Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương Mại Thế giới" doc - Pdf 90



…………..o0o…………..

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Những thách thức và cơ hội đối với
ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia
Tổ chức Thương Mại Thế giới LỜI MỞ ĐẦU

Trong hoạt động kinh tế sôi động ngày nay, mỗi quốc gia, mỗi khu vực đều
nỗ lực tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế nhằm khai thác tiềm
năng để phát triển kinh tế, tìm cho mình một vị trí vững chắc trong bức tranh

– may việt nam
Mặc dù đã có 3 năm trang bị kiến thức tại trường Đại học Ngoại thương và
có một số kinh nghiệm nhất định trong thực tế kinh doanh xuất nhập khẩu. Song
khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các thầy cô và những ai
quan tâm đóng góp ý kiến.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô tr
ường Đại học Ngoại thương, Công ty
XNK tổng hợp Vạn xuân - BQP, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Vinatex, các doanh nghiệp XNK hàng dệt-may. Và đặc biệt là thầy giáo hướng
dẫn Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khải đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. CHƯƠNG I
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI

1.1.
TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ RA ĐỜI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - tiền thân của Tổ chức
Thương mại Thế giới

1.1.1.1 Bối cảnh ra đời của GATT
Sau hơn 7 năm chính thức hoạt động, Tổ chức Thương mại Thế giới đã có
những đóng góp bước đầu vào sự phát triển của nền thương mại thế giới và từng
bước tỏ rõ sự thích ứng với vai trò của một cơ quan điều tiết mậu dịch quốc tế.
Đạt được như vậy mộ
t phần cũng vì Tổ chức Thương mại Thế giới đã kế thừa và
phát huy các thành quả mà các tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại đã tạo được. Do đó, để hiểu sâu hơn về Tổ chức


1.1.1.2 Các chức năng và nguyên tắc cơ bản của GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại được thành lập nhằm tạo ra
một cơ sở đảm bảo về pháp lý, góp phần phát triển kinh tế, thương mại thế giới
với 3 chức năng cơ bản sau:
+ Là một luật lệ kinh tế chung được các bên nhất trí để điều tiết mọi hoạt
động thương m
ại của các nước tham gia ký kết.
+ Là một diễn đàn thương lượng để thực hiện tự do hoá môi trường kinh
doanh quốc tế, không ngừng tăng cường và hoàn chỉnh các luật lệ mà Hiệp định
đã đề ra.
+ Là một "Toà án" quốc tế để Chính phủ các nước giải quyết tranh chấp
trong phạm vi các nước thành viên .
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại là một văn kiện dài với 4
phầ
n, 38 điều quy định chi tiết nhiều lĩnh vực. Các nguyên tắc chủ đạo trong hoạt
động của GATT bao gồm:
1. Không phân biệt đối xử trong thương mại bằng cách dành cho nhau quy
chế đãi ngộ "Tối huệ quốc".
2. Thiết lập một cơ sở ổn định cho thương mại thế giới thông qua việc
thương lượng và thực hịên nghiêm túc các thoả thuận về thuế.
3. Quyền "Khướ
c từ" và khả năng có hành động cấp thiết, không thực hiện
một số nghĩa vụ trong thời hạn nhất định khi có lý do chính đáng về kinh tế và
thương mại. 4. Bảo hộ mậu dịch bằng công cụ thuế quan là chính. Không tăng cường
bảo hộ, có cơ chế thương lượng hiệu quả để gỡ bỏ dần mọi rào cản thương mại.
5. Khuyến khích việc cạnh tranh công bằng, cho phép đánh thuế đối kháng,

