Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, việc quan tâm, chăm sóc và bảo vệ trẻ em được coi là nhiệm vụ
trọng tâm trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Trẻ em sẽ được
phát triển một cách tốt nhất cả về mặt vật chất và tinh thần trong một môi trường
gia đình tốt, có đầy đủ cha, mẹ. Quyền làm cha, làm mẹ và quyền làm con là
những quyền thiêng liêng, vì vậy mà việc xác định cha, mẹ, con nhằm xác định
thân phận và quan hệ huyết thống giữa các chủ thể là việc làm hết sức quan
trọng, góp phần ổn định các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội.
Tuy nhiên, trong đời sống xã hội hiện nay, do sự hội nhập kinh tế và văn
hóa toàn cầu, nên đã nảy sinh nhiều mặt trái của xã hội, trong đó có hiện tượng
nam nữ quan hệ tình dục trước hôn nhân, nam nữ chung sống với nhau như vợ
chồng hay “sống thử”…, dẫn đến các trường hợp trẻ em được sinh ra nhưng
không biết cha, mẹ đẻ là ai, hoặc bị chính cha, mẹ đẻ chối bỏ, không công
nhận… Do đó, để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, Luật HN&GĐ năm 2000 đã dành
chương VII quy định về vấn đề xác định cha, mẹ, con.
Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con đã được quy định tương đối sớm
trong hệ thống pháp luật của nhà nước ta, giữ vai trò quan trọng trong sự phát
triển của Luật HN&GĐ nói riêng và của cả xã hội nói chung. Nguyên tắc này
thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, đồng thời
thể hiện mục đích cao cả vì sự phát triển toàn diện của trẻ em, của gia đình và
của toàn xã hội.
Vì những lý do cơ bản trên, nên em chọn vấn đề: “Nguyên tắc xác định
cha, mẹ cho con trong hệ thống pháp luật Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tập trung tìm hiểu, phân tích và làm
sáng tỏ nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
thực tiễn áp dụng nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con, qua đó có sự so sánh và
tắc xác định cha, mẹ cho con
1.1.1. Khái niệm xác định cha, mẹ cho con
Khái niệm xác định cha, mẹ cho con theo từ điển Luật học được hiểu là:
“Định rõ một người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các quy định
của pháp luật”, ngoài ra còn có khái niệm xác định con cho cha, mẹ là: “Định
rõ một người là con của cha hoặc của mẹ trên cơ sở các quy định của pháp luật”.
Tuy vậy, mối quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ hai chiều và không
thể tách rời, xác định cha, mẹ cho con cũng chính là xác định con cho cha, mẹ vì
sau khi xác định được ai là cha, mẹ hoặc ai là con cũng sẽ phát sinh những
quyền và nghĩa vụ theo pháp luật như nhau. Chính vì vậy, việc tách riêng thành
hai khái niệm như trong từ điển Luật học là không cần thiết mà chỉ cần nêu khái
niệm chung về việc xác định cha, mẹ, con mà thôi. Sau đây là những khái niệm
khái quát về vấn đề này:
- Trong từ điển Tiếng Việt:
“Xác định” theo từ điển Tiếng Việt là “qua nghiên cứu, tìm tòi, biết được
rõ ràng, chính xác”, vậy xác định cha, mẹ cho con là việc nghiên cứu, tìm tòi để
tìm ra nguồn gốc của một con người một cách rõ ràng và chính xác.
- Dưới góc độ sinh học – xã hội:
Xác định cha, mẹ cho con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối
quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ.
1
1
Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha,mẹ,con trong Pháp luật Việt Nam” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Lan.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
- Dưới góc độ pháp lý:
Xác định cha, mẹ, con là một chế định pháp lý bao gồm các quy phạm pháp
luật, quy định về căn cứ pháp lý, thủ tục pháp lý xác định cha, mẹ, con, cơ sở để
hình thành ở các chủ thể quyền và nghĩa vụ theo luật định.
2
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc xác định cha, mẹ, con
Nam phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là phù hợp với Công ước quốc tế về
quyền trẻ em : “Gia đình với tư cách là nhóm xã hội cơ bản và môi trường tự
nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em…” Điều
64 Hiến pháp 1992 của nhà nước ta đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã
hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” và Điều 65 “Trẻ em được gia đình,
nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.
