I. Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân:
1. Định nghĩa:
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được từ nhiều
nguồn khác nhau của các cá nhân trong xã hội, trong một thời kỳ nhất định ( thường
là một năm ).
Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế
này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở
tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Ðồng thời, tùy theo tính chất của
các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường
xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Lần đầu tiên ở Anh
vào năm 1798, thuế TNCN được áp dụng và là nguồn thu quan trọng của Nhà nước
để trang trải cho việc mua sắm vũ khí, trang thiết bị trong cuộc chiến tranh chống
Napoleon (Pháp) với mức thuế lúc bấy giờ là 0,8333% đánh trên những khoản thu
nhập vượt quá 60 GBP và tăng đến mức 10% nếu vượt quá 200 GBP. Sau đó nhiều
nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như: Nhật (1887), Ðức (1899),
Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922), Trung Quốc (1936), Hàn Quốc
(1974) Đây là loại thuế có tính công bằng nhất trong phân phối thu nhập xã hội.
2. Đặc điểm:
- Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chính
đáng của từng cá nhân và Nhà nước thu tiền thuế trực tiếp từ các chủ thể trong nền
kinh tế. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế
theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá
nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng
khác tại thời điểm đánh thuế.
- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối
tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh
thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước
ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu
nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú
thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu
nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN. Vì vậy nó tạo ra nguồn thu rất
tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc
các lĩnh vực lập pháp , hành pháp , tư pháp về thu.
a. Ban hành chính sách thuế TNCN:
Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp.Việc ban hành chính sách thuế TNCN
sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế.Đồng thời, ban hành
chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra, và áp dụng các chế tài
đối với quá trình tính và thu này. Để mỗi công dân đều sống và làm việc theo pháp
luật thì chính sách thuế TNCN cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản
sau:
- Việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm bảo tính đơn
giản, rõ ràng, chặt chẽ. Vì loại thuế này khá phức tạp nên nguyên tắc này cần được
đảm bảo để hạn chế hành vi trốn thuế của các đối tượng nộp thuế.
2
- Quy định trong chính sách thuế này cần đảm bảo được yêu cầu đặt ra trong
việc huy động nguồn thu cho ngân sách, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế-xã
hội và đảm bảo tính công bằng đối với cả người nộp thuế và xã hội.
- Thuế TNCN đóng vai trò phân phối lại thu nhập trong xã hội , giảm bớt sự
cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân trong xã hội nhưng cũng cần động
viên sự phấn đấu làm việc của người lao động. Các quy định phải đảm bảo cho thu
nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng nộp thuế tương xứng với công sức
lao động và sự đóng góp của họ.
- Để đảm bảo chính sách thuế TNCN phát huy hiệu quả cần chuẩn bị các điều
kiện cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện , bao gồm: Phát triển mạnh hệ thống
thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt bằng các phương pháp bắt buộc và
khuyến khích tự nguyện, cải tiến và hoàn thiện chế độ kế toán, thống kê, thông
tin,báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế TNCN, đặc biệt đối
với cá nhân , hộ gia đình tự doanh; phát triển hệ thống dịch vụ kế toán, tư vấn , kê
khai thuế chuyên nghiệp; Tăng cường phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan
quản lý nhà nước, các tổ chức cá nhân có liên quan.Nâng cao vai trò và thẩm quyền
của cơ quan thuế trong việc kiểm tra, kiểm soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thuế; Tăng
theo nguồn gốc thu nhập , có sự phù hợp giữa kỹ thuật tính thuế với đặc điểm của
mỗi loại thu nhập.
+ Thuế thu nhập cá nhân tổng hợp: là loại thuế được tính trên tổng thu nhập
tương ứng với tổng số các khoản thu nhập cộng lại. Thông thường, theo cách tính
này, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.
• Đơn vị tính thuế:
Cá nhân có thu nhập hoặc là hộ gia đình thường là đơn vị tính thuế.Vì thuế
TNCN ảnh hưởng đến hoàn cảnh gia đình của người nộp thuế nên cần phân biệt cá
nhân có gia đình với cá nhân độc thân khi tính thuế. Với cá nhân độc thân, nhiều
người cho rằng cần phải tính thuế cao hơn cá nhân có gia đình vì họ chỉ phải chi phí
cho bản thân họ.Nhưng có người lại cho rằng nên tính thuế thấp hơn đối với những
người này vì họ đã chịu thiệt thòi do không được hưởng hạnh phúc gia đình. Nói tóm
4
lại, mỗi đơn vị tính thuế đều có những ưu, nhược điểm khác nhau. Tính thuế TNCN
trên thu nhập thực tế của từng cá nhân có ưu điểm là đơn giản, dễ làm, thu kịp thời
cho NSNN nhưng lại có nhược điểm là chưa đảm bảo được yêu cầu phân phối lại thu
nhập quốc dân qua thuế, chưa đáp ứng được tính công bằng xã hội.
• Thời gian tính thuế:
Thời điểm tính thuế phải là thời điểm thuận lợi cho công tác quản lý thu cũng
như việc kê khai và nộp thuế của người dân và phải chịu đảm bảo giá trị của đồng
tiền nộp thuế trước tình trạng lạm phát, đảm bảo việc chi tiêu theo kế hoạch của nhà
nước, tránh được việc chiếm đoạt tiền thuế.
