lĩnh vực nông nghiệp

giảm thuế quan
3.1.2. Đánh giá kết quả sau 4 năm thực hiện cam kết với WTO về thuế 93
91
3.1.3. Những thách thức gặp phải trong quá trình thực hiện cắt giảm thuế quan
104
3.1.4. Nguyên nhân của các mặt tồn đọng khi thực hiện cắt giảm thuế quan
107
3.2. Những kiến nghị đối với quá trình thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan
của Việt nam sau khi gia nhập WTO
109
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện thuế XNK theo lộ trình đã cam kết
109
3.2.2. Đổi mới các công cụ khác liên quan đến thuế XNK theo hướng giảm dần và
minh bạch hóa
118
3.2.3. Cải tiến quy trình, chính sách thuế và các chính sách liên quan, bảo đảm các
mục tiêu chính sách và đồng thuận trong thực hiện các cam kết với WTO về thuế
120
3.2.4. Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy cán bộ trong các cơ
quan liên quan đến việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế
122 6

3.2.5. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ quá trình cắt giảm thuế quan
123
3.2.6. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp
126
KẾT LUẬN

giấy và các sản phẩm giấy
45
Bảng 7
Tình hình xuất khẩu sản phẩm điện tử Việt Nam
46
Bảng 8
Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong WTO đối với các sản phẩm
điện tử
47
Bảng 9
Mức thuế nhập khẩu của một số sản phẩm điện tử
49
Bảng 10
Tình hình ngành dệt may Việt Nam và mục tiêu đến năm 2020
50
Bảng 11
Cam kết của Việt Nam trong WTO về cắt giảm thuế quan đối với
hàng dệt may
51
Bảng 12
Số liệu xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2008 đến 2011
55 7

Bảng 13
Thị phần gạo của Việt Nam tại thị trường Hồng Kông
55
Bảng 14

8 CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 1
Tỷ trọng các loại gạo xuất khẩu của Việt Nam
57
Biểu đồ 2
Cơ cấu nhập khẩu của các thị trường năm 2010
60
Biểu đồ 3
Cơ cấu nhập khẩu của các thị trường năm 2011
61
Biểu đồ 4
Xuất khẩu Hồ tiêu qua các tháng của năm 2009, 2010, 2011
61
Biểu đồ 5

Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEAN+
Hiệp hội các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
Bản…
AFTA
Khu vực mậu dịch tự do các nước Đông Nam Á
AFTA+
Khu vực mậu dịch tự do các nước Đông Nam Á với các nước đối tác
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…
CEPT
Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
GATT
Hiệp định ưu đãi chung về thương mại và thuế quan
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
MFN
Đối xử Tối huệ quốc
NT
Đãi ngộ quốc gia
XNK
Xuất nhập khẩu
WTO
Tổ chức thương mại thế giới

11

những hoạt động kỷ niệm đó chúng ta không thể thiếu những công trình khoa học
nghiên cứu, đánh giá quá trình đã qua, đồng thời phân tích, dự báo triển vọng và
các tác động của việc tiếp tục thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế quan đến năm
2020, từ đó đưa ra các khuyến nghị, các giải pháp sao cho quá trình thực hiện đạt
được các hiệu quả cao nhất.
Những phân tích trên đây cũng chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Thách thức
do cắt giảm thuế quan khi Việt Nam tham gia Tổ chức thương mại thế giới” làm
đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước khi Việt nam gia nhập WTO đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu
và các bài viết của các chuyên gia về kinh tế cũng như các chuyên gia liên quan đến
việc gia nhập WTO của Việt nam về cơ hội và thách thức khi Việt nam gia nhập
WTO cũng như các cam kết cắt giảm thuế quan khi Việt nam tham gia WTO.Đáng
chú ý là “Các văn kiện gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt nam” Nxb
Chính trị quốc gia, 2006, bên canh đó là những bài viết của các chuyên gia như
kinh tế như: Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương Mại Trương Đình Tuyển, GS.TSKH
Nguyễn Mại, TS. Mạc Đăng Dung, Thứ trưởng Lương Văn Tự,….
Luận văn này sẽ kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước và sẽ có những
tổng kết để đưa ra được cái nhìn tổng thể về thách thức đối với vấn đề cam kết cắt
giảm thuế quan của Việt nam khi gia nhập WTO.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Dựa trên cở sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công trình khoa
học đã công bố, luận văn xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
- Các cam kết cắt giảm thuế quan của Việt Nam nói chung cũng như cam kết
cắt giảm trong một số lĩnh vực cụ thể như: lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp.