Mặt khác, chế định xác định cha, mẹ, con còn nhằm cụ thể hóa những
nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ năm 2000 mà cụ thể là tại khoản 4, 5 và 6
Điều 2 đã quy định:
“4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con
có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ;…
5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con,
giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá
thú.
6. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp
đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.”
Xác định cha, mẹ, con là một chế định của Luật HN&GĐ năm 2000, phù
hợp với quy định trong Hiến pháp và BLDS, điều này thể hiện sự thống nhất
đồng bộ trong việc xây dựng pháp luật, đặc biệt đã thể hiện được tầm quan trọng
của chế định xác định cha, mẹ, con cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Khi xác định một người là cha, mẹ, con của nhau thì ngoài tình cảm máu
mủ, ruột thịt thì giữa họ cũng sẽ hình thành một quan hệ cha, mẹ, con trước pháp
luật. Điều đó cũng có nghĩa giữa họ đã có những quyền và nghĩa vụ đối với nhau
theo quy định của pháp luật. Do đó, chế định xác định cha, mẹ, con còn là cơ sở
pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
từ quan hệ này như: xác định dân tộc, chia tài sản thừa kế, cấp dưỡng… Mặt
khác, việc xác định cha, mẹ, con không chỉ liên quan đến mối quan hệ giữa cha,
mẹ và con mà còn liên quan đến các mối quan hệ của những thành viên khác
trong gia đình như ông, bà với cháu; anh, chị, em với nhau… chính vì vậy, cũng
gây ra hậu quả thì theo phong tục và luật định, họ sẽ phải chịu những hình phạt
nghiêm khắc, ví dụ, nếu người vợ ngoại tình thì có nghĩa là họ đã phạm vào một
tội trong “thất xuất” có nghĩa là bảy tội lớn, khi đó sẽ bị cả xã hội khinh rẻ, có
thể bị cạo đầu bôi vôi và người chồng có quyền “hành xử” vợ hoặc bỏ vợ, nhưng
không được bỏ vợ khi vợ đã thờ bố mẹ chồng được ba năm hoặc trước kia nghèo
hèn mà bây giờ phú quý, hay người vợ không có nơi nương tựa (tam bất khứ, Bộ
luật Hồng Đức). Hoặc nếu người đàn ông phạm tội thông gian thì sẽ bị xử phạt
rất nặng theo Điều 401 Bộ luật Hồng Đức : “Gian dâm với vợ người khác thì bị
xử tội lưu hay tội chết…”
Chính những khuôn giáo khắt khe và việc xử phạt nghiêm khắc này mà
đương nhiên khi người vợ sinh con ra thì đứa trẻ đó mặc nhiên được thừa nhận
là con chung của vợ chồng. Tuy nhiên, người chồng có thể không thừa nhận đứa
trẻ đó nếu phát hiện thấy vợ mình không chính chuyên hoặc thông gian với
người khác. Để chứng minh, theo phong tục tập quán thì trước sự chứng kiến
của các chức sắc trong làng, họ sẽ lấy hai giọt máu của đứa trẻ và người chồng
hòa vào một bát nước lã, nếu thấy hai giọt máu không hòa đồng màu sắc thì đứa
trẻ đó được coi là con riêng của vợ và người khác, khi đó người chồng không
phải có trách nhiệm gì với đứa trẻ và có quyền bỏ vợ, còn người vợ bị coi là
phạm một trong bảy tội lớn.
Đối với con ngoại hôn (tử hệ tư sinh) thì pháp luật thời kì này mới chỉ quy
định các hành vi tự nhìn nhận con của người cha và người mẹ đứa trẻ. Một đứa
trẻ bị coi là con tư sinh khi người đàn bà có thai mà không được một người đàn
ông nào nhìn nhận hoặc người đàn bà có chồng mà phạm tội thông gian rồi sinh
con. Khi được người cha thừa nhận thì đứa con tư sinh đương nhiên trở thành
con chính thức. Tuy vậy, theo phong tục tập quán thời kì đó thì những người
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
phụ nữ không đoan chính, có con tư sinh thường bị cả xã hội lên án, kỳ thị và bị
trừng phạt rất tàn ác và đứa con cũng bị xã hội coi thường, khinh miệt cho dù
chúng chẳng hề có lỗi.