Thông thường, các nước xác định mức thuế phải nộp từng năm. Ưu điểm của
việc sử dụng khoảng thời gian năm là đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên của
chính phủ để trang trải các chi phí vì các kế hoạch kinh tế-xã hội của chính phủ được
đặt ra hàng năm. Đây là khoảng thời gian hợp lý cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân
trên cơ sở hệ thống kế toán ở các doanh nghiệp đơn vị kinh tế hạch toán, quyết toán.
• Về miễn, giảm thuế TNCN:
Các nước cũng có quuy định về vấn đề này tùy theo trình độ phát triển kinh tế-
xã hội của từng quốc gia. Ví dụ như Mỹ quy định “suất miễn giảm thu nhập” cho
Mục tiêu của thanh tra thuế là phát hiện và xử lý các trường hợp sai trái nhằm
giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Đồng thời cũng qua quá trình thanh tra, cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu
sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra
những giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN.
+ Tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN:
Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế TNCN cũng như các
sắc thuế khác. Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân , cơ quan thuế ở các
nước trên thế giới đều được tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp. Tại
nhiều nước, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà
nước và bao gồm : cơ quan thuế trung ương, cơ quan cấp tỉnh , thành phố và cơ quan
thuế cấp quận , huyện như Việt Nam, Trung Quốc
- Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý thuế TNCN:
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN. Mỗi nhân tố đều
có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng
thái của nhân tố đó. Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước là
phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những ảnh
hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN. Các nhân tố chủ yếu
đó là:
+ Quan điểm của tầng lớp lãnh đạo nhà nước: Có ảnh hưởng trước hết tới các
chính sách thuế TNCN, sau đó là tới quá trình thực hiện và các công việc khác thuộc
phạm vi quản lí sắc thuế này.
Pháp luật thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị. Luật thuế nói chung và thuế
thu nhập nói riêng cũng không ngoại lệ.Một ví dụ cho điều này là sự đánh đổi giữa
công bằng và hiệu quả kinh tế. Nhìn chung, trong quá trình thực hiện công bằng, xã
hội phải chịu sự giảm sút của những hoạt động đang đạt hiệu quả kinh tế. Trong khi
cố gắng chuyển một phần thu thu thập của cá nhân X có thu nhập cao sang cho cá
nhân Y có thu nhập thấp hơn, hiệu quả kinh tế sẽ giảm sút do những lý do sau:
6
Cá nhân X đang tiến hành những hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế còn cá
qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản séc cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho
cơ quan thuế trong việc giám sát. Bên cạnh đó, nếu phương thức thanh toán trong dân
cư chủ yếu thông qua ngân hàng thì nhà nước có thể áp dụng phương pháp thu thuế
TNCN thông qua ngân hàng. Điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ
quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế. Chính vì
vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh
7
toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý
thuế TNCN.
+ Tính nghiêm minh của luật pháp.
Cơ quan luật pháp làm việc có hiệu quả, thực hiện nghiêm minh sẽ đảm bảo việc
vi phạm luật giảm đi. Các đối tượng nộp thuế cũng như cơ quan thu thuế cũng sẽ
thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm
họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt nếu bị phát hiện. Như vậy, công tác quản lý
thuế TNCN sẽ đạt hiệu quả hơn.
+ Tình hình kinh tế và mức sống của người dân.
Hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ
phát triển kinh tế và đời sống của dân cư. Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu
vực, số đối tượng nộp thuế TNCN sẽ giảm bớt chi phí trên 1 đồng thuế thu được, và
ngược lại. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục
vụ cho quản lý nói chung và công tác quản lý thuế TNCN nói riêng. Khi cơ sở hạ
tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả.
+ Ý thức chấp hành luật thuế của đối tượng nộp thuế:
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận với
ý thức và trách nhiệm nộp thuế. Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ
sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế. Hanh vi trốn thuế sẽ ít xảy ra. Chính vì vậy, công
tác quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn.
Tóm lại ý thức chấp hành luật thuế của đối tượng nộp thuế cũng ảnh hưởng một phần
tới công tác quản lý thuế TNCN.
III. Thực trạng thuế TNCN ở Việt Nam đến hết năm 2010:
mà Thuế là một trong số nguồn đó. Nói chung là người dân ai cũng muốn được miễn
giảm gia cảnh, bớt phải đóng thuế tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn chung thì ngân
sách Nhà nước cũng rất cần được chia sẻ.
Bên cạnh đó để Luật Thuế thu nhập cá nhân nhanh chóng đi vào cuộc sống một
cách thuận lợi và đạt hiệu quả cao thì công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp
luật về thuế TNCN phải đặt lên hàng đầu.để luật thuế đi vào cuộc sống một cách
nhanh chóng, tạo sự đồng thuận của nhân dân và phát huy hiệu quả cao. Đây là công
việc mà ngành thuế không thể tự thân vận động, cần phải có sự tham gia của cả hệ
thống chính trị, để tạo tiếng nói chung, đặc biệt là vai trò tiên phong của các cơ quan
thông tin đại chúng là rất quan trọng; các cấp chính quyền và các tổ chức đoàn thể
phải hưởng ứng tích cực trong việc vận động nhân dân và thành viên của tổ chức
mình. Với ngành thuế, ngoài việc tổ chức các lớp tập huấn cho các cơ quan chi trả
thu nhập, người kinh doanh, Cục Thuế đã in 4.500 tập tài liệu hướng dẫn về luật thuế
này để cung cấp cho các cơ quan, đơn vị trên toàn tỉnh và sẽ cung cấp các tờ rơi
tuyên truyền vận động thực hiện luật thuế này.
