nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 7
Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác
Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác
Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác
định cha, mẹ và con (trong giá thú)
định cha, mẹ và con (trong giá thú) định cha, mẹ và con (trong giá thú)
định cha, mẹ và con (trong giá thú)
theo pháp luật Việt Nam
theo pháp luật Việt Namtheo pháp luật Việt Nam
theo pháp luật Việt Nam
ThS. Nguyễn Văn Cừ *
ấn đề xác định cha, mẹ và con nói
chung, trong đó có việc xác định cha,
mẹ và con (trong giá thú) là vấn đề
khá phức tạp nhng rất cần thiết, nó đ
gây nhiều tranh ci về mặt lí luận và
trong thực tiễn xét xử. Trong bài viết này,
trên cơ sở phân tích nội dung cơ bản của
nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha,
mẹ và con (trong giá thú) theo Luật hôn
nhân và gia đình 1986 (LHNGĐ); so sánh
với quy định về vấn đề này của hệ thống
pháp luật dới chế độ cũ ở nớc ta chúng
tôi xin nêu một số hạn chế về việc xác
kế, cấp dỡng Nh vậy, cần phải quy
định vấn đề xác định cha, mẹ và con
trong pháp luật. Nhà làm luật quy định
"nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định
cha, mẹ và con", trên cơ sở đó quan hệ
pháp luật giữa cha mẹ và con đợc xác
lập (thừa nhận). "ở nớc Cộng hòa x hội
chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con ngời
về chính trị, dân sự, kinh tế văn hóa và x
hội đợc tôn trọng " (Điều 50 - Hiến
pháp 1992); "mỗi cá nhân đều có quyền
có họ, tên. Họ, tên của mỗi ngời đợc
xác định theo họ, tên khai sinh của ngời
đó" (Điều 28 BLDS); "Nhà nớc và x
hội không thừa nhận việc phân biệt đối
xử giữa các con" (Điều 64 Hiến pháp
1992); "giữa con trong giá thú và con
ngoài giá thú; con ngoài giá thú đợc
cha, mẹ nhận hoặc đợc tòa án nhân dân
cho nhận cha mẹ có mọi quyền và nghĩa
V
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
8 - Tạp chí luật học
vụ nh con trong giá thú" (Điều 32
đảm sự ổn định của các quan hệ hôn nhân
và gia đình góp phần định hớng chiến
lợc về dân số và kế hoạch hóa gia đình.
2. Nội dung cơ bản của nguyên tắc
suy đoán pháp lí xác định cha, mẹ và
con theo hệ thống pháp luật ở nớc ta
dới chế độ cũ
2.1. Cổ luật phong kiến Việt Nam (Bộ
luật Hồng Đức dới triều Lê, Bộ luật Gia
Long dới triều Nguyễn) không quy định
về việc xác định cha, mẹ và con.
Trong x hội phong kiến, chế độ đa
thê và quyền gia trởng của ngời chồng
đợc thừa nhận, ngời vợ phải tuyệt đối
chung tình với chồng, nếu phạm gian thì
đó là "tội" lớn mà ngời chồng có quyền
"hành xử" vợ hoặc bỏ vợ (thất xuất). Lẽ
thờng, khi ngời vợ sinh con, con đó là
con chung của vợ chồng, trừ trờng hợp
ngời vợ có hành vi không đoan chính,
ngoại tình, thông gian với ngời khác.
Trong trờng hợp đó, ngời chồng thờng
đối xử tệ bạc với vợ và con, không nhận
đứa con do ngời vợ mình sinh ra là con
mình.
Theo tục lệ, nếu nghi ngờ sự không
đoan chính của ngời vợ, từ bỏ đứa trẻ do
ngời vợ sinh ra; ngời ta chích lấy hai
giọt máu của đứa trẻ và của ngời chồng
của mẹ đứa trẻ vào một bát nớc l, sau
quy định: "Khi nào sinh con sau khi
thành hôn hơn 180 ngày hay là sau khi
đoạn hôn cha đến 300 ngày thì kể là đứa
con ấy đ đợc thụ thai trong thời kì giá
thú"
(1)
. Điều 207 Bộ luật dân sự 1972
dới chế độ ngụy quyền Sài Gòn cũng ghi
nhận: "Đứa trẻ thụ thai trong thời kì hôn
thú là con của chồng ngời mẹ.
Đợc coi là thụ thai trong thời kì hôn
thú trẻ nào sinh đủ 180 ngày sau khi hôn
thú thành lập hay không quá 300 ngày
sau khi hôn thú đoạn tiêu".