Có thể thấy, chính bởi sự ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, chế độ
vì quan hệ mẹ con đương nhiên được xác lập từ sự kiện sinh đẻ. Việc xác định
cha cho con, trước hết là căn cứ vào giá thú của người mẹ.
Điều 148 BDLBK quy định: “Phàm một đứa con nào do một người đàn bà
có chính đáng hôn thú bất cứ, vợ chính hay vợ thứ, thụ thai trong thời kỳ vợ
chồng đoàn tụ mà sinh con, thời người chồng người đàn bà ấy là cha đứa con ấy,
đứa con ấy gọi là đứa con chính” hay Điều 151 BDLBK cũng quy định: “Phàm
thụ thai trong thời kỳ giá thú thì cha đứa con sinh ra là người chồng”.
Đứa con chỉ được thừa nhận là “con chính thức” khi được người mẹ thụ
thai trong thời kỳ giá thú, đó là khoảng thời gian mang thai tối thiểu và tối đa
của người phụ nữ kể từ thời điểm thụ thai đến thời điểm sinh con, các nhà làm
luật đã đưa ra khái niệm tại Điều 151 BDLBK như sau: “Thụ thai trong thời kỳ
giá thú, tức là kể từ sau khi đã làm lễ cưới cách ngoại một trăm tám mươi ngày
sinh con, hay là kể từ sau khi đã tiêu hôn mà trong khoảng ba trăm ngày sinh
con”. Tất cả các văn bản pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình ở nước ta
thời kỳ này đều mô phỏng theo Điều 311 và Điều 312 BLDS Cộng hòa Pháp để
dự liệu về thời kỳ thai nghén (thời gian mang thai tối thiểu và tối đa) và coi đó là
nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha cho con (trong giá thú - còn gọi là con
chính thức). Tức là những đứa trẻ chỉ được công nhận là “con chính thức” khi
được sinh ra sau 180 ngày kể từ ngày có hôn thú hoặc là trong vòng 300 ngày
sau khi hôn thú đoạn tiêu. Do vậy, nếu đứa trẻ đó được sinh ra khi chưa đủ 180
ngày kể từ ngày bố mẹ lập hôn thú thì người cha có quyền khởi kiện không nhận
con theo Điều 153 BDLBK: “Đứa con sinh ra chưa đủ 180 ngày sau khi lập hôn
thú được suy đoán là con của người chồng và có tư cách là con chính thức nhưng
có thể bị khước từ phụ hệ”. Tuy nhiên cũng theo Điều 152 BDLBK thì người
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
chồng đương nhiên phải nhận con sinh ra trước khi lập hôn thú 180 ngày là “con
chính thức” khi: “1. Trước khi lập giá thú đã biêt người đàn bà ấy có thai; 2. Đã
chứng kiến việc khai sinh và ký vào chứng thư khai sinh, hay là trong chứng thư
ấy đã biên lời khai rằng không biết ký tên”.
Việc phân biệt đối xử giữa các loại con trong gia đình được thừa nhận, đặc
việc xác định cha, mẹ, con trên thực tế dưới thời kỳ này.
1.2.3. Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Miền Nam
từ năm 1954-1975
Thời kỳ này, nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con chủ yếu được quy định
trong các văn bản pháp luật: Luật gia đình năm 1959 dưới chế độ Ngô Đình
Diệm (Thiên thứ ba, gồm hai chương); Sắc luật số 15/64 năm 1964 quy định về
giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng(Chương thứ ba, gồm hai tiết); Bộ Dân luật
Sài Gòn năm 1972 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (Thiên thứ sáu, gồm ba
chương).