quyết tranh chấp cũng bị một số nước thành viên chỉ trích . GATT đứng trước thách thức mới khi thương mại thế giới trở nên phức tạp
hơn nhiều so với những năm 1940. Chưa bao giờ tính chất quốc tế của nền kinh
tế thế giới được thể hiện rõ nét như ngày nay. Quá trình phân công lao động quốc
tế được nâng cao và có ảnh hưởng rộng khắp, dẫn đến sự bùng nổ của hoạt động
thương mại quố
c tế, dưới nhiều sắc thái đa dạng. Cùng với thương mại là vận tải,
thanh toán, đầu tư, du lịch, viễn thông quốc tế ... tăng trưởng với tốc độ chóng
mặt.
Thực tế nêu trên đã dẫn đến một đòi hỏi tất yếu là phải cải cách GATT để
có một cơ chế mạnh hơn điều tiết thương mại thế giới, t
ăng cường và mở rộng
hệ thống đa biên này. Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, vòng đàm phán
Urugoay mở ra với một trong những kết quả quan trọng là Tuyên bố MaraKesh
do 104 nước ký ngày 15/4/1994 tại MaraKesh (Marốc), có hiệu lực từ ngày
1/1/1995, quy định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giớí để thay thế GATT.
Có thể nói Tổ chức Thương mại Thế giới là hiện thân cho kết quả của
vòng đàm phán Urugoay và là sự kế thừa của GATT nhưng chặt chẽ hơn về tổ
chức, ràng buộc hơn về phạm vi, mức độ và khối lượng thương mại được điều
chỉnh.
Với thể chế tương đối lỏng lẻo của GATT, các nước thành viên có thể lựa
chọn một số hiệp định trong một vòng thương lượng, thực hiện nghĩa v
ụ được
hưởng quyền lợi do hiệp định đó đem lại. Nhưng đối với Tổ chức Thương mại
Thế giới tất cả các nước thành viên phải chấp nhận và thực hiện tất cả các hiệp
định đã được thoả thuận trong vòng đàm phán Urugoay trừ hệ thống các hiệp
định thương mại đa phương. Về phương diện pháp lý, Tổ chứ
c Thương mại Thế

giới.
1

Trước đây trong cơ chế của GATT, các nước "lớn" thường ngăn cản hay
trì hoãn việc thi hành các quyết định của Ủy ban giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế khi chúng không có lợi cho họ. Nhưng đối với WTO, các quy định
về giải quyết tranh chấp thương mại chặt chẽ, mạnh mẽ hơn nên các nước có tiềm
lực mạnh cũng có ít khả năng trì hoãn việc khám xét và thi hành quyế
t định liên
quan đến tranh chấp thương mại.

1.2
. GIỚI THIỆU CHUNG WTO
1.2.1 CÁC CHỨC NĂNG NGUYÊN TẮC CHỦ ĐẠO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ
CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Có cùng mục tiêu chung với GATT trước đây là thiết lập và củng cố môi
trường thương mại tự do, lành mạnh trên toàn thế giới nên Tổ chức Thương mại Thế giới cũng có các nguyên tắc cơ bản giống với Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại trước kia , đó là:
+ Không phân biệt đốỉ xử.
+ Bảo hộ bằng công cụ thuế.
+ Khuyến khích cạnh tranh công bằng.
+ Tạo lập cơ sở ổn định cho thương mại thế giới.
+ Quyền" khước từ" và khả năng có hành động cấp thiết.
+ Quan hệ "Có đ
i, có lại" .
+ Ưu tiên cho các nước phát triển.
Với tư cách là tổ chức thương mại lớn nhất từ trước đến nay, kế thừa và