Nh vậy, theo nguyên tắc suy đoán
này, kể từ khi kết hôn, chỉ những đứa trẻ
nào do ngời vợ sinh ra sau 180 ngày
hoặc không quá 300 ngày kể từ khi hôn
nhân chấm dứt trớc pháp luật (do ngời
chồng chết hoặc kể từ ngày phán quyết li
hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật) mới
đợc xác định là con chính thức của
ngời chồng. Nếu từ khi kết hôn cha
đợc 180 ngày hoặc kể từ khi hôn nhân
chấm dứt trớc pháp luật đ quá 300 ngày
mà ngời vợ mới sinh con thì về nguyên
tắc, ngời chồng của mẹ đứa trẻ hay
những ngời thừa kế của ngời chồng
(trong trờng hợp ngời chồng chết) có
quyền khớc từ, đứa trẻ đó không phải là
lực).
Ngoài ra, sự khớc từ cũng có thể
đợc chấp nhận nếu sự sinh đẻ bị giấu
giếm và nếu có sự kiện chứng tỏ ngời
chồng không thể là cha đứa trẻ (Điều 209
Bộ luật dân sự 1972 của Việt Nam cộng
hòa).
Bên cạnh việc quy định về nguyên tắc
suy đoán xác định cha cho con, hệ thống
pháp luật ở nớc ta dới chế độ cũ còn
quy định về thời hiệu kiện áp dụng trong
trờng hợp này. Tùy theo từng trờng hợp
mà nhà làm luật dự liệu thời hiệu cụ thể
khác nhau. Thông thờng, thời hiệu khởi
kiện của ngời chồng theo luật định là hai
tháng kể từ ngày ngời vợ sinh con. Nếu
trong thời gian đó mà ngời chồng đi
vắng thì thời hiệu đợc tính từ ngày ngời
chồng trở về. Nếu việc sinh đẻ của ngời
vợ bị giấu giếm thì thời hiệu đợc tính từ
ngày việc sinh đẻ của ngời vợ đợc phát
hiện.
3. Vấn đề xác định cha, mẹ và con nghiên cứu - trao đổi
10 - Tạp chí luật học
(trong giá thú) theo hệ thống pháp luật
hôn nhân và gia đình của Nhà nớc ta
cái" (Điều 3). "Ngời đàn bà li dị có thể
lấy chồng khác ngay sau khi có án tuyên
li dị nếu dẫn chứng đợc rằng mình
không có thai hoặc đang có thai" (Điều
4).
Những quy định này tơng tự với hệ
thống pháp luật trớc năm 1945 ở nớc
ta. Mặc dù Sắc lệnh số 97/SL cha quy
định rõ về nguyên tắc suy đoán pháp lí
xác định cha mẹ và con nhng vẫn hạn
chế quyền kết hôn của ngời vợ, khi hôn
nhân chấm dứt trớc pháp luật, phải sau
thời hạn 10 tháng (300 ngày) mới đợc
quyền tái giá hoặc kết hôn với ngời khác
nhằm tránh lẫn lộn về con cái giữa ngời
chồng trớc (đ chết hoặc đ li hôn), với
ngời chồng sau. Nh vậy, theo tinh thần
của Sắc lệnh số 97/SL thì thời kì thai
nghén tối đa của ngời vợ cũng đợc tính
là 300 ngày kể từ ngày ngời vợ thụ thai
đứa con đó.
Cũng theo quy định tại Điều 3, Điều 4
của Sắc lệnh số 97/SL, khi hôn nhân
chấm dứt trớc pháp luật, ngời vợ sẽ
không phải đợi sau hạn 10 tháng mà cũng
có quyền kết hôn ngay với ngời khác
nhng phải chứng minh rằng mình không
có thai hoặc đang có thai với ngời chồng
trớc.
- Trờng hợp khi hôn nhân chấm dứt
không có điều nào quy định vấn đề xác
định cha mẹ và con. Trên nguyên tắc bảo
vệ quyền lợi của con trong gia đình,
không phân biệt đối xử giữa các con; tại
Điều 21, Điều 22, Điều 23 của LHNGĐ
1959 chỉ quy định quyền xin nhận cha,
mẹ và con ngoài giá thú trớc ủy ban
hành chính cơ sở (nay là ủy ban nhân dân
x, phờng hoặc thị trấn) hoặc kiện trớc
tòa án. Con ngoài giá thú đợc cha mẹ
nhận hoặc đợc tòa án nhân dân cho nhận
cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ nh con
chính thức (con trong giá thú).
