1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề
Trong phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, tín dụng nhà nước
nói chung và tín dụng đầu tư phát triển (ĐTPT) nói riêng đóng vai trò rất quan
trọng. Tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước phụ thuộc trực tiếp
vào khả năng thu hút và sử dụng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó có nguồn
vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước. Bởi vậy, việc huy động, khai thác và sử
dụng tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước cho ĐTPT (đặc biệt là ở những
nước đang phát triển) là điều cần thiết.
Chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các dự án
ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc các ngành, lĩnh vực quan trọng,
chương trình kinh tế lớn của Nhà nước có tác động trực tiếp đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư, thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng bền vững.
Quỹ Hỗ trợ phát triển (HTPT) là một tổ chức tài chính nhà nước
được Chính phủ thành lập theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999
để thực hiện nhiệm vụ huy động, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của
Nhà nước dành cho tín dụng ĐTPT, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (HTXK). Kể từ
khi thành lập đến nay, vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước thông qua hoạt động
của Quỹ HTPT đã có những đóng góp nhất định trong việc tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy xuất khẩu các mặt
hàng chiến lược và có lợi thế, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hình
thức huy động vốn cho ĐTPT cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động tín
dụng ĐTPT của Nhà nước qua hệ thống Quỹ HTPT cũng đã bộc lộ một số
Quốc nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm đối với nước ta.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và hiệu quả của nó.
Chương 2: Thực trạng và hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước qua Quỹ Hỗ trợ phát triển từ năm 2001 đến nay.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển.
4
Chương 1
TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
VÀ HIỆU QUẢ CỦA NÓ
1.1. CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG
1.1.1. Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người
vay có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, hay nói một cách
khác tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ kinh tế trong đó mỗi
tổ chức, cá nhân nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật
cho một tổ chức hay cá nhân với những điều kiện ràng buộc nhất định: về thời
hạn hoàn trả (gốc và lãi); lãi suất; cách thức vay mượn và thu hồi
Quan hệ tín dụng có một quá trình hình thành và phát triển rất lâu dài.
Trong chế độ công xã nguyên thủy, lực lượng sản xuất ở một trình độ rất thấp
kém, công cụ lao động hết sức thô sơ, cuộc sống phải dựa vào tự nhiên, phân
công lao động chưa phát triển do lực lượng sản xuất thấp kém như vậy nên
chưa thể có sản phẩm dư thừa để dự trữ và do vậy chưa có cơ sở để nảy sinh
mầm mống của đầu óc tư hữu và trong xã hội nguyên thủy chưa thể có quan
hệ trao đổi, mua bán và vay mượn. Lực lượng sản xuất phát triển, cùng với sự
của các doanh nghiệp, các tổ chức đã nảy sinh mâu thuẫn, đòi hỏi phải được
giải quyết bằng các quan hệ kinh tế để tập trung và phân phối lại các nguồn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trên nguyên tắc có hoàn trả, quan hệ này trở thành một yếu
tố quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội loài người đi tới văn minh, thịnh vượng
trong nền kinh tế thị trường dựa trên nền sản xuất lớn hiện đại đó là quan hệ tín
dụng.
1.1.2. Bản chất tín dụng
Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và
người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này
sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế - xã
6
hội, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được "hoàn trả". Giá trị của tín
dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng.
1.1.3. Chức năng của tín dụng
Tín dụng được sử dụng như là công cụ khai thác và động viên có hiệu
quả nhất những lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi phù hợp với quá trình vận
động của vốn tiền tệ trong xã hội, tín dụng có ba chức năng chính như sau:
+ Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín
dụng mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa sang
nơi thiếu để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế. Tập trung và phân phối lại
vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của tín dụng.
Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo
nguyên tắc hoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập
trung vốn đồng thời thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả.
+ Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội
Hoạt động của tín dụng, trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các
công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại
séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán,
phần làm ổn định tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn cho nền kinh tế, làm cho
sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch vụ làm ra ngày càng
nhiều, đáp ứng nhu cầu của xã hội, chính nhờ đó mà tín dụng góp phần làm
ổn định thị trường giá cả trong nước
Ba là, tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm: Tín
dụng có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có
thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động. Mặt khác, do vốn tín dụng
cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong
8
xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất, rừng do đó có thể thu hút
nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
Cuối cùng, có thể nói, tín dụng có vai trò quan trọng để mở rộng và
phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế. Sự
phát triển của tín dụng không những ở đó nó thúc đẩy mở rộng và phát triển
các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn
nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho các nước có điều
kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển.
1.1.5. Các hình thức tín dụng
* Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng
hóa cho nhau.
Tín dụng thương mại ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác và
giữ vai trò là cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời.
Tín dụng thương mại ra đời dựa trên nền tảng khách quan là quá trình
luân chuyển vốn và chu kỳ sản xuất kinh doanh không có sự phù hợp và ăn khớp
lẫn nhau không những giữa các doanh nghiệp khác ngành (như công nghiệp,
thương mại, xây dựng) mà còn giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành.
nhằm trợ giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước.
* Tín dụng nhà nước
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước (bao gồm
Chính phủ, chính quyền địa phương ) với các đơn vị và cá nhân trong xã hội,
trong đó, chủ yếu là Nhà nước đứng ra huy động vốn của các tổ chức và cá
nhân bằng cách phát hành trái phiếu để sử dụng vì mục đích và lợi ích chung
của toàn xã hội.
10
Khác với các loại hình tín dụng khác, tín dụng nhà nước không phục
vụ các đối tượng kinh tế đơn thuần, mà là các đối tượng vừa có tính chất kinh
tế vừa có tính chất xã hội, để thực hiện vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà
nước trong từng thời kỳ nhất định, tín dụng nhà nước không phải là khoản thu
của Nhà nước.
Cũng giống như mọi loại hình tín dụng khác là thể hiện tính hoàn trả,
có thời hạn và phải trả một khoản tiền về sử dụng vốn vay. Trong tín dụng
nhà nước, vốn tiền tệ huy động được dưới hình thức công trái (trái phiếu Chính
phủ) thuộc quyền sử dụng của Nhà nước, chúng được chuyển thành nguồn tài
chính bổ sung của Nhà nước. Vốn ngân sách là nguồn để hoàn trả tiền vay và lãi
vay. Tín dụng nhà nước gắn liền với hoạt động của kiến trúc thượng tầng
chính trị và sự vận động của vốn ngân sách, biểu hiện một bộ phận của quan
hệ tài chính Nhà nước.
Toàn bộ nguồn vốn huy động được dưới hình thức tín dụng nhà nước
chủ yếu để cho vay ưu đãi, ưu tiên cho các dự án và công trình xây dựng hoặc
cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hoặc đầu tư các dự án phát triển sản xuất
kinh doanh.
1.2. TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước chỉ ra đời khi mục đích của tín dụng
nhà nước chuyển từ chi tiêu sang đầu tư dưới dạng cho vay có hoàn trả. Tính
tay hữu hình đang ngày càng chiếm ưu thế, ở đây nền kinh tế thị trường gắn
liền với vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước.
Thực hiện vai trò điều tiết kinh tế, Nhà nước thường sử dụng các công
cụ tài chính vốn có như thuế, phí, chi ngân sách nhà nước (NSNN), Ngoài
ra, Nhà nước còn thành lập các doanh nghiệp nhà nước và thông qua đó thực
hiện việc đầu tư theo mục tiêu của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế. Hoạt
động của các doanh nghiệp này thường nằm trong các lĩnh vực trọng yếu,
then chốt của nền kinh tế hoặc những lĩnh vực hoạt động có tính chất xã hội.