thành viên và Ủy ban giải quyết các tranh chấp để giám sát các thủ tục giải quyết
tranh chấp.
Đại hội đồng cũng chia sẻ trách nhiệm thành 3 Hội đồng:
- Hội
đồng về thương mại hàng hoá
- Hội đồng về thương mại dịch vụ
- Hội đồng về sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại
Trực thuộc mỗi Hội đồng trên có các cơ quan chuyên môn.
Ba ủy ban khác được Hội nghị Bộ trưởng thành lập và có nhiệm vụ báo
cáo lên Đại hội đồng, đó là:
- Ủy ban về thương mại và phát triển.
- Ủy ban về cán cân thanh toán.
- Ủ
y ban về ngân sách.
Mỗi hiệp định trong 4 hiệp định đa phương của WTO có các cơ quan quản
lý riêng của mình với nhiệm vụ báo cáo lên Đại hội đồng.
Giúp việc cho bộ máy nêu trên là Ban thư ký. Ban này có trụ sở tại
Geneva, Thụy Sỹ, nơi đặt trụ sở chính của WTO. Ban thư ký có khoảng 450 nhân
viên, đứng đầu là Tổng giám đốc được chọn theo nguyên tắc nhất trí. Dưới Tổng
giám đốc có Phó Tổng giám đốc (4 người ), Giám
đốc các Ban chuyên trách do
Tổng giám đốc đề nghị và được Đại hội đồng thông qua.
Ngân sách của WTO vào khoảng 150 triệu USD (năm 2001) do các nước
thành viên đóng góp theo tỷ lệ nhất định trong tổng giá trị hoạt động thương mại
của chính mình. Một phần ngân sách của WTO được dùng để duy trì hoạt động
của trung tâm thương mại Quốc tế.

1.2.3
NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT


ải quyết tranh chấp hay cố tình trì hoãn việc thi hành
phán quyết thì với các quy định mới tình trạng đó sẽ khó tái diễn. Thực tế là chỉ
trong 3 năm WTO đã thụ lý hơn 60 hồ sơ tranh chấp. Một đặc điểm về các bên
tham gia tranh chấp là bên cạnh những"gương mặt" quen thuộc như Mỹ, EU,
Nhật, Canada, các nước đang phát triển bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, tiêu biểu
như Brasil,
Ấn Độ, Mehico, Singpore, Thái Lan. Điều này cho thấy vị trí ngày
càng quan trọng của các nền kinh tế đang phát triển nói chung trong kinh tế thế
giới. Và phải chăng cơ chế giải quyết hiệu quả của WTO đã tạo cơ hội để những
"kẻ yếu" này lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho mình ? Thành công còn thể hiện ở sự đa dạng của các vấn đề tranh chấp, từ việc áp dụng biện pháp kiểm dịch động
thực vật đến các thủ tục cấp giấy phép hay hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm
nhập khẩu hoặc bán phá giá hàng hoá, trợ cấp hàng nông sản, vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ ...
Nếu giải quyết tranh chấp là nội dung nóng hổi thì việc điều tiết thương
m
ại hàng hoá lại là nội dung chính, truyền thống từ GATT, nay vẫn chiếm vị trí
quan trọng trong hoạt động của WTO. Hai năm qua các Ủy ban của WTO đã
giám sát việc thực hiện các Hiệp định của vòng đàm phán Urugoay, soạn thảo và
đệ trình hàng loạt văn bản mới liên quan để củng cố môi trường pháp lý cho
thương mại hữu hình trên thế giới, đặc biệt là các văn bản liên quan đến các hạn
chế số lượ
ng, và các biện pháp phi thuế quan. Kể từ mười năm lại đây WTO
cũng bắt đầu đưa dần 2 lĩnh vực "nhạy cảm" vẫn từng nằm ngoài khuôn khổ các
nguyên tắc chung của GATT trước đây và hệ thống chung đó là hàng dệt may và
nông nghiệp. Tuy là những vấn đề phức tạp có tác động lớn đến quyền lợi sống
còn của nhiều nước lại được điều ch
ỉnh bằng các hiệp định song phương trong