Các văn bản này đã quy định một số điều cơ bản về nguyên tắc xác định
cha, mẹ, con, trong đó có sự kế thừa pháp luật thời kỳ trước như quy định về
việc xác định con chính thức (con trong giá thú): là người con được thành thai
trong thời kỳ hôn thú (Điều 100 SL số 15/64) hay việc xác định con hoang là:
con của cha mẹ không có hôn thú (Điều 100 SL số 15/64) đồng thời Điều 207
Bộ Dân luật Sài Gòn quy định: “Đứa trẻ thụ thai trong thời kỳ hôn thú là con
của chồng người mẹ”. Và trong điều luật này cũng đã quy định thời kỳ thụ thai
của một đứa trẻ trong thời kỳ hôn thú: “Được coi là thụ thai trong thời kỳ hôn
thú đứa trẻ nào sinh đủ một trăm tám chục ngày sau khi hôn thú thành lập hay
không quá ba trăm ngày sau khi hôn thú đoạn tiêu”. Do trong thời kỳ này, theo
phong tục truyền thống và tập quán đạo đức, thì quan hệ mẹ con đương nhiên
được thừa nhận thông qua sự kiện sinh đẻ, việc xác định cha, mẹ, con chỉ nhằm
xác định cha cho đứa con thông qua nguyên tắc suy đoán rằng nếu người mẹ có
chồng chính thức thì khi sinh con, đứa con đó mặc nhiên là con của người
chồng, dựa vào thời kỳ thụ thai đã được quy định trong luật, đó là khoảng thời
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
gian mang thai tối thiểu và tối đa là 180 ngày và 300 ngày. Cả ba văn bản pháp
luật này đều dự liệu dựa theo BLDS Cộng hòa Pháp, trên cơ sở y học để quy
định về thời kỳ thụ thai, nếu đứa trẻ thụ thai trong thời kỳ đó thì được coi là con
của người chồng, đây có thể coi là nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha cho
con (trong giá thú).Vậy nếu đứa trẻ sinh ra khi chưa đủ 180 ngày sau khi lập hôn
hàng vào trường hợp luật cấm kết hôn;
+ Con ngoại tình là con của một người đàn ông đã có vợ với một người đàn
bà đã có chồng hoặc một trong hai bên đã có vợ, có chồng.
Về quyền truy tìm phụ hệ tư sinh, theo Điều 107 Luật gia đình năm 1959,
Điều 124 SL số 15/64 và Điều 229 Bộ Dân luật Sài Gòn thì phụ hệ tư sinh có
thể do Tòa án công nhận tuyên bố trong năm trường hợp:
+ Khi người đàn bà bị bắt đem đi hay bị hãm hiếp mà sự thụ thai lại đúng
vào thời kỳ bị bắt hay bị hãm hiếp;
+ Khi người đàn bà bị người ta dùng mưu chước lừa gạt, lạm dụng quyền
uy hay hứa kết hôn hay đính hôn;
+ Khi người đàn ông bị hồ nghi là cha và người mẹ đã sống công khai trong
tình trạng ngoại hôn, trong thời kỳ thụ thai;
+ Khi có thư từ giấy má của người đàn ông bị hồ nghi là cha biểu lộ một sự
thú nhận rõ ràng người ấy là cha đứa trẻ;
+ Khi người bị hồ nghi là cha đã cấp dưỡng, dạy dỗ đứa trẻ với tư cách là
cha.
Về vấn đề chính thức hóa con ngoại hôn thì điều kiện để con ngoại hôn
được chính thức hóa chính là hôn thú hợp pháp của cha mẹ. Việc chính thức hóa
con ngoại hôn sẽ là đương nhiên nếu các con ngoại hôn đã được cha mẹ khai
nhận khi cha mẹ làm giá thú (khoản 1 Điều 243 Bộ Dân luật Sài Gòn) còn đối
với trường hợp các con ngoại hôn chưa được cha mẹ khai nhận cũng có thể được
chính thức hóa nếu đồng thời khi lập giá thú, cha mẹ khai nhận con ngoại hôn là
con mình.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
Đối với trường hợp con ngoại hôn được khai nhận sau khi cha mẹ lập giá
thú, Điều 244 Bộ Dân luật Sài Gòn quy định: “Con ngoại hôn được thừa nhận
sau khi cha mẹ kết hôn với nhau chỉ được chính thức hóa bởi một bản án công
khai xác nhận đứa trẻ có thân trạng con chung của hai người từ ngày lập hôn thú
và tuyên nhận sự chính thức hóa”.
