Download miễn phí Luận án So sánh tục ngữ Việt và tục ngữ Lào
MỤC LỤC
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5. Cấu trúc luận án 8
Chương 1: Tổng quan văn hoá - xã hội Việt Nam - Lào 10
1.1 Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào 10
1.1.1. Sơ lược lịch sử - xã hội nước Lào 10
1.1.2. Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào 14
1.2. Mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Lào trong bối cảnh Đông Nam Á 18
1.2.1. Về địa lý và tự nhiên 19
1.2.2. Văn hoá - tộc người 24
1.2.2.1. Mối quan hệ giữa các tộc người 24
1.2.2.2. Mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Lào trong bối cảnh Đông Nam Á 29
1.2.2.3. Về ngôn ngữ 31
1.2.2.4. Về chữ viết 32
1.2.2.5. Phật giáo ở Việt Nam và Lào 33
Chương 2: So sánh nội dung tục ngữ Việt và tục ngữ Lào 39
2.1. Trình bày sự giống nhau và khác nhau 39
2.1.1. Tục ngữ Việt, Lào thể hiện nhận thức, trí thức về tự nhiên, thiên nhiên; phản ánh quê hương, đất nước 39
2.1.1.1. Thể hiện nhận thức, trí thức về tự nhiên, thiên nhiên 39
2.1.1.2. Phản ánh quê hương, đất nước 43
2.1.2. Đúc kết kinh nghiệm về sản xuất, chăn nuôi 55
2.1.2.1. Đúc kết kinh nghiệm về sản xuất 55
2.1.2.2. Đúc kết kinh nghiệm về chăn nuôi 59
2.1.3. Phản ánh các mối quan hệ gia đình, xã hội 60
2.1.4. Phê phán giai cấp thống trị và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, chế giễu những thói hư, tật xấu 68
2.1.4.1. Phê phán giai cấp thống trị 68
2.1.4.2. Khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, lối sống trọng tình 70
2.1.4.3. Chế giễu những thói hư, tật xấu 73
2.1.5. Phản ánh văn hoá ẩm thực của nhân dân 78
2.1.6.Tục ngữ Việt phản ánh thực tế người Việt chịu ảnh hưởng Nho giáo 87
2.1.7. Tục ngữ Lào phản ánh thực tế người Lào chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo 94
2.1.8. Hiện tượng trái nghĩa trong tục ngữ Việt 100
2.2. Giải thích sự giống nhau và khác nhau 107
2.2.1. Sự giống nhau 107
2.2.2. Sự khác nhau 112
Chương 3: So sánh nghệ thuật tục ngữ Việt và tục ngữ Lào116
3.1. Trình bày sự giống nhau và khác nhau 116
3.1.1. Ngữ nghĩa 116
3.1.2. Kết cấu 125
3.1.3. Vần 150
3.1.4. Nhịp 161
3.1.5. Lối tỉnh lược 165
3.1.6. Lối nói 167
3.1.6.1. Các hình thức tu từ trong tục ngữ 167
3.1.6.2. Hiện tượng “nói ngược” trong tục ngữ Lào 178
3.1.7. Từ ngữ 181
3.1.7.1. Tục ngữ Việt sử dụng nhiều phương ngữ 181
3.1.7.2. Tục ngữ Việt ảnh hưởng của tiếng Hán và văn hoá Hán 183
3.1.7.3. Tục ngữ Lào sử dụng nhiều tiếng Pali - Sanskrit 184
3.2. Giải thích sự giống nhau và khác nhau 184
3.2.1. Sự giống nhau 185
3.2.2. Sự khác nhau 186
Kết luận 189
Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án 192
Tài liệu tham khảo 195
Phụ lục 213
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-21-luan_an_so_sanh_tuc_ngu_viet_va_tuc_ngu_lao.cpniXv8xOV.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41487/Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Tóm tắt nội dung:
5]. Một cuộc sống đầy đủ, sung sướng hơn ở kiếp sau luôn là niềm mơ ước của mọi tín đồ đạo Phật. Nhiều người dân lao động Lào rất muốn làm việc phúc, vì họ tin rằng, làm được điều ấy thì sau khi chết họ sẽ được lên thiên đàng: “Làm phúc được lên thiên đàng, làm tội lội xuống chết trương vạc dầu, người khác chia cho thấy đâu, mình làm tốt xấu thấy mau thôi mà”. Họ tin rằng, kẻ gây tội sẽ bị trừng trị: “Tội đền bù bằng tội”. Đối với nhiều tăng ni, phật tử Lào, thiên đàng và địa ngục chẳng phải ở đâu xa lạ mà ở ngay giữa cõi trần: “Thiên đàng trong ngực, địa ngục trong tim” (“Xạ vẳn nay ôốc nạ rốc nay chày”). Thiên đàng cho người tốt, địa ngục cho kẻ phạm tội. Muốn được lên thiên đàng không có cách nào khác là phải có những hành vi đạo đức tốt được thể hiện qua từng cách ứng xử hàng ngày. Bởi vậy, theo họ, cuộc sống kiếp sau phụ thuộc vào sự tu nhân tích đức ở kiếp trước. Từ đó họ sống hiền lành, làm nhiều điều thiện để hy vọng kiếp sau sẽ được đền bù: “Hết bun đạy bun, xạng bạp đạy bạp” (“Làm phúc được phúc, gây tội đền tội”). Theo họ, chỉ với cuộc sống chân tu mới từ bỏ được mọi sắc dục, ham muốn, để giữ cho thân mình được thanh tịnh: “Khát vọng ham mê sắc dục ở đời, nói lời phung phí hàng ngày là tốt à, ta sẽ kiếu mà lánh xa, bỏ ra đi làm Phật”. Con người phấn đấu không mệt mỏi trong vòng luân hồi sinh tử cho đến khi hoàn toàn trong sạch thì mới thoát được khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy mà thành Phật: “Xấu bụng là ma, tốt bụng là phật”, “Khi khó nghĩ tới thầy, khi chết nghĩ tới Phật”...
Vì sao người Lào lại hồ hởi tiếp nhận Phật giáo và Phật giáo có ảnh hưởng đến đời sống văn hoá và con người Lào đến như vậy ? Câu trả lời chỉ có thể tìm ở lịch sử Lào nói chung cũng như quá trình hình thành, phát triển và những ảnh hưởng của Phật giáo ở Lào nói riêng.
Lịch sử Lào là lịch sử mà nhân dân phải liên tục tiến hành các cuộc đấu tranh chống giặc giã và chống chọi với thiên nhiên vì cuộc sinh tồn. Khi vua Phà Ngừm, vị anh hùng dân tộc của nhân dân Lào, người có công hợp nhất các mường Lào luôn bị chia rẽ trước đây thành quốc gia thống nhất quanh Mường Xoa (Luông Pha Băng) với cái tên Lạn xạng vào năm 1353, nhân dân Lào đã suy tôn Người là ông vua lập nước của mình. Cũng từ thời đại Phà Ngừm, Phật giáo trước đây tồn tại còn sơ khai và lẻ tẻ bắt đầu được coi là quốc giáo. Từ đây, nhân dân Lào tiếp thu được nhiều hơn những gì phù hợp với thế giới quan của họ. Người Lào có tín ngưỡng thờ và cúng ma (phỉ) và tục lệ thờ và cúng thần (thẻn). Do vậy, tục ngữ có nhiều câu nói đến ma: “Xấu bụng là ma”, “Nhiều ma tốn gà”, “Khiêng ma đổ vào nghĩa địa”. Không phải sau khi Phật giáo Tiểu thừa vào Lào trở thành quốc giáo, nhân dân Lào mới có những quan niệm ứng xử thắm đượm tinh thần đạo đức nhà Phật. Những điều kiện lịch sử và xã hội với những nét đặc trưng riêng của Lào là cơ sở hình thành những giá trị tư tưởng và tính cách con người Lào. Có thể nói, đạo Phật là một nhân tố quan trọng đã ảnh hưởng đến nhân cách, tâm tư và tình cảm của người Lào. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, người Lào đã được các nhà sư cầu phúc. Khi được sinh ra, bố mẹ lại rước sư đến tụng kinh và buộc chỉ cổ tay. Con trai đến 11- 12 tuổi được cha mẹ gửi vào chùa xin tu làm tiểu để học đạo lý, chữ nghĩa. Khi đến tuổi trưởng thành thì làm lễ xuất tục, vào chùa làm sư. Ngày cưới cũng được sư sãi chọn ngày lành tháng tốt, rước sư đến vảy nước phép, buộc chỉ cổ tay, chúc mừng và căn dặn. Khi mất còn được nhà chùa quan tâm lo liệu đám tang chu đáo. Nhà sư đến làm lễ cầu siêu cho người quá cố và cùng tang chủ đưa người chết đến nơi làm lễ hoả táng. Trong lễ an táng dó, nhà sư thường làm chủ lễ, sau 3 ngày nhà sư đưa tro đã được hoả táng về chùa để xây tháp. Ngày giỗ, nhà sư đến tụng kinh, cầu phúc cho người qua đời được an nghỉ vĩnh hằng trên thiên đường. Có thể nói, chùa ở Lào như một “nhà văn hoá” của cộng đồng làng bản; cuộc sống của người Lào từ khi “cất tiếng khóc chào đời” đến khi “nhắm mắt xuôi tay” đều gắn liền với chùa chiền, với lễ hội nhà chùa, với những phong tục tập quán cổ truyền của dân tộc.