quả hoạt động.
Lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ thì chưa tiến được bao nhiêu, trong khi khắp
nơi người ta phàn nàn về nạn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tưởng chừng có thể
dẫn tới các cuộc chiến tranh thương mại quy mô thế giới như trường hợp của
Trung Quốc và Mỹ, hay Mỹ và Nhật.
Tuy đã đầu tư khá nhiều công sức nhưng có lẽ hồ sơ ít khả quan nh
ất của
WTO là quan hệ thương mại - phát triển và thương mại môi trường, có thể thấy
một số nước thành viên của WTO là các nước đang phát triển nhưng vị trí của họ
vẫn chưa cải thiện là bao, trừ một số nước đang phát triển lớn như Trung Quốc,
Ấn Độ, Mehico, Brasil. Phần lớn còn lại, nhất là các nước Châu Phi tham gia rất
hạn chế vào đời sống kinh tế thế
giới so với tiềm năng của họ, hay có tham gia thì
phải chịu nhiều thiệt thòi. Tương tự, vấn đề môi trường được đề cập nhiều trong
các vấn đề hội nghị toàn cầu cũng như khu vực, nhưng vẫn còn thiếu nhiều biện
pháp thực tế hữu hiệu trong khi hàng hoá càng được sản xuất dồi dào bao nhiêu
thì lượng chất thải công nghiệp, chất thải tiêu dùng càng lớn, tài nguyên thiên
nhiên bị
khai thác càng nhiều bấy nhiêu.
Thời gian tới WTO sẽ còn giải quyết không ít nhiệm vụ khó khăn. Cơ bản
nhất là tiếp tục thực thi các Hiệp định của vòng đàm phán Urugoay, các tuyên bố
của Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore, các quyết định và giải thích kèm theo.
Bàn bạc và thống nhất về tương lai các nội dung còn chưa triệt để như thương
mại và đầu tư, chính sách cạnh tranh, nông nghiệp dệt may... Vấ
n đề thương mại và môi trường còn tiếp tục phải thảo luận, vì trong khi chưa có một hệ thống tiêu
chuẩn chung về môi trường có liên quan về thương mại thì các nước vẫn còn
dùng vấn đề này như một biện pháp phi thuế quan để bảo hộ hay phân biệt đối xử

triển. Hàng dệt may theo quy định của MFA chỉ giới hạn ở "vải, sợi và các sản
phẩm từ bông, len, sợi nhân tạo". Lần gia hạn trước đây Hiệp định đa sợi có quy
định thêm lanh, tơ lụa pha sợi gai.
Nội dung chính của Hiệp định đa sợi có thể tóm tắt qua các điều khoản chủ
yếu nhất như sau :
+ Điều 1 : Các biện pháp hạn chế đặc bi
ệt trong thương mại quốc tế về
hàng dệt may có thể được áp dụng trong một số thời gian hạn chế.
+ Điều 2 : Cho phép nước nhập khẩu đơn phương hạn chế nhập khẩu
trong thời gian một năm nếu việc nhập khẩu đó gây ra tình trạng rối loạn thị
trường, trừ khi nước xuất khẩu chấp nhận một giải pháp hợp lý khác.
+ Điều 3: cũng quy định rằng các biện pháp này chỉ được áp dụng đối với
những mặt hàng cụ thể và với nước xuất khẩu những mặt hàng gây ra rối loạn thị
trường đó.
* MFA còn cho phép nước nhập khẩu áp dụng điều 3 chỉ khi họ đáp ứng
được các yêu cầu nghiêm ngặt của việc "Chứng minh tình trạng rối loạn thị
trường". Phụ
lục A của Hiệp định đa sợi quy định rõ ràng "Việc xác định tình
hình rối loạn thị trường phải dựa trên những thiệt hại nghiêm trọng đối với nhà
sản xuất nội địa hoặc nguy cơ rõ ràng của các thiệt hại". MFA cũng quy định các
thiệt hại phải được xác định trên cơ sở xem xét tình hình kinh tế của một ngành
kinh tế nội địa cụ thể và "Việc t
ăng nhanh, khối lượng lớn hàng nhập khẩu một
cách rõ ràng (có thể xác định được) chứ không phải dựa theo phỏng đoán, lập
luận hay khả năng ít xảy ra."
* Điều 3 cũng quy định về cơ chế "Tham vấn" khuyến khích các nước
thành viên tổ chức các cuộc họp song phương thảo luận về thương mại hàng dệt

diện của các bên ký kết Hiệp định đa sợi và do Tổng giám đốc GATT làm chủ
tịch. Ủy ban này sẽ thành lập cơ quan giám sát hàng dệt để theo dõi trực tiếp tình
hình thực thi MFA.

