NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI MỚI CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - Pdf 35

NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI MỚI CỦA
NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TS. Đặng Kim Sơn

Thời gian qua, nông nghiệp Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn,
đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc
gia, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cân đối cán cân thương mại,
giảm lạm phát, bảo vệ lãnh thổ và góp phần ổn định chính trị - xã hội.
Mặc dù Việt Nam đã có những thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế, lao
động, nhưng đến nay vẫn còn trên 70% dân số Việt Nam sống ở nông
thôn. Kinh nghiệm phát triển 25 năm đổi mới cho thấy nếu được quan
tâm, đầu tư đúng mức, nông nghiệp sẽ là động lực nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những thách
thức của thế giới như dân số tăng nhanh, biến đổi khí hậu và thiên tai,
dịch bệnh,v.v… càng cho thấy nông nghiệp sẽ tiếp tục đóng vai trò quan
trọngtrong tương lai.
1. Những thành tựu nổi bật trong nông nghiệp Việt Nam thời
gian qua
Sau 27 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu
đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, trở thành lĩnh vực phát triển thành công nhất của nền
kinh tế. Bất chấp những khó khăn về thị trường, thiên tai và dịch bệnh,
nông nghiệp duy trì tăng trưởng ở mức tương đối khá. Sản xuất nông
nghiệp đã tạo ra nguồn cung lương thực thực phẩm dồi dào, đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia. Nhờ vậy, giá nông sản tại Việt Nam, đặc biệt
là giá lương thực được duy trì ở mức thấp, tạo chi phí lao động thấp, thu
hút mạnh đầu tư nước ngoài và đóng góp quan trọng cho tăng trưởng
kinh tế và ổn định xã hội.
125



quân chung tăng đến 18,58%. Năm 2012, mức tăng CPI của nhóm hàng
lương thực, thực phẩm chậm lại còn 3,26% và 8,14%, kéo mức tăng
126


CPI bình quân chung xuống 9,21%. Những tháng đầu năm 2013, chỉ số
giá lương thực giảm 24,5% và thực phẩm giảm 35,8%, góp phần kéo
CPI tiêu dùng chung giảm 5,6% so với tháng 12/2012 góp phần quan
trọng kiềm chế lạm phát.
Xuất khẩu đóng góp quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Việt
Nam. Trung bình trong giai đoạn 2011-2012, tăng trưởng kim ngạch
xuất khẩu NLTS đạt 18,8%/năm, vượt xa so với chỉ tiêu 6-7% theo kế
hoạch phát triển giai đoạn 2011-2015 của Bộ NN&PTNT. Trong khi
thương mại Việt Nam thường xuyên nhập siêu thì nông nghiệp là ngành
duy nhất luôn luôn xuất siêu, góp phần đáng kể cải thiện cán cân thương
mại. Năm 2012 là năm đầu tiên sau 20 năm Việt Nam có thặng dư cán
cân thương mại (284 triệu USD)46 chủ yếu nhờ xuất khẩu nông sản và
xuất khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.Xuất khẩu
nông sản đạt mức kỷ lục 27,5 tỷ USD và đạt thặng dư xuất khẩu ròng
10,6 tỷ USD trong năm 2012.
2. Những thách thức đặt ra trong khu vực nông nghiệp
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể và có đóng góp tích
cực cho việc duy trì ổn định kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2010-2012,
nhưng tăng trưởng nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên việc khai thác tài
nguyên thiên nhiên (tăng diện tích đất, thâm dụng nước tưới để tăng
vụ,v.v…) cùng mức sử dụng vật tư đầu vào cao nhưng hàm lượng đổi
mới công nghệ và thể chế thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp được biểu
hiện ở mức tổn thất sau thu hoạch cao, chất lượng sản phẩm không đồng
đều, vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo, khả năng tạo giá trị mới
thấp. Vì vậy, sau một thời gian dài khởi sắc, tăng trưởng nông nghiệp