kiến…
 Phương pháp định lượng: thống kê kim ngạch, tính toán biểu đồ, vẽ sơ
đồ…. 13

 Phương pháp so sánh: so sánh tỉ lệ cắt giảm của từng năm, so sánh với
việc cắt giảm thuế quan của Trung quốc
6. Ý nghĩa của luận văn
Với công trình nghiên cứu này em hi vọng nó sẽ được sử dụng như là một tài
liệu cần thiết để tìm hiểu và giảng dạy về những thách thức với Việt nam khi tham
gia WTO nói chung cũng như nhưng thách thức do cắt giảm thuế quan nói riêng.
Những gì luận văn mang lại sẽ góp phần làm cho chúng ta hiểu được cam kết
về cắt giảm thuế quan khi gia nhập WTO không chỉ gây ra những bất lợi cho Việt
nam mà còn mang nhiều yếu tố tích cực cho nền kinh tế, là cơ hội tốt cho chúng ta
tăng cường các quan hệ giao thương, hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế với các
nền kinh tế tiên tiến trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu gồm
03 chương như sau:
Chương 1: Các quy đinh về thuế quan của WTO và các cam kêt gia nhập của
Việt Nam
Chương 2: Tình hình thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế quan của Việt
Nam sau khi gia nhập WTO
Chương 3: Những thách thức đối với việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế
quan của Việt Nam sau khi gia nhập WTO và các kiến nghị

buộc thuế quan. Nhằm làm rõ hơn quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong quan
hệ với "các thuế và phí khác", các thành viên đã thống nhất rằng những loại phí 15

(thuế) như vậy cần được ghi trong các danh mục ưu đãi thuế quan. Yêu cầu này
được ghi tại Bản giải thích Điều II:1(b).
Mức thuế hoặc phí được đưa vào trong danh mục của một nước sẽ bị ràng
buộc là mức cao nhất và bất cứ thuế hoặc phí nào bị bỏ qua không đưa vào danh
mục thì về sau sẽ không được đưa ra áp dụng. Các thành viên WTO được quyền
chất vấn về sự tồn tại của các loại thuế và phí khác trong vòng ba năm kể từ khi
WTO có hiệu lực, hoặc ba năm sau ngày gửi danh mục các cam kết tới Tổng Giám
đốc WTO.
1.1.2. Các dạng thuế quan
Các dạng thuế quan thường dùng là thuế theo trị giá và thuế đặc định. Các
dạng khác có thể thấy là thuế đặc định thay thế và thuế gộp, đôi khi được gọi là
thuế hỗn hợp.
1.1.2.1. Thuế theo trị giá
Thuế theo trị giá được diễn tả theo phần trăm của trị giá hàng hoá nhập khẩu.
Ví dụ thuế 10% nghĩa là thuế được thu ở mức 10% của trị giá khai báo để đóng
thuế của hàng hoá.
1.1.2.2. Thuế đặc định
Thuế đặc định được diễn tả bằng trị giá tiền theo đơn vị số lượng của hàng
hoá. Ví dụ: 5 cents cho 1 kg; 1,10$ cho 1 lít.
1.1.2.3. Thuế đặc định thay thế
Để tính thuế đặc định thay thế cần tính cả thuế theo trị giá và thuế đặc định,
mức phải trả bằng giá trị nào cao hơn trong hai dạng trên. Ví dụ: 35% hoặc 3$ một
đơn vị - mức thuế nào có trị giá cao hơn thì sẽ áp dụng mức thuế đó.
1.1.2.4. Thuế gộp

không chỉ giảm thuế quan một cách đáng kể mà gần như còn loại bỏ tất cả các thuế
đặc định. Thuế đặc định thay thế vẫn còn được giữ lại đối với một số loại y phục
(sau khi loại bỏ các hạn chế về số lượng) và đối với xe có động cơ đã qua sử dụng.
1.1.3. Hệ thống phân loại thuế quan 17