1.3.2. Tình hình thực hiện hiệp định đa sợi

Trong thực tế thi hành Hiệp định đa sợi MFA các nước thường đạt được
các Hiệp định song phương khác nhau đối với các nước khác nhau. Tuy nhiên,
hạn ngạch quy định trong các Hiệp định song phương thường được phân theo 3
cấp. Mức tổng cộng hay là mức hạn chế xuất khẩu của một nước hàng năm.
Trong hạn ngạch tổng cộng này có hạn ngạch theo nhóm hàng và theo từng sản
phẩm cụ thể
. Các sản phẩm không thuộc 3 cấp hạn ngạch trên thì được điều tiết bởi mức
tham vấn tính trong Hiệp định song phương, nếu cần có thể được cấp hạn ngạch
bổ sung.
Trong nhiều trường hợp các Hiệp định song phương cho phép áp dụng nội
dung linh hoạt trong sử dụng hạn ngạch, chuyển hạn ngạch không dùng hết giữa
các nhóm sản phẩm, carryforward hay carryover hạn ngạch không dùng hết giữ
a
các năm dương lịch.
Qua thực tế điều tiết thương mại hàng dệt may từ năm 1974 đến năm 1994.
Hiệp định đa sợi đã được gia hạn 4 lần vào các năm 1981, 1986, 1993 và cho đến
nay đã có hơn 40 nước tham gia vào ký kết và thực hiện Hiệp định đa sợi, giá trị
xuất khẩu năm 1994 của các nước tham gia MFA đạt 136 tỷ USD, chiếm 80%
thương mại dệt may th
ế giới (gồm cả thương mại nội bộ EU). Phạm vi điều chỉnh
của MFA không ngừng được mở rộng cả về nhóm hàng và nước tham gia. Với

trường ngày càng tăng của các nước phát triển và tạo ra sự mở rộng của thị
trường dệt may.
Dù điều 3 quy đị
nh rằng các biện pháp hạn chế chỉ được áp dụng đối với
những mặt hàng cụ thể và với nước xuất khẩu những mặt hàng gây ra rối loạn thị
trường đó. Nhưng trên thực tế chúng đã mở rộng và đang điều tiết toàn bộ thương
mại hàng dệt may thế giới.
Điều quan trọng nhất là các quy định của MFA đã vi phạm nghiêm tr
ọng
nguyên tắc cơ bản không phân biệt đối xử của GATT bằng việc cho phép các
nước đặt ra các hạn chế thương mại thông qua các Hiệp định song phương hay
các hành động đơn phương. Hơn thế nữa, rất khó quản lý việc áp dụng MFA
trong các Hiệp định song phương mang nặng tính chất phân biệt đối xử vì chúng
còn phụ thuộc nhiều vào các lý do chính trị. Do vậy, có thể nói nhiều năm qua
MFA đã tồn tạ
i như vừng sáng mờ, một ngoại lệ của GATT.
Trên thực tế, MFA cũng đã không giúp cải thiện đáng kể nền công nghiệp
đang giảm dần sức cạnh tranh do chi phí cao ở các nước phát triển dù có bảo hộ
chúng. Vì nhìn tổng thể, khi thống nhất áp dụng hạn ngạch cả nước xuất khẩu và
nước nhập khẩu đã liên kết với nhau để kìm hãm sự tự do hoá thị trườ
ng, là điều
tối kỵ đối với mọi ngành công nghiệp. Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải nhất thể
hoá thương mại hàng dệt may theo các nguyên tắc chung của GATT/WTO hay đặt lĩnh vực này dưới sự điều chỉnh của hệ thống thương mại thế giới. Như vậy
không những tăng cường sức mạnh cho WTO mà còn tạo ra cơ hội tự do hoá
hoàn toàn một trong những thị trường sôi động nhất của mậu dịch hàng hoá thế
giới. Nhiều nước phát triển vì lợi ích của mình đã không nhất trí với mục tiêu mà
mong muốn duy trì hạn chế