Việc LHNGĐ 1959 không quy định
nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha,
mẹ và con đ là hạn chế trong việc thực
hiện và áp dụng luật. Khi có tranh chấp
về việc xác định cha, mẹ cho con (trong
giá thú), tòa án thiếu cơ sở pháp lí để áp
dụng. Điều đó đ dẫn tới việc giải quyết
các tranh chấp về xác định cha, mẹ cho
con thờng dựa vào cảm tính, ý thức chủ
quan của thẩm phán khi xét xử, khó tránh
đợc tùy tiện, không thống nhất giữa các
cấp tòa án. Thông thờng, khi có tranh
chấp, tòa án trng cầu thẩm định về mặt y
học nh thử máu, khả năng có con của
ngời chồng; thậm chí xem xét sự giống
nhau về mặt hình thức giữa ngời chồng
của mẹ đứa trẻ với đứa trẻ do ngời vợ
luật (kể từ khi ngời chồng chết hoặc
đợc tòa án xác định là đ chết kể từ
ngày quyết định của tòa án có hiệu lực
pháp luật; trờng hợp vợ chồng li hôn,
quan hệ vợ chồng đợc chấm dứt kể từ
ngày phán quyết li hôn của tòa án có hiệu
lực pháp luật). Nếu ngời vợ sinh con
trong thời kì hôn nhân này, con đó đợc
coi là con chung của cả hai vợ chồng; có
nghĩa là ngời chồng của mẹ đứa trẻ
đơng nhiên đợc suy đoán là cha của
đứa trẻ đó. Chúng ta thấy có hai trờng
hợp:
- Ngời mẹ đ thụ thai đứa trẻ từ trớc
khi kết hôn và sinh đứa trẻ đó trong thời
kì hôn nhân;
- Ngời mẹ thụ thai và sinh con đó nghiên cứu - trao đổi
12 - Tạp chí luật học
trong thời kì hôn nhân.
Cần thấy rằng, theo Điều 28, nhà làm
luật sử dụng thuật ngữ "con chung của vợ
chồng" mà không dự liệu là "con chính
thức của ngời chồng mẹ nó" nh hệ
thống pháp luật dới chế độ cũ. Quy định
này vừa có ý nghĩa x hội sâu sắc, không
phân biệt đối xử giữa các con, vừa có ý
Nguyên tắc suy đoán này vẫn đợc áp
dụng cả trong trờng hợp ngời vợ có thai
với ngời khác từ trớc khi kết hôn và
con đó đợc sinh ra trong thời kì hôn
nhân hoặc có thai với ngời khác trong
thời kì hôn nhân (ngoại tình, thông gian
với ngời khác); ngời chồng của mẹ đứa
trẻ vẫn đợc suy đoán là cha của đứa trẻ
đó trừ trờng hợp có yêu cầu xác định lại
quan hệ cha - con và có chứng cứ chứng
tỏ rằng mình không phải (hoặc không
thể) là cha của đứa trẻ đó.
Đoạn 2 Điều 28 còn quy định: "
Trong trờng hợp có yêu cầu xác định lại
vấn đề này thì phải có chứng cứ khác".
Trong thực tế, trờng hợp ngời chồng
(hoặc những ngời thừa kế di sản của
ngời chồng trong trờng hợp ngời
chồng chết) nghi ngờ đứa trẻ do ngời vợ
sinh ra không phải là con của ngời
chồng vì cho rằng ngời vợ đ ngoại tình,
thụ thai đứa trẻ đó với ngời khác và có
yêu cầu tòa án xác định đứa trẻ đó không
phải là con của ngời chồng của mẹ nó
thì ngời tha kiện phải có nghĩa vụ
chứng minh đứa trẻ đó không phải là con
của ngời chồng của mẹ nó. Việc chứng
minh của ngời chồng có thể dựa trên sự
thừa nhận của ngời vợ là đ có thai với
ngời khác từ trớc khi lấy chồng hoặc
ghen tuông mà không chứng minh đợc
một trong các căn cứ trên, quyền yêu cầu
của ngời chồng sẽ không đợc tòa án
chấp nhận, ngời chồng vẫn đợc xác
định là cha của đứa trẻ đó.
Sở dĩ nhà làm luật dự liệu nội dung
nguyên tắc suy đoán pháp lí xác định cha,
mẹ cho con theo Điều 28 LHNGĐ 1986
trên đây là đ dựa vào những lí do sau:
- Trong x hội ngày nay, quyền tự do
tìm hiểu yêu đơng của các bên nam nữ
đợc tôn trọng và bảo vệ, trên nguyên tắc
hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Có nhiều
trờng hợp, trớc khi kết hôn, ở vào giai
đoạn tìm hiểu, yêu đơng, hai bên nam
nữ thờng đ có quan hệ sinh lí với nhau;
có trờng hợp ngời phụ nữ đ thụ thai
đứa con đó rồi mới thông báo cho ngời
yêu, sau này là chồng mình biết. Vì thế,
sau khi nam nữ kết hôn trở thành vợ
chồng, nhiều trờng hợp kết hôn cha
đợc 180 ngày thì ngời vợ đ sinh con!