Pháp luật thời kỳ này đã tiến bộ hơn khi quy định về việc bồi thường cho
Ngày 22/05/1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành
Sắc lệnh số 97/SL nhằm sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật, Sắc
lệnh này bao gồm 15 điều, trong đó có 8 điều nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân
và gia đình. Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con được quy định rải rác trong
Sắc lệnh mà chưa được tập hợp lại thành một chế định riêng biệt, chủ yếu vẫn
dựa trên các điều luật trong các bộ dân luật cũ. Tuy nhiên, đã có một số tiến bộ
hơn so với pháp luật thời kỳ trước. Tại Điều 3 Sắc lệnh số 97/SL đã quy định
thời gian tái giá của người vợ khi chồng chết nhằm tránh sự lẫn lộn về con cái:
“Trong thời kỳ tang chế vẫn có thể lấy vợ lấy chồng được. Song người vợ góa chỉ
có thể lấy chồng sau 10 tháng kể từ ngày chồng chết. Nhưng trong thời hạn ấy
người vợ góa vẫn có thể tái giá nếu chứng minh được rằng mình không có thai
hoặc đã có thai với người chồng trước để tránh sự lẫn lộn về con cái”. Đối với
những người ly hôn, Sắc lệnh đã dự liệu: “Người đàn bà ly dị có thể lấy chồng
khác ngay sau khi có án tuyên ly dị nếu dẫn chứng được rằng mình không có thai
hoặc đang có thai” (Điều 4). Những quy định đó nhằm xác định chính xác người
cha của đứa trẻ sau này và thời kỳ thai nghén tối đa của người phụ nữ theo tinh
thần của Sắc lệnh này là 10 tháng (300 ngày) kể từ ngày thụ thai đứa trẻ đó.
Trong thời kỳ này người vợ có thể bị hạn chế quyền tái giá nhằm tránh sự lẫn
lộn về con cái giữa người chồng trước và người chồng sau. Việc phân biệt con
hoang, con loạn luân hay con ngoại tình không được đặt ra trong Sắc lệnh này
và đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật của Việt Nam, nhà làm luật đã
quy định: “Người con hoang vô thừa nhận được phép thưa trước tòa án để truy
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
nhận cha hoặc mẹ cho mình” (Điều 9). Đây là một điểm vô cùng tiến bộ của
pháp luật thời kỳ này.
1.2.4.2. Giai đoạn 1954-1975
Năm 1957, cuộc cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành, quan hệ sản
xuất phong kiến - cơ sở của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đã bị xóa
bỏ. Trong thời kỳ này, bản Hiến pháp thứ hai của Nhà nước ta được ban hành
vào ngày 31/12/1959 đã ghi nhận những nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân và
1.2.4.3. Giai đoạn 1975 – 1986
Sau ngày 30/04/1975, cả nước thống nhất, Luật HN&GĐ năm 1959 được
áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước theo Nghị quyết số 76/CP của Hội
đồng Chính phủ ngày 25/03/1977. Hơn ba năm sau, vào ngày 18/12/1980, Quốc
hội khóa VI đã thông qua bản Hiến pháp thứ ba của Nhà nước ta, làm nền tảng
cho bước phát triển mới của Luật HN&GĐ. Do trong quá trình áp dụng Luật
HN&GĐ năm 1959, đã có sự thay đổi về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội,
đồng thời các quy định vẫn còn nhiều hạn chế nên ngày 29/12/1986, Quốc hội
khóa VII đã thông qua Luật HN&GĐ năm 1986 và chính thức có hiệu lực từ
ngày 3/1/1987. Luật HN&GĐ đã dành cả một chương (chương V) với sáu điều
luật để quy định vấn đề xác định cha, mẹ, con. Đây là một bước tiến thể hiện sự
hoàn thiện của Luật hôn nhân và gia đình. Đặc biệt là tại Điều 28 Luật HN&GĐ
năm 1986 đã quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có
thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp có yêu cầu
xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác”. Nhưng trong luật chưa có
quy định cụ thể “chứng cứ khác” ở đây là gì mà nó được giải thích trong mục 5
Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 đó là: người vợ công nhận là
mình có thai với người khác từ trước khi kết hôn; người chồng chứng minh rằng
mình đã đi công tác xa trong thời gian mà vợ có thể có thai đứa trẻ v.v… Ngoài
ra tại Điều 31 Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định quyền xin nhận cha, mẹ của
con ngoài giá thú ngay cả khi cha, mẹ đã chết. Về hậu quả pháp lý của việc xác
định cha, mẹ cho con ngoài giá thú, Luật đã quy định: “Con ngoài giá thú được
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và
nghĩa vụ như con trong giá thú” (Điều 31), quy định này nhằm xóa bỏ sự phân
biệt đối xử giữa các con.