Hiệp định ATC gồm có 9 điều và một danh mục các mặt hàng dệt may
thuộc điều chỉnh đã được phân theo hệ mã HS 6 số. (Hệ thống mã hoá và phân
loại hàng hoá hài hoà của Ủy ban hợp tác hải quan quốc tế thông qua ngày
14/6/1983 có hiệu lực từ 1/1/1997.
Để giám sát và điều chỉnh quá trình thực hiện Hiệp định ATC, Ban giám
sát sản phẩm dệt may sẽ được thành lập (gọi tắt là TMB), TMB là cơ quan đặc
trách gi
ải quyết mọi vấn đề phát sinh trong khi thực hiện Hiệp định ATC, TMB
bao gồm chủ tịch và 10 đại diện luân phiên của các nước thành viên. TMB sẽ báo
cáo cho hội đồng thương mại hàng hoá của WTO, cơ quan chịu trách nhiệm đánh
giá hoạt động của Hiệp định ATC trước khi kết thúc từng giai đoạn của quá trình
hoà nhập.
Nội dung quan trọng nhất của Hiệp định là điều khoản về các h
ạn chế số
lượng và chương trình chuyển tiếp sản phẩm dệt may vào khuôn khổ WTO.
Trong vòng 60 ngày kể từ ngày Hiệp định ATC có hiệu lực các nước thành
viên phải thông báo tất cả các hạn chế về số lượng của mình theo các Hiệp định
song phương đã ký cho Ban giám sát hàng dệt may. Các hạn chế về số lượng bao
gồm toàn bộ các hạn chế mà nước thành viên áp dụng trước ngày Hiệp định ATC
có hiệu lự
c.
Nếu những hạn chế số lượng nào không được thông báo trong thời hạn trên
thì sẽ bị bắt buộc loại bỏ sau đó.
Sau khi đã thông báo các hạn chế số lượng, các nước thành viên không
được áp dụng những hạn chế số lượng mới nữa trừ khi chúng phù hợp với những
điêu khoản thích hợp của GATT 1994 hay những điều khoản được quy định
trong Hiệp định ATC này. Quá trình chuyển ti
ếp của sản phẩm dệt may được
đánh dấu bằng 4 mốc thời gian chính.

nước thành viên. Điểm quan trọng là các điều khoản này chỉ áp dụng đối với các
sản phẩm chưa đưa vào GATT.
Theo đó, các biện pháp tự vệ khẩn cấp cũng được áp d
ụng giống nguyên
tắc của GATT là theo từng sản phẩm chứ không theo mã HS.