Ngành thuế cũng đã, đang và sẽ tiếp tục phối hợp tốt với Ban Tuyên giáo Tỉnh
ủy để đưa nội dung của luật đến tận cấp ủy cơ sở đảng. Các chuyên mục “Tìm hiểu
về thuế TNCN” phải nâng cao hơn hình thức và chất lượng tuyên truyền; cập nhật
các văn bản, tài liệu có liên quan đến lĩnh vực thuế TNCN đăng tải kịp thời trên
website của UBND tỉnh; chỉ đạo các chi cục thuế phối hợp các đài truyền thanh phát
lại truyền hình các huyện, thành phố tuyên truyền sâu rộng về luật thuế này. Đồng
thời, phát huy vai trò trách nhiệm của Hội đồng Tư vấn thuế xã, phường, thị trấn
9
trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân. Tiếp tục phối hợp với các sở, ban
ngành các đơn vị liên quan tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN trong cán bộ
công nhân viên chức người lao động và học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh.
Cần xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội của nước ta tiên tiến, phù hợp với
chuẩnquốc tế. Xây dựng cơ sở pháp lý về thanh toán, kiểm soát nguồn thu đồng bộ,
hiện đại hóa hệthống ngân hàng, ràng buộc mọi người, mọi tổ chức thanh toán,
chuyển tiền qua hệ thống ngânhàng nhằm kiểm soát được thu nhập của cá nhân, tổ
10
Đơn vị:Tỷ VNĐ
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng thu ngân sách 228287 279472 315915 416783 442340 528100
Thuế TNCN 4234 5179 7422 12940 14392 23361
% thuế TNCN tên
tổng thu ngân sách
1.85 1.85 2.35 3.1 3.25 4.42
• Kết quả về xã hội:
Sắc thuế đã góp phần phân phối lại thu nhập từ những người có thu nhập quá
cao trong xã hội, chuyển vào ngân sách nhà nước rồi thông qua đó sử dụng vào các
chương trình kinh tế nhằm mục tiêu phát triển chung, đồng thời cũng nhằm thực hiện
các chương trình hỗ trợ người nghèo. Tiền thuế của dân nộp vào ngân sách nhà nước,
sẽ được Nhà nước dùng vào những việc như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, an sinh
xã hội, giáo dục, y tế, an ninh trật tự, quốc phòng và đó là những lợi ích mà người
dân được hưởng nói chung. Đây là một mức đóng góp không nhỏ, rõ ràng nhờ sắc
thuế này mà sự phân phối của cải trong xã hội sẽ được thực hiện một cách hiệu quả
và chính xác hơn, đem lại tổng lợi ích lớn nhất cho xã hội. Nếu như không có sắc
thuế này thì chắc chắn 1 khoản tiển lớn sẽ không được dùng hoàn toàn cho mục tiêu
phát triển chung của xã hội, mà thay vào đó có thể là các hoạt động tiêu dùng cho
một nhóm cá nhân trong xã hội Bên cạnh đó ta có thể thấy rằng việc ra đời sắc thuế
này cũng giúp cho người dân phần nào hiểu hơn và làm quen dần với thuế TNCN.
Điều đó có thể minh chứng cho số đơn vị chi trả thu nhập tăng lên không ngừng,
đồng thời số đối tượng nộp thuế cũng tăng lên đáng kể. Bằng chứng là hiện nay, trên
7 triệu người thuộc diện phải nộp thuế TNCN. Với việc sắc thuế này càng ngày càng
mang tính xã hội hơn, ta có thể khắng định một điều dù ít hay nhiều thì sắc thuế này
cũng góp phần vào việc phân phối lại của cải và công bằng trong xã hội, giúp giảm
bớt phần nào sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội.
Kết quả đạt được trong 20 năm thực hiện thuế TNCN đối với người có thu nhập
cao thực sự đã đạt được những kết quả khả quan.
thu nhập của người nước ngoài làm chuẩn mực để xây dựng một biểu thuế. Do đó
việc xây dựng một biểu thuế thống nhất tại thời điểm hiện tại là chưa có tính khả thi.
- Thứ năm, là về mức thuế suất của nước ta hiện nay. Khoảng cách giữa các bậc
thuế suất đều bằng 10% do đó mức điều tiết đối với những người có thu nhập càng
cao thì càng lớn. Việc này chỉ làm cho người nộp thuế tìm đủ cách để trốn thuế. Đồng
thời nếu chúng ta để mức thu nhập khởi điểm tính thuế và mức thu nhập chịu thuế
cao nhất cao như hiện nay thì thuế suất thực sẽ khác xa rất nhiều so với thuế suất cao
nên phạm vi đánh thuế sẽ bị thu hẹp lại. Như vậy chính sách thuế thu nhập ở nước ta
vẫn chưa mang tính chất chung của xã hội mà mới chỉ là gói gọn trong một nhóm
người đặc biệt không đảm bảo được tính công bằng xã hội.
- Thứ sáu, việc đánh thuế thu nhập bổ sung đối với người có thu nhập trên
15triệu đồng sau khi đã nộp thuế là quá gò ép đối với những người có thu nhập cao.
Nó gây cho họ tâm lý là Nhà nước không muốn cho họ giàu và tìm cách giới hạn một
mức thu nhập mà họ có thể nhận được. Đây cũng là một vấn đề mà các nhà làm luật
cần xem xét tỉ mỉ luật thuế thu nhập cá nhân trong thời gian tới.