và năm tới. Các ngân hàng khó khăn vì nợ xấu, doanh nghiệp chậm tiếp
cận nguồn vốn khiến lợi nhuận giảm phải cắt giảm sản xuất. Kinh tế
tăng trưởng chậm, nhu cầu tiêu dùng trên thị trường giảm làm giá nông
sản giảm trong khi giá vật tư, nhiên liệu vẫn tăng. Giá thành sản xuất
tăng làm giảm khả năng cạnh tranh của nông sản. Sản xuất nông nghiệp
tăng trưởng chậm, kinh tế nông thôn đình trệ, việc làm và thu nhập
trong nền kinh tế khó khăn ảnh hưởng xấu đến thu nhập của nông dân.
Nông dân sinh hoạt khó khăn, không có tiền đầu tư phát triển sản xuất,
áp dụng khoa học công nghệ hay mở mang đất đai. Trong hoàn cảnh
đầu tư cho nông nghiệp không cải thiện, khả năng tái sản xuất mở rộng
kém đi.Năng suất lao động trong nông nghiệp Việt Nam vào loại thấp
nhất trong khu vực. Những vấn đề suy thoái, bất ổn có khả năng lan từ
lĩnh vực kinh tế sang xã hội và môi trường làm bất ổn chính trị và xã hội
từ nông thôn lan ra thành thị.
128


• Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tăng.
Trong năm 2013, Trung Quốc đã đối mặt với chủng virus cúm gà
H7N9 là loại virus cúm gia cầm mới vừa được phát hiện có khả năng lây
từ gia cầm sang người và có tỷ lệ tử vong cao, trong khi chủng H5N1
vẫn xuất hiện và gây tử vong ở Việt Nam. Với sự biến đổi của các chủng
virus mới và khả năng lây nhiễm từ các nước xung quanh, nguy cơ phát
sinh các đợt dịch khác cho gia súc, gia cầm rất lớn và không loại trừ
khả năng lây lan sang người. Tương tự như vậy, bệnh dịch đối với thủy
sản bùng phát trên tôm vừa qua gây tổn thất lớn cho người nuôi. Mặc
dù từ đầu năm 2012, các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và các
địa phương đã quyết liệt nghiên cứu, làm rõ nguyên nhân của dịch bệnh
trên tôm (bênh teo gan tôm) nhưng đến nay chưa được giải quyết triệt
để, người nuôi vẫn chịu thiệt hại lớn. Ngoài ra, các bệnh dịch khác trên

cơ cạnh tranh, tranh chấp ngày càng gay gắt. Các nguồn tài nguyên
phục vụ sản xuất nông nghiệp như đất, nước, sinh học,v.v... sẽ tiếp tục
căng thẳng trong tương lai giữa nông nghiệp và các ngành kinh tế khác,
giữa nông thôn và đô thị và giữa các quốc gia lân cận.
Do rừng bị phá hoại nhiều, các công trình thủy điện, các khu khai
thác khoáng sản không đi kèm khôi phục môi trường đã làm nặng nề
hơn thiệt hại bão, lũ, hạn hán thời gian gần đây. Cùng với quá trình biến
đổi khí hậu, tình trạng thiên tai trong tương lai sẽ diễn ra ngày căng tăng
với nhiều diễn biến phức tạp hơn. Tình trạng sạt lở, lũ lụt, ngập mặn,
hạn hán tại một số vùng sẽ xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn ảnh
hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân. Các
biểu hiện thời tiết cực đoan có nhiều khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực
cho sản xuất nông nghiệp.
• Ô nhiễm và nguy cơ gây suy thoái môi trường.
Tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam thời gian qua lạm dụng
phân bón, hóa chất bảo vệ, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng,…
gây tác động xấu đến môi trường, làm tăng mức độ ô nhiễm và suy
yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tính trạng ô nhiễm môi trường nếu
không có biện pháp ngăn chặn kịp thời sẽ mang lại những hậu quả hết
sức nghiêm trọng, đe dọa sản xuất trong nước và khả năng cạnh tranh
của nông sản Việt Nam trên thị trường.
Quản lý tài nguyên nước mặt và nước ngầm lãng phí, áp dụng các
biện pháp canh tác cũ và kém tận dụng phụ phẩm nông nghiệp là nguyên
nhân gây ra ô nhiễm cục bộ cũng như tăng phát thải khí nhà kính.Kinh
tế nông thôn, với việc phát triển làng nghề, tiểu thủ công nghiệp và công
nghiệp địa phương mà khôngquản lý môi trường tốt đang gây nguy cơ
làm ô nhiễm môi trường nông thôn.
130



tương, ngô… Không chỉ thuê, đi liền sau các hợp đồng thuê đất ở khắp
năm châu là dòng người Hoa được đưa tới đó để làm việc.
131