Điều 6: Quy định các biện pháp tự vệ khẩn cấp của Hiệp định ATC này
không áp dụng cho :
- Sợi dệt tay của các nước đang phát triển; các sản phẩm làm bằng tay từ
các loại sợi này. - Các loại sản phẩm dệt may thủ công truyền thống (được định nghĩa rõ
trong Hiệp định ký giữa 2 bên).
- Các sản phẩm làm từ lụa thuần tuý.
- Các sản phẩm từng buôn bán với số lượng lớn như : túi sách, thảm trải
chân, thảm đay, cói...
Các biện pháp tự vệ khẩn cấp chỉ được áp dụng trên cơ sở:
+ Một sản phẩm đang được nhập khẩu v
ới số lượng tăng lên, gây ra hay đe
dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước hoặc các sản phẩm
trong nước cạnh tranh trực tiếp.
+Việc gây ra hay đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng phải được chứng
minh rằng đó là hậu quả của việc tăng số lượng nhập khẩu chứ không phải bởi
các yếu tố khác như thay đổi công nghệ hay do sự thay
đổi thị hiếu khách hàng.
Khi xác định thiệt hại của một sản phẩm, nước thành viên chỉ ra mức độ
ảnh hưởng của các sản phẩm nhập khẩu đó đối với một ngành công nghiệp cụ
thể, và phải được phản ánh qua các chỉ số kinh tế như sản lượng, công suất sử
dụng thiết bị, mức tồn kho, thị phần, lương công nhân. Không được xác định m

nguyên tắc chung như mở cửa thị trường, không phân biệt đối xử trong thương
mại của GATT /WTO. Cụ thể như :
- Mở cửa thị trườ
ng dệt may thông qua các biện pháp giảm thuế, loại bỏ
các hàng rào phi thuế quan, thuận lợi hoá các thủ tục hải quan, thủ tục hành
chính...
Theo Hiệp định ATC về mở cửa thị trường thì mức thuế đối với hàng dệt
may sẽ giảm 12% so với mức trung bình hiện nay trong vòng 10 năm.
- Áp dụng các biện pháp, chính sách tạo điều kiện cho một nền thương mại
công bằng
- Không phân biệt đối xử đố
i với hàng dệt may.
Các hoạt động của các nước thành viên liên quan tới các quy tắc nói trên
phải thông báo cho TMB, trong trường hợp cần thiết phải thông báo cho các cơ
quan của WTO và các nước thành viên.
Trong trường hợp một nước thành viên phát hiện một nước thành viên
khác không tuân thủ các nguyên tắc chung trên cũng như quyền và nghĩa vụ theo
Hiệp định ATC này thì có quyền đưa vấn đề ra các cơ quan hữu quan của WTO
và thông báo cho TMB.

1.4.2. Tình hình thực hiện Hiệp định ATC trong thời gian qua Tính đến nay Hiệp định về hàng dệt may của vòng đàm phán Uruguay
(ATC) đã có hiệu lực được hơn 7 năm. Trong thời gian này, nhiều nước thành
viên WTO đã tích cực thực hiện những yêu cầu của giai đoạn 1 quá trình hoà
nhập trở lại mậu dịch hàng dệt may theo các nguyên tắc chung của GATT /WTO
hay nói cách khác là tự do hoá thương mại hàng dệt may thế giới.

1.4.2.1. Về danh mục đưa vào tự do hoá.

8 Cyprus 16,44
9 CH Sec 16,16 ( Nhập khẩu 1993)
10 CH Dominica 16,02( Nhập khẩu 1991)
11 EL Salvador 16,00
12 EU 16,40
13 Guatamala 16,17
14 Honduras 16,00
15 Hungary 16,01 (Nhập khẩu 1992)
16 Ấn độ 16,35 (4/90 – 3/91)
17 Indonesia 16,00
18 Nhật Bản 16,00
19 Hàn Quốc 16,35
20 Malaysia 18,09
21 Malta 17,30
22 Maritius 16,94 ( Nhập khẩu Dệt-May)
23 Mehico 16,00
24 Marốc 16,89 ( Nhập khẩu Dệt-May)
25 Nicaragua 16,64 ( Nhập khẩu Dệt-May)
26 Nauy 16,26
27 Pakistan 28,14 (7/90 - 6/91)
28 Paraguay 16,78
29 Peru 16,26
30 Philipines 16,13
31 Balan 16,28
32 Rumani 43,34
34 CH Slovak 16,11 ( Nhập khẩu năm 1993)

Trích đoạn Quan điểm thứ tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status