1.2.4.4. Giai đoạn 1986-2000
Trong thời kỳ này, nước ta đang trên đà công nghiệp hóa - hiện đại hóa, sự
phát triển về mọi mặt kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, y học… đã tác động
đến các quan hệ về hôn nhân và gia đình nói chung và về vấn đề xác định cha,
niệm “con trong giá thú”, tuy nhiên tùy từng thời kỳ mà các thuật ngữ này được
hiểu khác nhau, ví dụ như trong Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật thì “Con chính
thức là con do người mẹ có giá thú chính thức mà sinh ra” hoặc theo quy định
trong BDLBK thì: “Con chính thức là con do giá thú mà sinh ra”. Trước tiên ta
cần phải hiểu “giá thú” là gì?. Theo từ điển Tiếng việt thì “giá thú” là “việc lấy
vợ, lấy chồng được pháp luật thừa nhận”, khái niệm này gần giống với khái
niệm “hôn nhân”, nên có thể coi “con trong giá thú” là con của cha mẹ có hôn
nhân hợp pháp. Theo Luật HN&GĐ năm 2000 thì cha mẹ có hôn nhân hợp pháp
là cha mẹ đã đăng ký kết hôn và tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn mà Luật
HN&GĐ quy định, dựa theo các khái niệm tại Điều 8 Luật HN&GĐ thì: “hôn
nhân là quan hệ giữa vợ chồng được xác lập sau khi đã kết hôn” (khoản 6) và
“kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về
điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” (khoản 2).
Hiện nay, hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta vẫn
thừa nhận quan hệ vợ chồng đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau
như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật
HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực). Vì vậy, hôn nhân được thừa nhận trước pháp
luật có hai loại:
- Có giấy đăng ký kết hôn
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
- Không có giấy đăng ký kết hôn nhưng được công nhận là vợ chồng trước
pháp luật.
Tóm lại, “con trong giá thú” là con mà cha mẹ là vợ chồng trước pháp luật
(cha mẹ của đứa con đó có đăng ký kết hôn theo pháp luật hoặc quan hệ vợ
chồng của cha mẹ đứa con đó được pháp luật thừa nhận).
2.1.2. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong giá
thú
Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý
xác định cha cho con như sau:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
luật, thì được xác định là con chung của hai người.”
2.1.3. Nội dung nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong giá thú
Để có thể hiểu rõ nội dung của nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong
giá thú theo Luật HN&GĐ năm 2000, cần phải làm rõ các khái niệm tại Điều 63
như “thời kỳ hôn nhân”, “con chung của vợ chồng”.
- Thời kỳ hôn nhân: theo khoản 7 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 thì
“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày
đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”
+ Ngày đăng ký kết hôn là ngày hai bên nam nữ ký vào giấy chứng nhận
kết hôn, cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận
kết hôn. Đây chính là ngày bắt đầu thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, đối với trường
hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng được coi là có giá trị pháp lý và
sau đó họ đăng ký kết hôn thì thời kỳ hôn nhân được tính bắt đầu từ ngày họ
chung sống với nhau như vợ chồng.