12
Đối với các doanh nghiệp này, tùy theo điều kiện lịch sử, đặc điểm kinh tế
từng thời kỳ và yêu cầu phát triển kinh tế đất nước từng giai đoạn mà Nhà
nước thường cung cấp vốn dưới dạng cấp phát trực tiếp không hoàn lại hoặc
tín dụng. Như vậy, tín dụng ĐTPT của Nhà nước là một đòi hỏi khách quan,
tất yếu trong đầu tư cơ bản của Chính phủ trong một giai đoạn lịch sử nhất
định của quá trình phát triển kinh tế ở mỗi nước.
Đối với nền kinh tế chuyển đổi hiện nay, Nhà nước sử dụng công cụ
tín dụng để tham gia hoạt động ĐTPT là một vấn đề tất yếu, do đó vai trò điều
tiết kinh tế của Nhà nước lúc này cần được tăng cường vì phải xây dựng các
nền tảng hạ tầng cơ sở cần thiết cho nền kinh tế và phần nào hỗ trợ các doanh
nghiệp đổi mới, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ giá thành, nâng cao chất
lượng và tính cạnh tranh sản phẩm, Để thực hiện được nhiệm vụ nặng nề
này, phạm vi cấp phát không hoàn lại vốn đầu tư từ NSNN cho ĐTPT kinh tế
phải thu hẹp, thay thế vào đó là mở rộng diện tín dụng ĐTPT của Nhà nước
đối với các hoạt động chi ĐTPT của Nhà nước nhưng có khả năng thu hồi
vốn. Đấy chính là một trong những nội dung cải cách NSNN ở các nước
chuyển đổi nền kinh tế. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước trong trường hợp này
là một hình thức mang tính quá độ để các doanh nghiệp làm quen dần với cơ
chế tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Đối
với một số doanh nghiệp nhà nước, tín dụng ĐTPT của Nhà nước có thể là
tế, kéo theo sự cải thiện tiềm lực tài chính quốc gia.
Việc ra đời của cơ chế tín dụng ĐTPT Nhà nước còn là một tác nhân
quan trọng trên thị trường tài chính, đó là sự phát triển của thị trường chứng
khoán và của khu vực các thể chế tài chính phi ngân hàng.
Đối với lĩnh vực tiền tệ, vai trò của tín dụng ĐTPT của Nhà nước
cũng hết sức quan trọng. Việc xóa bỏ cơ chế tiền tệ hóa thâm hụt ngân sách là
nền tảng cho việc lành mạnh hóa khu vực tiền tệ - ngân hàng, góp phần duy
trì sự ổn định giá trị đồng nội tệ.
14
Cơ chế tín dụng ĐTPT của Nhà nước ra đời là cơ sở để tách các hoạt
động tín dụng mang tính kinh tế - xã hội ra khỏi hoạt động có tính thương mại
của khu vực trung gian tài chính, chuyển hoạt động của các tổ chức trung gian
tài chính sang cơ chế hạch toán kinh doanh hoàn toàn. Việc tách bạch tín
dụng chính sách và tín dụng ngân hàng có tác dụng tích cực trong việc hạn
chế rủi ro về tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại.
Vấn đề có ý nghĩa sâu rộng hơn là sự phát triển tín dụng ĐTPT của
Nhà nước đã tạo ra một thị trường tài chính năng động, thực hiện tốt chức năng
chu chuyển, điều hòa các nguồn tài chính trong nền kinh tế - một vấn đề thiết
yếu đối với việc duy trì liên tục và mở rộng phát triển nền sản xuất hàng hóa.
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Cùng với các chính sách kinh tế khác như chính sách thuế, chính sách
tiền tệ Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là một công cụ đắc lực, hữu hiệu của
Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mục tiêu đặt ra đối với
tín dụng ĐTPT là thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, một mặt
phải tập trung vào những lĩnh vực, ngành nghề cần thiết cho phát triển kinh tế
bền vững, nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phát triển các lĩnh vực ngành nghề,
điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Mặt khác, tín dụng ĐTPT của Nhà nước sẽ tập
trung vào những ngành nghề, lĩnh vực công nghệ mới, có tác dụng thúc đẩy
mới hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng qui mô phát triển sản xuất kinh
doanh.