Tại Indonesia, Cơ quan hậu cần quốc gia (Bulog) gần đây đã tăng
cường thu mua lúa gạo trong nước nhằm đảm bảo an ninh lương thực.
Indonesia tăng đầu tư cho nông nghiệp và trợ cấp cho người trồng lúa,
hỗ trợ kỹ thuật, công cụ và vật tư, dịch vụ cho nông dân, khuyến khích
tư nhân tham gia đầu tư nông nghiệp, chú trọng xây dựng hệ thống thủy
lợi, cung cấp thông tin dự báo thời tiết… cho người sản xuất. Chính phủ
sẽ cấp 10.000 ha đất sạch cho các doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp đưa
ra dự án khả thi. Indonesia cũng kêu gọi doanh nghiệp bảo hiểm tham
gia lĩnh vực bảo hiểm.
Tại Philippines, Chính phủ nỗ lực trong việc đảm bảo lúa gạo cho
toàn dân trong thời gian tới. Ngoài ra, Chính phủ Philippines cũng đặt
ra mục tiêu xuất khẩu 100 tấn gạo chất lượng cao trong năm 2013.
Chính phủ Philipppines dự kiến sẽ tăng 22% ngân sách dánh cho nông
nghiệp nhằm tăng cường mạng lưới giao thông và hệ thống tưới tiêu.
Để thực hiện những mục tiêu trên, Bộ Nông nghiệp Philippines đã ban
hành chương trình cung cấp giống chất lượng cao đồng thời cấp bảo
hiểm rủi ro thiên tai cho nông dân trồng lúa.
Các nước khác trong vùng như Lào, Campuchia, Mianma cũng có
bước phát triển mạnh trong việc cải tổ hệ thống tổ chức và chính sách
phát triển nông nghiệp nông thôn.
• Suy thoái kinh tế thế giới, nhu cầu thị trường giảm, doanh
nghiệp gặp khó khăn.
Ngân hàng tiếp tục gặp khó khăn vì nợ xấu (chiếm 4,7% tổng dư
nợ vào cuối tháng 5 năm 201348) đã siết chặt tín dụng và giữ mức lãi
suất rất cao kéo dài (phổ biến trong khoảng 13,5% đến 17,5%49). Nhiều

nông lâm thủy sản trong tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng giảm từ
13,9% năm 2000 còn 6,6% vào năm 201151). Nếu nông nghiệp tiếp tục
phải đối mặt với nhiều khó khăn như trước thì khả năng tái sản xuất mở
rộng của ngành sẽ sụt giảm nghiêm trọng.
Do hiệu quả thấp, nông nghiệp giảm dần vai trò trong cơ cấu thu
nhập của gia đình nông thôn. Trên toàn quốc, lao động nông thôn bỏ sản
xuất nông nghiệp đi tìm việc phi nông nghiệp ở ngay nông thôn hoặc
tại thành phố, thậm chí tìm cách đi làm ở ngoài nước. Do trình độ thấp,
thiếu thông tin, không có tổ chức, đa sống lao động từ nông thôn ra chủ
yếu tham gia “thị trường lao động phi chính thức” (xe ôm, cửu vạn, thợ
xây, đồng nát, ô sin,…) rủi ro cao, thu nhập thấp, điều kiện làm việc khó
khăn, điều kiện sinh hoạt bất tiện. Một số nơi ở đồng bằng sông Hồng,
50Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 7 tháng đầu
năm 2013 ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
51Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê.

133


nông dân đã trả ruộng lại cho nhà nước. Ở các vùng khác, hàng loạt
nông dân bỏ đất không canh tác hoặc giảm vụ gieo trồng.
3. Đề xuất cho bước phát triển mới
Mặc dù nhu cầu tiêu dùng chung trên thế giới đang chững lại trong
điều kiện khủng hoảng kinh tế thế giới trước mắt, nhưng nhìn lâu dài,
nông sản với chất lượng cao đảm bảo vệ sinh an toàn luôn luôn có thị
trường và giá tốt. Trong vài chục năm tới, cả thị trường trong nước
và xuất khẩu đều có triển vọng tốt cho sản xuất nông nghiệp. Trong
bối cảnh hội nhập ngày càng đẩy mạnh, một khi sản xuất nông nghiệp
chuyển sang hướng có giá trị gia tăng cao và chất lượng tốt thì cơ hội
để Việt Nam liên kết với các doanh nghiệp và quốc gia khác để mở rộng

trường hẹp sang các sản phẩm có giá trị cao và tiềm năng thị trường
lớn; chuyển từ tập trung đầu tư vào các công đoạn sản xuất sang đầu tư
cả cho những khâu tạo giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị sau thu hoạch;
chuyển từ chỉ thúc đẩy sản xuất, kích cung sang hỗ trợ cầu; chuyển từ
nông nghiệp thâm dụng tài nguyên sang nông nghiệp thâm dụng khoa
học công nghệ, huy động tài nguyên con người; chuyển từ nông hộ tiểu
nông sang phát triển kinh tế hợp tác, chuyên môn hóa cao, gắn kết cả
ngành hàng tại các vùng chuyên canh.
Sau 25 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những
thành tựu đáng ghi nhận và đã giữ vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế xã hội quốc gia. Nền nông nghiệp vẫn phát triển trước biến động
của thị trường, thiên tai bệnh dịch xảy ra thường xuyên. Tuy nhiên,
cũng phải nhìn nhận rõ là các động lực cho tăng trưởng nông nghiệp
trong thời gian qua đã không còn hoặc đang cạn kiệt dần. Nguồn tài
nguyên thiên nhiên, yếu tố quan trọng cho tăng trưởng nông nghiệp thời
gian qua, đang bị suy giảm trầm trọng trong khi bản thân ngành nông
nghiệp đang và sẽ phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh ngày càng gay
gắt trên thị thường thế giới và ngay chính trong đất nước mình.
Ngành nông nghiệp đang đứng trước những yêu cầu bức thiết hơn
bao giờ hết cho những giải pháp phát triển với khả năng cạnh tranh cao
song song với phát triển bền vững. Trước mắt, cần trợ giúp các hộ chăn
nuôi và nuôi trồng thủy sản đang gặp khó khăn để có thể giữ vững ao
nuôi và đầu tư tái đàn bằng hỗ trợ tài chính, giãn nợ,...; đồng thời cần có
giải pháp để trợ giúp các doanh nghiệp nông thôn còn hoạt động duy trì
và khôi phục sản xuất thông qua các giải pháp tài chính.
135


Nhóm giải pháp quan trọng nhất, cần tập trung sức để giải quyết là
đẩy mạnh triển khai tái cơ cấu ngành:



Tập trung đầu tư kết hợp cải tiến tổ chức, phát triển toàn diện toàn
bộ chuỗi ngành hàng (từ sản xuất, chế biến đến buôn bán) đối với những
ngành có lợi thế như lúa gạo, các da trơn ở ĐBSCL, cây công nghiệp
ở Tây Nguyên,... tại các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa phục vụ
xuất khẩu trọng điểm (theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng liên
kết,…). Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, hệ thống dịch vụ phục vụ sản
xuất kinh doanh và hệ thống kho tàng, chế biến, vận chuyển, tiếp thị,
v.v… nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm giá thành nông sản.
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện kịp thời các
loại bệnh dịch nguy hiểm, nâng cao năng lực dự báo khí tượng thủy
văn nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, hoàn thiện hệ thống thông tin
thị trường làm cơ sở cho công tác điều hành và dự báo thị trường. Tiến
hành bảo hiểm sản xuất nông nghiệp
Cải cách và tăng cường vai trò của hội nông dân, vai trò của các
hiệp hội ngành hàng và các HTX nông nghiệp. Nâng cao vai trò của
các tổ chức này trong việc cung cấp các dịch vụ công. Nâng cao vai trò
giám sát của cộng đồng đối với các dịch vụ công và các hoạt động sử
dụng nguồn lực chung. Cải cách thủ tục hành chính, tập trung hoạt động
của Nhà nước vào những hoạt động quản lý chính (chính sách, quy
hoạch, tiêu chuẩn..). Xóa bỏ cơ chế xin cho, chuyển sang đối tác khách
hàng trong quản lý nông nghiệp và giao thêm quyền tự chủ cho người
dân đặc biệt trong chương trình phát triển nông thôn mới.
Trước tình hình suy giảm của sản xuất nông nghiệp và xáo trộn
trong kết cấu nông thôn, đã đến lúc phải có quyết tâm chính trị cao để
kiên quyết tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp, ưu tiên phát triển nông
thôn, phát huy vai trò chủ thể của nông dân. Đây là những mục tiêu
quan trọng để ổn định chính trị xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng và
mở đường cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục đi lên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status