12
- Thứ bảy, với một mức đánh thuế khởi điểm cố định không hề được thay đổi
qua nhiều năm dù cho nền kinh tế có nhiều biến động, lạm phát tăng cao làm cho giá
cả leo thang. Ngoài ra, trong tình trạng giá cả leo thang và lạm phát như hiện nay,
thì dường như mức áp dụng thuể thu nhập cá nhân vẫn còn nhiểu chỗ chưa hợp lý.
Mức thu nhập khởi điểm chịu thuế cố định khiến cho nó không còn phù hợp với tình
hình biến động nhanh chóng của thị trường, cũng như mức giảm trừ cho người phụ
thuộc cứng nhắc và thiếu thực tế trở nên quá ít so với mức tiêu dùng thực sự. Chính
vì thế, mặc dù thuế thu nhập cá nhân không tăng nhưng lại khiến cho đời sống người
dân ngày càng khó khăn trong tình hình “ mọi thứ đều tăng giá” như hiện nay. Cộng
thêm việc chưa nắm được tầm quan trọng của sắc thuế và thiểu ý thức quốc gia cộng
đồng khiến cho nhiều người vẫn còn suy nghĩ muốn trốn thuế.
- Cuối cùng là vấn đề về diện bao quát của cơ sơ thuế. Các khoản thu nhập từ
kinh doanh cá thể hay của doanh nghiệp tư nhân, các khoản thu nhập từ lãi cho vay,
lãi đầu tư và một loạt các khoản thu nhập khác hiện nay chưa được đưa vào thu nhập
này cũng không có sức hấp dẫn để các cơ quan làm nhiệm vụ uỷ nhiệm thu nhiệt tình
trong công tác quản lý thu nhập của người lao động do ngành mình quản lý. Về phía
các cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cũng chưa nhận thức đầy đủ nghĩa vụ kê khai và
nộp thuế thu nhập. Các khoản thu nhập đóng góp phần chủ yếu vào thu nhập không
phải là từ tiền lương mà lại là từ tiền thưởng và bổng lộc khác không mang tính đều
đặn càng gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc giám sát kiểm tra. Từ đó có thể
thấy rằng con số thuế thu nhập cá nhân theo tính toán vẫn chưa phản ánh đúng khả
năng đóng góp của thuế thu nhập cá nhân đối với NSNN.
→ Các đối tượng là người nước ngoài và người lao động Việt Nam làm trong
các doanh nghiệp nước ngoài hay các văn phòng đại diện cũng chưa được quản lý
một cách đầy đủ. Nguyên nhân của vấn đề này là hiện nay các văn bản pháp luật để
quản lý về cư trú và những khai báo về thu nhập cũng như người lao động ở các văn
phòng đại diện, các chi nhánh nước ngoài còn hết sức sơ sài và thiếu chặt chẽ. Vì
vậy, cơ quan thuế rất khó khăn trong việc quản lý số đối tượng này, và tất yếu là một
số lượng đáng kể các cá nhân đã trốn không phải nộp thuế. Đối với các cá nhân làm
việc trong cơ quan sản xuất kinh doanh có đăng ký kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân
cho lao động của cơ sở mình thì cơ quan thuế cũng chưa kiểm tra được mà chủ yếu
vẫn dựa vào tờ khai báo của các đơn vị uỷ nhiệm thu. Đối với các đơn vị chi trả thu
nhập mà không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay VAT thì việc uỷ nhiệm thu
gần như không được thực hiện, các đối tuợng thì không tự giác trực tiếp đến cơ quan
thuế để kê khai nộp thuế.
→ Quá nhiều giấy tờ, thủ tục: Bộ máy thu thuế TNCN được tổ chức còn thiểu
chặt chẽ mà lại quá rườm ra, thủ tục giấy tờ quá nhiều, lại có quá nhiều công đoạn
khiến cho bộ máy thu thuế trở nên nặng nề mà lại hoạt động kém hiệu quả, gây thất
thoát và hao phí NSNN. Chỉ riêng giảm trừ gia cảnh, những quy định cũng đã làm "ù
tai, hoa mắt" bởi có quá nhiều loại giấy tờ, thủ tục, hồ sơ mà người nộp thuế cần phải
thực hiện và đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Ví dụ trường hợp người nộp
thuế có con theo học và là người phụ thuộc thì đã cần: Giấy khai sinh, giấy xác nhận
của trường hoặc bản chứng thực thẻ sinh viên, biên lai thu học phí hoặc chứng từ nộp
khoản chi phí tiền học, tiền sinh hoạt phí có niên độ phù hợp với năm tính thuế. Ví
ta. Con số đó có thể lớn hơn nhiều nếu như công tác kê khai và thu nộp thuế được
thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ.
• Một số biện pháp khắc phục:
1. Khắc phục về phân chia các loại thu nhập phải chịu thuế:
Tất cả thu nhập từ các hoạt động đầu tư vốn, gửi lãi tiết kiệm, các hoạt động
kinh doanh cá thể và một số hoạt động khác đều phải được bổ sung vào phạm vi điều
tiết của thuế thu nhập cá nhân. Việc bổ sung này góp phần đảm bảo tính công bằng
15
cũng như tăng thu cho NSNN. Chúng ta nên chia thu nhập theo tính chất nguồn hình
thành thu nhập.