Các thành viên WTO sử dụng Hệ thống Hài hoà Mô tả và Mã số Hàng hoá
(HS) để phân loại thuế quan, phù hợp với Công ước Quốc tế của Tổ chức Hải quan
Thế giới (trước là Hội đồng Hợp tác Hải quan) tại Brussels. Hệ thống HS đưa ra
danh mục thuế quan sắp xếp trên cơ sở mã 6 chữ số và đòi hỏi tất cả những nước sử
dụng phải phân loại các hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu trên một cơ sở chung.
Các nước được tự do đưa ra các dòng thuế bổ sung nằm ngoài mức 6 chữ số với
mục đích thu thuế hoặc thống kê với điều kiện họ phải tuân thủ các nguyên tắc
phân loại.
Việc sử dụng hệ thống chung về phân loại thuế quan mang lại nhiều thuận
lợi cho nhiều nước. Các cuộc đàm phán thuế quan được đơn giản hoá và việc so
sánh thuế quan giữa các nước trở nên dễ dàng hơn. Ngoài ra, thương mại cũng đỡ
phức tạp cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu.
1.1.4. Định giá hải quan
GATT công nhận rằng những phương pháp khác nhau về định giá hàng hoá
để thu thuế hải quan có thể làm ảnh hưởng tới tổng trị giá thuế phải trả và do đó
ảnh hưởng tới giá trị của các ưu đãi thuế quan. Vấn đề này đã được đề cập tại Điều
VII và được làm rõ tiếp sau đó trong Hiệp định WTO về việc thực hiện Điều VII.
Yêu cầu chính của Hiệp định này là cần sử dụng trị giá trao đổi hàng hoá để tính trị
giá thuế phải trả chứ không phải là một trị giá trung gian hoặc không có thật nào
đó. Cơ sở chung nhất cho định giá hải quan là giá CIF (trị giá - bảo hiểm - cước
vận tải) hoặc giá FOB (giá xếp hàng lên tàu).
1.1.5. Mục đích của thuế quan

đã đưa ra mức thuế tương đối thấp hoặc vừa phải cho mục đích bảo hộ công nghiệp
nhằm đạt hiệu quả kinh tế. Đối với các hàng hoá công nghiệp, thuế bình quân giữa
các thành viên WTO đã giảm từ 40% năm 1948 xuống 4,7% vào năm 1994.
1.1.5.3. Các mục tiêu xã hội
Một số nước đã cố gắng thúc đẩy các mục tiêu về xã hội hoặc y tế bằng thuế
quan. Tuy nhiên, có một số khó khăn trong việc dựa vào thuế quan để đạt được
mục tiêu xã hội bởi chúng chỉ tác động tới sản phẩm nhập khẩu và ảnh hưởng của
chúng bị kém dần do phải thường xuyên cắt giảm và bị ràng buộc trong WTO. 19