+ Ngày chấm dứt hôn nhân là ngày mà một trong hai bên vợ hoặc chồng
chết, hoặc là ngày mà quyết định của Tòa án tuyên bố người vợ hoặc người
chồng chết có hiệu lực hoặc ngày chết của người đó do Tòa án xác định; trường
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
hợp hai vợ chồng ly hôn thì ngày chấm dứt hôn nhân là ngày bản án xử ly hôn
hay quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Con chung của vợ chồng:
Từ điển Luật học xác định con chung là: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn
nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày
đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
Trong trường hợp cha hoặc mẹ không thừa nhận, nhưng có chứng cứ để Tòa án
căn cứ ra quyết định xác định là con của hai người thì cũng là con chung của vợ
chồng. Con được sinh ra mà cha mẹ không có đăng ký kết hôn, không sống chung
với nhau như vợ chồng trên thực tế thì vẫn là con chung của hai người và thường
được gọi là con ngoài giá thú. Con nuôi do vợ chồng cùng nhận nuôi cũng là con
chung của vợ chồng…” [21,tr.168]. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ mang tính liệt
nguyên tắc suy đoán pháp lý nên đã gây nhiều khó khăn cho việc giải quyết vấn
đề xác định cha, mẹ, con cho Tòa án. Để hoàn thiện hơn pháp luật về hôn nhân
và gia đình, Điều 28 Luật HN&GĐ năm 1986 và Điều 63 Luật HN&GĐ năm
2000 đã quy định nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho
con khác với pháp luật dưới chế độ cũ. Theo nguyên tắc này, nếu người vợ sinh
con trong thời kỳ hôn nhân hoặc có thai trong thời kỳ đó thì con đó được xác
định là con chung trong giá thú của hai vợ chồng. Tức là người chồng của mẹ
đứa trẻ được xác định là cha của đứa trẻ đó. Đồng thời, Điều 63 Luật HN&GĐ
năm 2000 đã quy định: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ
thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng”, đây là một trường hợp đặc biệt vì
người mẹ đã sinh con ra trước ngày đăng ký kết hôn, sau đó, hai bên cha mẹ mới
đăng ký kết hôn và sau đó thừa nhận đứa trẻ thì đứa trẻ đó cũng trở thành con
chung của hai vợ chồng.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Ngọc Quyên
Theo khoản 2 Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000, trường hợp cha, mẹ không
thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Trong thực tế,
việc người chồng nghi ngờ người vợ không chung thủy, ngoại tình với người
khác và không thừa nhận đứa con được sinh ra là con mình không phải là hiếm.
Để chứng minh, người chồng cần đưa ra các chứng cứ như người vợ công nhận
là mình có thai với người khác từ trước khi kết hôn; người chồng chứng minh
rằng mình đã đi công tác xa vắng trong thời gian mà người vợ có khả năng thụ
thai đứa trẻ v.v. (điểm A mục 5 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988
của Hội đồng thẩm phán TANDTC). Nếu người cha không đưa ra được chứng
cứ thì Tòa án vẫn buộc họ phải thừa nhận đứa con đó là con chung của vợ
chồng.
* Thời điểm thụ thai và thời gian mang thai đứa trẻ của người mẹ:
Mặc dù Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định
về nguyên tắc suy đoán pháp lý để xác định cha, mẹ, con nhưng lại không hề đề
cập đến thời kỳ thụ thai pháp định (thời gian mang thai tối thiểu và tối đa của
người mẹ). Vì vậy trong thực tế khi có tranh chấp tòa án vẫn còn thiếu cơ sở
chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai
người.”
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP chỉ quy định thời gian mang thai tối đa mà
không đề cập tới thời gian mang thai tối thiểu, điều đó đã dẫn đến việc Tòa án
khi thụ lý các vụ việc về xác định cha, mẹ, con đã có những cách giải quyết khác
nhau, vì không có quy định cụ thể về thời gian mang thai tối thiểu của người phụ
nữ hoặc có quy định trong các văn bản pháp luật cũ nhưng không có sự đồng
nhất (180 ngày và 200 ngày), dẫn đến việc xác định sai thời kỳ thụ thai đứa trẻ,
nên không xác định được chính xác ai là cha đứa trẻ vì người mẹ có thể có quan
hệ sinh lý với nhiều người đàn ông trong thời gian có thể thụ thai. Vì vậy, các
nhà làm luật cần xem xét, bổ sung quy định về thời gian mang thai của người
phụ nữ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án áp dụng pháp luật trong việc xác định
cha, mẹ cho con.