- Tiền lương, tiền công lao động, tiền thưởng, tiền trợ cấp.
- Thu nhập từ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
- Thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
- Thu nhập từ các hoạt động cho thuê nhà đất.
- Thu nhập từ các hoạt động phi thương mại, hành nghề tự do.
- Thu nhập từ chuyển dịch bất động sản, cổ phần, cổ phiếu.
- Thu nhập khác từ lãi tiết kiệm, lãi cổ phần, cổ phiếu, trúng số…
Bên cạnh đó, chúng ta nên tính gộp thành toàn bộ tổng thu nhập thay vì phân
biệt và tách riêng ra thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên.
Điều này sẽ làm đơn giản việc tính thuế hơn, người nộp thuế sẽ chỉ phải kê khai các
khoản thu nhập mình nhận được trong năm rồi tính thuế theo một biểu thuế chung
duy nhất, đối với cơ quan thuế cũng sẽ bớt một công đoạn phân loại và kiểm tra việc
kê khai thuế thu nhập là thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên.
2. Khắc phục về biểu thuế và cách tính thuế:
Trước tiên, chúng ta nên xem xét việc xây dựng biểu thuế thu nhập cá nhân với
một mức thuế suất, mức thu nhập chịu thuế thu nhập khởi điểm là không. Điều đó có
nghĩa là bất cứ ai có thu nhập đều phải có nghĩa vụ nộp thuế theo một tỷ lệ cố định
trên tổng thu nhập. Nó dựa vào quan điểm xây dựng một biểu thuế công bằng theo
chiều ngang chứ không phải công bằng theo chiều dọc như biểu thuế luỹ tiến. Nó
không chỉ tạo tính đơn giản trong chính sách thuế thu nhập cá nhân, không phải theo
Công tác kê khai, thu nộp thuế: Là một phần vô cùng quan trọng quyết định đến
hiệu quả thực hiện của pháp lệnh thuế thu nhập hiện nay nhưng lại tồn tại rất nhiều
các bất cập do chưa có biện pháp tổ chức kê khai thực sự khoa học và có hiệu quả.
Ngoài phương pháp khấu trừ tại nguồn là cần thiét và quan trọng thì khi tính thuế
chúng ta nên đưa về cho các đội thuế ở địa phương cùng đảm nhiệm. Việc kiểm tra
tại địa phương sẽ dễ dàng được thực hiện thông qua viẹc căn cứ vào mức sống và
mức chi tiêu của các hộ gia đình. Đồng thời, với cách quản lý này cơ quan thuế sẽ
xác định chính xác hơn về khả năng thu nhập của các cá nhân thông qua mức sống
của gia đình họ. Tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này có thể kiểm tra thông
qua việc thực hiện thí điểm ở một số khu vực dân cư. Nếu như tỏ ra hiệu quả chúng
ta nên áp dụng sớm và rộng rãi.
Quản lý chặt chẽ thu nhập cá nhân của người dân, làm tốt khâu chỉ đạo công tác
kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động và tiền
lương, tiền công thực tế.
Chúng ta cần phải hoàn thiện lại hệ thống thu thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao. Chúng ta cần phải xây dựng phòng chuyên trách trong nhiệm vụ quản lý kê
khai các doanh nghiệp và các cá nhân thuộc diện nộp thuế thu nhập. Với đội ngũ cán bộ
được đào tạo chuyên sâu và chỉ có nhiệm vụ quản lý trong lĩnh vực này sẽ giúp cho việc
quản lý được chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả hơn.
Chúng ta phải có sự phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng. Mỗi cá nhân
phải được phân công những công việc cụ thể, chi tiết và sau đó mọi vấn đề liên quan
họ sẽ phải chịu trách nhiệm trước cơ quan thuế. Muốn làm được điều này chúng ta
cần phải cải cách hành chính bộ máy thuế của nước ta nói riêng và toàn bộ bộ máy
hành chính của nước ta hiện nay nói chung.