Thuế tiêu thụ, đánh vào cả hàng hoá nhập khẩu hay hàng sản xuất trong nước, được
coi là công cụ thích hợp hơn. Thuốc lá và rượu là các sản phẩm thường phải chịu
thuế tiêu thụ, phục vụ cho cả mục đích y tế và nguồn thu ngân sách.
1.1.5.4. Cơ sở cho đàm phán thương mại
Việc giảm thuế suất các mặt hàng công nghiệp tại các nước phát triển cho
thấy thuế quan ít có hiệu quả bảo hộ công nghiệp và tạo nguồn thu thấp cho chính
phủ. Trên thực tế, phí hành chính cho việc thu thuế suất thấp có thể lớn hơn trị giá
của chính số thuế thu được. Thuế suất rất thấp có thể dược duy trì để làm cơ sở cho
các cuộc đàm phán thương mại trong tương lai hơn là để làm nguồn thu hoặc với
mục đích bảo hộ.
1.1.6. Ràng buộc thuế quan
1.1.6.1. Thuế suất ràng buộc
Thuế quan trong WTO bị ràng buộc theo quy định của các khoản mục tại
Điều II của GATT. Tác dụng của Điều II là ở chỗ khi một thành viên đã đưa bất cứ
thuế quan nào vào danh mục ưu đãi thì các thuế suất đó không được tăng lên nếu
không đàm phán lại về các ưu đãi theo quy định tại Điều XXVII của GATT.
1.1.6.2. Thuế suất không ràng buộc
Đối với các thành viên WTO, các thuế suất không đưa vào danh mục ưu đãi

Thuế đang áp dụng là thuế chính thức có hiệu lực tại một nước. Tại New
Zealand thuế đang áp dụng bao gồm Thuế Thông thường và Thuế Ưu đãi. Thuế Ưu
đãi áp dụng đối với hàng hoá từ những nước được hưởng thuế suất thấp hơn Thuế
Thông thường, ví dụ như hàng hoá từ các nước đang phát triển được hưởng lợi của
Hệ thống Ưu đãi Phổ cập (GSP). Theo hiệp định thương mại tự do với Australia
(ANZCERTA), tất cả các hàng hoá của Australia sang New Zealand được miễn
thuế. Thuế Thông thường áp dụng đối với hàng hoá từ tất cả các nước không được
hưởng Thuế Ưu đãi.
Như đã nói ở trên, thuế đang áp dụng không được vượt quá mức thuế suất
ràng buộc của WTO đối với hàng hoá liên quan. Tại New Zealand, nhiều thuế suất
đang áp dụng thấp hơn mức thuế suất ràng buộc của WTO do có cải cách thuế 21

trong vòng hơn 10 năm qua. Chile cũng có thuế đang áp dụng bằng 11% đối với
phần lớn các sản phẩm nhưng trong Vòng Uruguay nước này ràng buộc phần lớn
thuế suất của mình ở mức 25%. Thuế đang áp dụng đôi khi được nói tới như "thuế
tự trị" và sự giảm thuế suất đang áp dụng được gọi là "giảm thuế tự trị".
1.2. Đàm phán thuế quan
1.2.1. Các danh mục thuế quan
Tất cả các cam kết trần hoặc các ưu đãi khác có được từ kết quả đàm phán
thương mại cuối cùng được phản ánh trong một danh mục ưu đãi của mỗi nước.
Theo quy định của Điều II GATT, ưu đãi thuế quan của bên ký kết là những cam
kết ràng buộc có tính pháp lý.
Trước Vòng Uruguay, các danh mục bao gồm: Mã số thuế, mô tả hàng hoá,
thuế suất đã ràng buộc, thời điểm dành ưu đãi, và quyền đàm phán ban đầu.
Các danh mục có được từ Vòng Uruguay được chia ra thành nông nghiệp (Phần 1-
A) và phi nông nghiệp (Phần II). Cả hai Phần cho biết thuế suất cơ sở và thuế suất
ràng buộc, quyền đàm phán ban đầu và các thuế và phí khác. Ngoài ra, Phần nông