Nền kinh tế của Lào chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc. Người Lào quen làm ruộng nước và trồng lúa nếp từ lâu đời. Tập quán thích ăn nếp cũng từ lâu đã trở thành nét văn hoá ẩm thực độc đáo của người Lào. Có thể nói, sự kết hợp núi - rừng - sông - suối đã tạo nên phức hợp văn hoá Lào. Rừng, núi, sông ngòi, đất đai, đạo Phật và nền sản xuất nông nghiệp còn chậm phát triển đã hun đúc nên lối sống, lối nghĩ của người Lào. Bên cạnh dòng văn học Phật giáo, nhân dân Lào còn có dòng văn học dân gian phong phú. Đặc biệt, từ khi chữ Pali - Sanskrit, chữ của nhà Phật dùng để ghi chép các kinh kệ trên lá cọ và ngọn gió Phật giáo của văn hoá Ấn Độ thổi vào đất Lào thì văn học dân gian Lào đã phát triển với một sắc thái mới. Mặt khác, đạo Phật ở Lào đã tồn tại và không ngừng hướng thiện. Nói cách khác, những tư tưởng từ bi, hỉ xả của đạo Phật đã kéo con người vào trong ngôi đền của cái thiện. Do đó, văn học Phật giáo cũng như tục ngữ Lào luôn hướng tới mục đích chân, thiện, mĩ. Đạo Phật, lời dạy của Phật và của sư sãi được coi là những viên ngọc quý, từng là nơi xây dựng, gửi gắm đức tin và hy vọng của quần chúng nhân dân. Người Lào đã dựa vào đạo Phật để đấu tranh chống lại các thế lực tàn ác. Mặt tích cực của tư tưởng Phật giáo qua những câu tục ngữ đã khẳng định nhiều giá trị của đạo Phật trên con đường phụng sự chúng sinh theo phương châm đạo pháp và dân tộc. Nhiều giá trị Phật giáo đã chảy trong huyết quản của người dân Lào qua hàng ngàn năm. Nó giúp con người sống nhân ái, từ bi; xây dựng một tính cách nhân bản cho con người, hoàn toàn phù hợp với đạo lý truyền thống của nhân dân Lào. Người dân Lào sống trong lòng quốc gia và quốc giáo. Họ dùng tiền đóng góp của các đệ tử để xây dựng, tu bổ lại chùa và làm những việc công ích khác như cứu trợ người nghèo, giúp đỡ trẻ mồ côi. Niềm tin tôn giáo mạnh mẽ đã củng cố tinh thần “thiệp kế độ sinh” của người Lào.
Như vậy, các ngôi chùa ở Lào thường có công dụng đa năng. Chùa không chỉ là nơi thực hành nghi lễ, giảng giải kinh Phật mà còn là nơi diễn ra các ngày hội, là nhà trường dạy chữ, dạy nghề, là nơi chữa bệnh. Người dân Lào đến chùa là để đắm mình trong không khí sôi nổi của những lễ hội, học hành, của những cuộc giao lưu, vui chơi giải trí; đến chùa là để học những điều răn, để tu nhân tích đức theo tinh thần hỉ, nộ, ái, ố của đức Phật từ bi. Đến chùa bên cạnh sự thanh thản vô hình trong lòng mỗi người là còn để chiêm ngưỡng vẻ đẹp hữu hình của kiến trúc và cảnh quan của chùa.
Trong khi đó, tục ngữ Việt cũng có những câu ảnh hưởng triết lý Phậ...