17
Chúng ta cần phải thực hiện công tác đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho các
đối tượng để thuận tiện cho công tác quản lý thu. Sự biến động thu nhập là một điều
tương đối phổ biến trong nền kinh tế thị trường, vì vậy nên áp dụng đăng ký cấp mã
số thuế căn cứ vào ngành nghề. Trong đó các cán bộ cơ quan nhà nước đều phải có
nghĩa vụ kê khai thu nhập hàng năm, các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm giúp
đã chú trọng công tác tuyên truyền, hướng dẫn đối tượng nộp thuế với nhiều hình
thức phong phú đa dạng, nội dung cụ thể, thiết thực, dễ hiểu giúp người dân hiểu về ý
18
nghĩa của việc thực hiện nghĩa vụ thuế, phương pháp kê khai, tính thuế, nộp thuế,
quyết toán thuế. Đồng thời, Cục Thuế đã chỉ đạo các Chi cục phân công cán bộ có
năng lực nghiệp vụ giỏi tiến hành làm thủ tục hành chính thuế và hướng dẫn kê khai
nộp thuế, thành lập các đường dây nóng, các kênh thông tin cần thiết, thích hợp,
nhanh chóng và hiệu quả nhất để có thể tư vấn, hỗ trợ và giải đáp những vướng mắc
cho các đối tượng nộp thuế. Ngoài ra, Cục thuế Hà Nội còn là đơn vị dẫn đầu cả nước
về cải cách hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý thuế với việc triển khai thành
công các dự án như “Kê khai thuế qua mạng Internet”, “Hiện đại hóa thu ngân sách
nhà nước và thu thuế qua ngân hàng” và “Hệ thống ki-ốt thông tin thuế”. Những cải
cách đó đã đem lại lợi ích cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế, như: thủ tục nộp hồ
sơ khai thuế đơn giản, nhanh gọn, hiệu quả cao và an toàn, không giới hạn về không
gian, thời gian trong ngày, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người nộp thuế; đơn giản
hoá và cải cách triệt để thủ tục hành chính trong quy trình thu nộp thuế, giảm thời
gian nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế; giúp người nộp thuế
thuận tiện hơn trong việc tiếp cận các thông tin liên quan đến thuế; cơ quan thuế xử
lý tờ khai nhanh, chính xác, giảm thiểu lao động, thuận lợi cho việc lưu trữ hồ sơ và
tra cứu dữ liệu, đặc biệt là đáp ứng được nhu cầu phục vụ số lượng người nộp thuế
ngày càng tăng nhanh trong khi nguồn nhân lực chưa được bổ sung tương ứng…
Nhờ đó, trên địa bàn Hà Nội, cơ chế tự khai tự nộp thuế theo yêu cầu của Luật
Quản lý thuế được quán triệt và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc ở hầu hết các
cơ quan chi trả thu nhập và các cá nhân nộp thuế. Việc tổ chức kê khai và khấu trừ
thuế TNCN tại nguồn trước khi chi trả thu nhập cho người lao động đã đảm bảo được
mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế TNCN cho nhà nước. Mặc dù có chính
sách miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm 2009 và trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái
do khủng hoảng, nhưng số thuế TNCN năm 2009 vẫn cao hơn so với những năm
trước đó. Hơn nữa, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế đã làm cho cả người có
thu nhập và cơ quan chi trả thu nhập đều phải tự tìm hiểu, nắm rõ nội dung của Luật
Tuy nhiên, để quản lý chặt chẽ người nộp thuế, yêu cầu đặt ra là phải cấp mã số
thuế cá nhân cho mọi công dân. Việc người nộp thuế chưa có mã số thuế sẽ gây thiệt
hại cho chính người nộp thuế vì phải nộp thuế TNCN với tỷ lệ trích cao hơn. Đặc
biệt, việc các cá nhân phụ thuộc không có mã số thuế dẫn đến khe hở và khó kiểm
soát chính xác vấn đề giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, từ đó, gây thất thu thuế
TNCN. Việc kê khai giảm trừ gia cảnh chủ yếu là dựa vào ý thức của đối tượng nộp
thuế. Điều này đã tạo ra khe hở trong việc kê khai số người phụ thuộc. Ví dụ, cùng 1
ông bố hay bà mẹ, nhưng sẽ được tính trùng thành 2 bởi cả 2 người con ở 2 địa
phương khác nhau đều cùng kê khai và chính quyền địa phương sở tại đều xác nhận.
Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều địa phương khi nhận được một số đơn đề nghị xác
nhận đối tượng cư trú có trách nhiệm nuôi dưỡng người phụ thuộc ở địa phương khác
(ông, bà, cháu… ở quê), họ không thể nào xác định được mối quan hệ của người phụ
thuộc đang sống ở tỉnh khác và người dân đang cư trú trên địa bàn, càng không thể
nào biết được có đúng là người dân đang cư trú trên địa bàn có trách nhiệm nuôi
dưỡng người đang sống ở tỉnh khác hay không, dẫn tới tình trạng nơi thì chứng nhận
hết một cách quá dễ dàng, nơi thì từ chối chứng nhận gây khó khăn cho người dân.
Và cũng theo phản ánh của người dân thì một trong những khó khăn mà họ gặp phải
là xin hồ sơ để xác định đối tượng phụ thuộc không có thu nhập.
b. Về công tác kê khai nộp thuế, quyết toán thuế TNCN:
Thông qua việc cấp mã số thuế cá nhân, cơ sở dữ liệu người nộp thuế được xây
dựng là tiền đề quan trọng của việc quản lý kê khai nộp thuế và quyết toán thuế
TNCN. Đối với thu nhập từ tiền công tiền lương, thực hiện kê khai và nộp thuế thông
qua cơ quan chi trả thu nhập, theo đó, mức thuế TNCN được khấu trừ tại nguồn theo
biểu thuế suất lũy tiến từng phần đối với các khoản chi trả cho cá nhân thuộc sự quản
lý của cơ quan chi trả thu nhập cho những cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng
trở lên và khấu trừ 10% thu nhập đối với các khoản chi trả cho cá nhân không có hợp
đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 03 tháng nếu số tiền mỗi lần chi trả từ
500.000 đồng trở lên. Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm thu và chuyển số thuế
thu được vào Kho bạc Nhà nước. Hiện nay Cục thuế Hà Nội đã ứng dụng phần mềm
hỗ trợ kê khai theo mã vạch 2 chiều, kê khai qua mạng Internet, chương trình này đã
Đến nay, số lượng các cơ quan chi trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế TNCN
năm 2009 là 222.824 đơn vị; số lượng cá nhân tự quyết toán thuế TNCN năm 2009
tại cơ quan thuế là 48.195 người. Tuy nhiên, thực tế cho thấy số đông người nộp
thuế, kể cả những người có từ 2 nguồn thu nhập trở lên, đều ngại tự mình quyết toán
thuế hoặc không rõ thủ tục tiến hành, nên ủy quyền cho đơn vị chi trả thu nhập thực
hiện hộ. Từ đó, có thể làm thất thu NSNN hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi chính
đáng của chính người nộp thuế.