chúng ta cũng cần phải quan tâm tới thuế ràng buộc áp dụng đối với hàng hoá được
miêu tả trong danh mục. Thực tế là ràng buộc thuế quan áp dụng đối với một số
hàng hoá nào đó không có nghĩa là hàng hoá đó không thể bị chuyển sang một
dòng thuế mới hoặc một tiểu dòng thuế mới (chẳng hạn như thông qua việc "tách
thuế")
Tuy nhiên, nếu việc phân loại lại cho thấy hàng hoá phải chịu thuế cao hơn
so với thuế ràng buộc ban đầu thì có thể sẽ cần đàm phán lại cam kết ràng buộc và
có thể sẽ đòi hỏi một bản dự kiến bồi thường.
 Sửa đổi và rút bỏ các ưu đãi ràng buộc
Các ưu đãi có thể bị sửa đổi hoặc rút bỏ theo các điều khoản tại Điều XXVIII
của GATT. Sửa đổi có nghĩa là những thay đổi có thể làm tăng mức thuế hoặc thay
đổi một dòng thuế làm ảnh hưởng tới một số hàng hoá trong diện ưu đãi. Rút bỏ
một ưu đãi có thể làm mất ràng buộc của một hoặc một số dòng thuế, thông thường
với mục đích áp dụng một thuế mới hoặc tăng mức thuế.
Mục 5.5 dưới đây sẽ giới thiệu tiếp về đàm phán lại các ưu đãi ràng buộc. 23

 Các thủ tục tu chỉnh và sửa đổi
Năm 1968, nhằm đảm bảo tính toàn vẹn của các danh mục ưu đãi, các thủ
tục đã được thiết lập để định kỳ xác nhận các danh mục. Các thủ tục được xem xét
lại vào năm 1980 (BISD 27S/25). Thủ tục sửa đổi đòi hỏi các thành viên phải thông
báo cho WTO về bất cứ thay đổi nào trong danh mục sau các cuộc đàm phán thuế
quan, nếu các thay đổi này cần thiết phải thông báo, trong vòng 3 tháng sau khi có
thay đổi.
Tu chỉnh là những thay đổi trong danh mục xuất phát từ những sửa đổi về
mặt kỹ thuật đối với thuế quan của từng nước, trong khi vẫn không làm ảnh hưởng
tới phạm vi ưu đãi. Những thay đổi như vậy cũng phải được thông báo, trường hợp
có thể được thì trong vòng 3 tháng còn nói chung thì trong vòng 6 tháng kể từ khi

lại những kết quả không như mong đợi và người ta lại bắt đầu tìm kiếm một khuôn
khổ mới cho việc mở rộng thương mại.
1.2.2.3. Vai trò của các nước đang phát triển
Vấn đề phát triển kinh tế của các nước đang phát triển bắt đầu thu được sự
chú ý hơn trong GATT từ khoảng năm 1960. Các thành viên đều công nhận rằng
các nước đang phát triển cần có cơ chế tiếp cận thông thoáng hơn đối với thị trường
các nước công nghiệp. Trong số những tồn tại đã được xác định có những hàng rào
lớn cản trở thương mại các sản phẩm nhiệt đới và hàng dệt may. Thêm vào đó,
nhiều nước phát triển vẫn duy trì cơ cấu thuế có lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu
thô hơn là các sản phẩm chế biến ("leo thang thuế quan"). Đối với các nước đang
phát triển, leo thang thuế quan hạn chế việc sản xuất và thương mại các sản phẩm
trị giá gia tăng.
Tháng 12/1961, các bộ trưởng của GATT đã thông qua chương trình hành
động nhằm thúc đẩy thương mại của các nước đang phát triển, mở ra con đường
cho việc thông qua vào năm 1965 một chương mới trong GATT - Phần IV - về
thương mại và phát triển. Phần này yêu cầu các nước phát triển giúp đỡ các nước
đang phát triển. Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước đang phát
triển trở thành yếu tố quan trọng trong các cuộc đàm phán đa phương sau này.
1.2.3. Đàm phán thuế quan hiện đại 25

1.2.3.1. Phương pháp mới
Từ Vòng Kennedy, các Bộ trưởng đã đồng ý rằng cần có một cách tiếp cận
toàn diện hơn đối với các cuộc đàm phán thương mại. Tại vòng này, thuế suất 50%
đối với các hàng hoá phi nông nghiệp đã được thông qua như một giả thuyết công
tác đối với việc giảm thuế toàn diện của các nước phát triển.
Vòng Tokyo đưa ra mục tiêu chung là cắt giảm 1/3 thuế quan của các sản phẩm phi
nông nghiệp. Ngoài ra, lần đầu tiên, do kết quả của việc thực hiện công thức này,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status