Trong thực tế và về mặt tình cảm, ngời
chồng đ biết "chắc chắn" đứa trẻ đó
chính là con của mình do ngời vợ thụ
thai từ trớc khi kết hôn. Vì thế, trờng
hợp yêu cầu tòa án xác định lại quan hệ
cha con là rất hn hữu (trừ trờng hợp có
chứng cứ chứng tỏ vào thời kì có khả
năng thụ thai đứa con đó, ngời vợ đ
biết nó không phải là con mình. Nếu đặt
mục đích phải xác định ngời cha đích
thực về mặt sinh học thì sẽ không phù
hợp với thực tế của đời sống x hội trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Vì vậy, nhà làm luật dự liệu nguyên
tắc suy đoán pháp lí xác định quan hệ cha
- con để bảo đảm mục đích của hôn nhân nghiên cứu - trao đổi
14 - Tạp chí luật học
là nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa
thuận, hạnh phúc và bền vững (Điều 1
LHNGĐ 1986). Từ đó, điều quan trọng
về mặt pháp luật của quan hệ cha - con đ
đợc thừa nhận.
Thực tiễn qua hơn mời năm thực
hiện và áp dụng LHNGĐ 1986, nguyên
tắc suy đoán xác định cha, mẹ cho con
(trong giá thú) theo quy định tại Điều 28
là tơng đối phù hợp, góp phần giải quyết
ổn thỏa các tranh chấp về quan hệ cha -
con (trong giá thú).
3.4. Tuy nhiên, qua nghiên cứu vấn đề
xác định cha, mẹ và con theo LHNGĐ
1986, chúng tôi thấy rằng:
- Mặc dù luật đ quy định nguyên tắc
suy đoán pháp lí xác định cha, mẹ cho
đình, nâng cao ý thức trách nhiệm của
các chủ thể vì lợi ích của gia đình;
- Ngày nay, trên thế giới và ở Việt
Nam, vấn đề thụ thai nhân tạo, có con
trong ống nghiệm là hoàn toàn có thể
tiến hành đợc. Vấn đề đặt ra: Trờng
hợp ngời chồng mắc bệnh vô sinh hoặc
bất lực hoàn toàn về sinh lí (không thể có
con) đ đồng ý để ngời vợ đợc thụ thai
nhân tạo thì đứa con đó có đợc xác định
là con chung của vợ chồng hay không?
Nếu sau này ngời chồng có yêu cầu xác
định lại quan hệ cha - con thì tòa án có
thụ lí giải quyết không?
- Trong thời đại văn minh, nền y học
rất phát triển, các trờng hợp "chửa hộ, đẻ
thuê"; "có con với ngời đ chết"; ngời
vợ vô sinh mà vẫn thụ thai và sinh con do
"xin trứng" của ngời phụ nữ khác; vấn
đề xác định về gens di truyền trong quan
hệ huyết thống đ ảnh hởng nhiều đến
nguyên tắc xác định cha mẹ và con theo
truyền thống.
4. Hiện nay Nhà nớc ta đang xây
dựng Dự thảo Luật hôn nhân - gia đình
(sửa đổi) nhằm thay thế LHNGĐ 1986,
góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
hôn nhân và gia đình ở nớc ta. Theo
Điều 71 Dự thảo Luật hôn nhân và gia
đình (sửa đổi) "con sinh ra trong thời kì
Con sinh ra trớc thời kì hôn nhân mà
sau đó cha mẹ kết hôn và thừa nhận cũng
là con chung của vợ chồng".
Ngoài ra, các Điều 72, Điều 73, Điều
74 và Điều 75 trong Chơng V Dự thảo
Luật hôn nhân và gia đình cũng chỉ quy
định về quyền yêu cầu xác định cha, mẹ,
con; thẩm quyền công nhận, cho nhận
cha, mẹ, con;
Chúng tôi thiết nghĩ, cần phải sửa đổi,
bổ sung LHNGĐ 1986, trong đó có chế
định xác định cha, mẹ và con. Một số hạn
chế của LHNGĐ 1986 về nguyên tắc suy
đoán pháp lí xác định cha, mẹ và con
(trong giá thú) cần đợc Dự thảo Luật
hôn nhân và gia đình (sửa đổi) kịp thời
hoàn thiện; tạo cơ sở pháp lí, bảo đảm
tính khả thi trong việc thực hiện và áp
dụng luật hôn nhân và gia đình./.
(1). Xem: Điều 149 Bộ dân luật Trung Kì 1936; Điều
83 Bộ luật gia đình 1959 dới chế độ Ngô Đình
Diệm; Điều 100 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 quy
định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng.
(2). Xem: Điều 153 Bộ dân luật Bắc kì 1931; Điều
151 Bộ dân luật Trung kì; Điều 84 Bộ luật gia đình
1959 của Việt Nam cộng hòa; Điều 103 Sắc luật
15/64 ngày 23/7/1964; Điều 208 Bộ dân luật 1972
của Việt Nam cộng hòa.