c. Về công tác thanh tra, kiểm tra thuế:
Từ sau khi Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành, công tác thanh tra kiểm tra
thuế của Cục thuế Hà Nội có nhiều đổi mới. Thanh tra kiểm tra dựa trên cơ sở thu
thập, phân tích thông tin dữ liệu liên quan đến người nộp thuế để đánh giá mức độ
tuân thủ, phân loại rủi ro và lập danh sách người nộp thuế phải kiểm tra hồ sơ khai
thuế. Mặc dù Cục thuế Hà Nội đã tăng cường công tác thanh tra kiểm tra chống thất
thu thuế, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở của cơ quan thuế và nhiều trường hợp
kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế. Tuy nhiên, do năm 2009 là năm đầu tiên thực
hiện Luật thuế TNCN, có nhiều nội dung mới trong phương pháp quản lý thuế, do
tính phức tạp của thuế TNCN, số lượng người nộp thuế quá lớn, nên việc tổ chức
thực hiện thanh tra kiểm tra về thuế TNCN chưa được thực hiện đầy đủ, thường
xuyên…
Ngoài ra, thực tế tiến hành thu thuế TNCN trên địa bàn Hà Nội và cả nước thời
gian qua còn cho thấy những bất cập khác, như:
21
- Chưa kiểm soát được mọi nguồn thu nhập của từng cá nhân. Nguồn hình thành
TNCN quá đa dạng và phức tạp. Đối với những khoản thu nhập từ tiền lương, tiền
công thì cơ quan thuế có thể kiểm soát qua đơn vị trực tiếp chi trả thu nhập; nhưng
đối với các khoản thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể, các cá nhân hành nghề độc
lập, đặc biệt là đối với đối tượng ca sỹ, nghệ sỹ,… thì cơ quan thuế khó có thể kiểm
soát được một cách chính xác.
- Mức giảm trừ cá nhân và giảm trừ cho người phụ thuộc theo Luật hiện hành là
chưa hợp lý, chưa tính đến sự mất giá của đồng tiền. Theo thời giá hiện nay, việc quy
2011 và 2012.
Cần sớm thể chế hóa mức khởi điểm tính thuế tạo linh hoạt trong áp dụng của
đơn vị, đối tượng chịu thuế và cơ quan thuế
Dưới góc độ của người nghiên cứu, theo tôi Luật thuế TNCN có ba điểm cần
điều chỉnh.
Mức và cách tính khởi điểm nộp thuế
Cùng với tốc độ lạm phát cao trong 4 năm qua (tổng cộng tới trên dưới 50%),
cũng như với việc VN chính thức là nước có thu nhập trung bình trên thế giới, mức
22
ngưỡng khởi điểm tính thuế TNCN 4 triệu đồng đã nhanh chóng lạc hậu. Nếu trước
đây, chỉ với khoảng 10 tr.đ/tháng, 1 gia đình 4 nhân khẩu có thể sống khá dễ chịu ở
Hà Nội, thì nay, mức tối thiểu đã phải nâng lên gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi, nếu tính
cả tiền thuê nhà
Hơn nữa, việc Luật thuế TNCN “chốt” rõ mức khởi điểm tính thuế cụ thể bằng
đơn vị VND vừa thấp, lại vừa cứng gây khó cho mỗi lần điều chỉnh trước các biến
động tiền lương trên thực tế.
Vì vậy, cần sớm thể chế hóa mức khởi điểm tính thuế theo hướng vừa tăng
mức tính khởi điểm, vừa tạo linh hoạt trong áp dụng của đơn vị, đối tượng chịu thuế
và cơ quan thuế. Cụ thể, nên tăng ít nhất 2 lần mức khởi điểm chịu thuế và tính bằng
số lần lương tối thiểu, chẳng hạn, bằng từ 8-10 lần mưc lương tối thiểu của khu vực
sản xuất. Nên mạnh dạn áp dụng mức tính khởi điểm chịu thuế TNCN là 10 lần mức
lương tối thiểu trong khu vực sản xuất kinh doanh.
Mức và cách tính chiết trừ gia cảnh
Thực tế cho thấy, mức chiết trừ gia cảnh 1,6 triệu đ/người cũng sớm trở nên
lạc hậu. Hơn nữa, việc xác nhận hành chính (ở cấp chính quyền địa phương hoặc cơ
quan) về vị thế và thực tế đã tính hay chưa tính chiết trừ gia cảnh người phụ thuộc
gây nhiều phiền toái và khó chính xác cho cả người nộp thuế, lẫn cơ quan thu thuế
Vì vậy, trong chỉnh sửa Luật thuế TNCN cần nâng mức chiết trừ gia cảnh tương ứng
với mức nâng khởi điểm tính thuế TNCN, đồng thời cần bổ sung quy định cấp “mã
số chiết trừ gia cảnh” cho các đối tượng phụ thuộc để cập nhật thông tin và tiện cho
TNCN nhằm đảm bảo cho hệ thống quản lý thu thuế TNCN trở thành một hệ thống
quản lý thuế hiện đại và khoa học, khắc phục được những vướng mắc, tồn tại được
phát hiện trong thực tiễn triển khai thi hành luật.
Thứ nhất, đẩy mạnh và thực hiện triệt để hơn nữa cơ chế khấu trừ thuế TNCN
tại nguồn trước khi chi trả thu nhập cho cá nhân. Phải có hướng dẫn cụ thể đối với
đơn vị thực hiện khấu trừ thuế. Để xác định mức khấu trừ tại nguồn có thể áp dụng
nguyên tắc tạm nộp trong năm thì tính theo thuế suất toàn phần, cuối năm quyết toán
theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần. Tỷ lệ khấu trừ tại nguồn đề nghị nâng cao hơn
để đảm bảo số thuế tạm nộp lớn hơn số thuế phải nộp thì đối tượng nộp thuế mới tích
cực kê khai quyết toán thuế cuối năm. Đối với thu nhập từ tiền lương tiền công mang
tính chất ổn định thì tính theo thuế suất lũy tiến từng phần của biểu thuế. Cần xác
định rõ ràng trách nhiệm phải khấu trừ tiền thuế cho đơn vị chi trả thu nhập, có tỷ lệ
thù lao thích hợp hơn, có sự biểu dương, khen thưởng…đối với những đơn vị thực
hiện tốt trách nhiệm của mình và xử lý kịp thời, nghiêm minh các đơn vị không thực
hiện đúng trách nhiệm.
Thứ hai, cần đẩy mạnh hơn nữa việc đăng ký và cấp mã số thuế cá nhân, tiến tới
mỗi công dân đều có một mã số để theo dõi quản lý, không phân biệt có thu nhập
chịu thuế hay không có thu nhập chịu thuế.
Thứ ba, để cơ chế tự khai, tự nộp thuế TNCN phát huy hiệu quả, cần tăng
cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức hệ thống thông tin dịch vụ kế toán, kê
khai và tính thuế. Đồng thời cần có lộ trình triển khai thực hiện phù hợp, từng bước
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, chia theo từng nhóm để quản lý; nên có cơ
chế khuyến khích các đối tượng nộp thuế tự nguyện áp dụng phương pháp tự khai tự
nộp thuế, chẳng hạn như cho phép được hưởng các khoản khấu trừ đặc biệt hoặc các
chế độ ưu đãi khác.
Thứ tư, cùng với việc hoàn thiện cơ chế tự khai tự nộp thuế, thì công tác thanh
tra kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN cần được đẩy mạnh, đòi hỏi cơ quan
thuế phải tập trung lực lượng lớn vào việc tuyên truyền và thanh tra kiểm tra việc
chấp hành luật thuế. Cơ quan thuế phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng
như cơ quan công an, cơ quan ngoại vụ, cơ quan quản lý lao động,…để nắm bắt kịp
Luật thuế TNCN. Nên chăng, Luật nên quy định lại mức thuế suất cao nhất của biểu
thuế lũy tiến từng phần là 25% bằng với mức điều tiết của Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp, bởi mức thu nhập chịu thuế này thường là của các cá nhân kinh doanh. Như
vậy, sẽ đảm bảo bình đẳng hơn giữa hai sắc thuế trực thu này. Mặt khác, Luật nên
quy định điều khoản cho phép điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh theo mức độ trượt
giá và tăng trưởng kinh tế theo từng giai đoạn và giao quyền cho Chính phủ điều
chỉnh mức giảm trừ này khi cần thiết.
Giải pháp điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân: (22/06/2011)
Ngày 21/6, Bộ Tài chính đã trình Thường trực Ban bí thư Trung ương Đảng
một số giải pháp cấp bách để hỗ trợ người nộp thuế trong khi chờ đợi sửa Luật Thuế
thu nhập cá nhân. Thường trực Ban bí thư đã đồng ý các phương án thuế thu nhập cá
nhân do Bộ Tài chính báo cáo.
Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ các phương án này trong cuộc họp thường kỳ
tháng 6 và sẽ trình Quốc hội vào kỳ họp diễn ra trong tháng 7. Cụ thể, Bộ nêu hai
phương án:
* Phương án thứ nhất là miễn thuế thu nhập cá nhân đối với người làm công ăn
lương không có người phụ thuộc có thu nhập từ 5 triệu đồng/tháng trở xuống, có
một người phụ thuộc có thu nhập không quá 6,6 triệu đồng/tháng, có hai người phụ
thuộc thu nhập không quá 8,2 triệu đồng/tháng. Khoảng 250 nghìn người sẽ được thụ
hưởng từ phương án này và số giảm thu ngân sách khoảng 3.000 tỷ đồng.
* Phương án thứ hai, bỏ bậc 5% trong các bậc thuế thu nhập cá nhân hiện hành.
Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đề xuất miễn thuế thu nhập cá nhân đối với đầu
tư chứng khoán từ 1/8 năm nay đến hết năm 2012. Thu nhập nhận được từ cổ tức
cũng sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân nhằm tạo sự công bằng với người gửi tiết
kiệm.
Về giải pháp miễn 5% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ tức của nhà đầu
tư chứng khoán, dự kiến số thu ngân sách giảm khoảng 250-300 tỉ đồng.
Về thuế thu nhập cá nhân đối với hộ cho thuê nhà, Bộ Tài chính đề xuất, đối với
hộ cho thuê nhà có doanh thu dưới 20 triệu đồng/tháng sẽ được miễn thuế thu nhập
cá nhân với điều kiện cam kết không tăng giá thuê nhà cho công nhân trong năm