Mặt khác, hoạt động đầu tư của Nhà nước sẽ khuyến khích và lôi kéo
các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua việc tạo ra các
cơ sở hạ tầng thiết yếu cho sản xuất hoặc phát triển một số khâu nào đó của
quá trình sản xuất. Khi một dự án đầu tư đi vào hoạt động với máy móc được
trang bị đầy đủ sẽ làm cho năng lực sản xuất tăng lên, hàng hóa được sản xuất
ra nhiều hơn, đa dạng về mẫu mã, phong phú về chủng loại và chất lượng cao,
trình độ công nghệ, năng suất lao động của xã hội được nâng lên. Từ đó sẽ tiết
kiệm được một khoản ngoại tệ lớn do không phải nhập máy móc thiết bị từ
16
nước ngoài vào, tạo điều kiện để người tiêu dùng tiếp cận với sản phẩm mới
với chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý và xa hơn thế xuất khẩu ra nước ngoài
để thu ngoại tệ. Các dự án về cơ sở hạ tầng như: thông tin liên lạc, các công
trình giao thông đường không, bộ, thủy, khu công nghệ cao có một ý nghĩa
vô cùng quan trọng làm tiền đề phát triển cho các ngành kinh tế khác.
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần tạo việc làm cho người
lao động, giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội
Trong bối cảnh hiện nay, việc giải quyết việc làm là vấn đề hết sức quan
trọng được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước với
mục đích là hỗ trợ các dự án ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc một số
ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn, các lĩnh vực mà không có
sự ưu đãi đầu tư của Nhà nước thì sẽ không phát triển được, hoặc các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh mà ít có hiệu quả kinh tế trực tiếp, do đó, khi thửùc hieọn
ủaàu tử phaựt trieồn saỷn xuaỏt tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn và đặc biệt khó khăn như: các tỉnh miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu,
vùng xa hoặc các ngành nghề thuộc diện khuyến khích ưu đãi đầu tư của Nhà
nước đối với các thành phần kinh tế, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế là thúc đẩy sản
xuất phát triển, tăng thu ngân sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
riêng luôn có những đặc thù so với các loại hình tín dụng khác, cụ thể:
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước gắn với việc điều tiết kinh tế vĩ mô
theo chủ trương của Nhà nước.
- Đối tượng đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước tập
trung vào các lĩnh vực then chốt, có tác động đến tăng trưởng kinh tế, mà các
thành phần kinh tế khác không đảm nhận được vì các lý do như mức độ sinh
lời thấp, nhu cầu vốn lớn, thời hạn đầu tư dài, nên thường phải gắn với
những ưu đãi nhất định. Chẳng hạn, lãi suất thường thấp hơn lãi suất thị
trường cùng kỳ, qui mô cho vay lớn hơn và các điều kiện đảm bảo nợ vay với
giá trị thường thấp hơn khoản vay,
18
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước có tính lịch sử, thường tồn tại và phát
triển trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế đất nước. Khi nền kinh tế thị
trường phát triển, các nhà đầu tư đã quen với hoạt động cạnh tranh, thì vai
trò can thiệp, điều tiết kinh tế của Nhà nước giảm, nên phạm vi tín dụng đầu
tư của Nhà nước thu hẹp lại để chuyển dần sang tín dụng thương mại.
- Đối tượng cho vay của tín dụng ĐTPT của Nhà nước do Nhà nước
xác định và được bố trí thông qua kế hoạch đầu tư của Nhà nước.
1.2.6. Các nội dung chính trong quản lý tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước
Hiện nay, hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước được điều chỉnh
bởi Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29-06-1999 của Chính phủ và Quyết
định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10-9-2001 của Thủ tướng Chính phủ.
+ Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được điều chỉnh bởi Nghị
định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29-06-1999 của Chính phủ
* Mục đích tín dụng ĐTPT của Nhà nước nhằm hỗ trợ các dự án
ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình
kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư.
* Nguyên tắc tín dụng chỉ hỗ trợ cho những dự án đầu tư Nhà nước
thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Nhà nước.
Mức vốn cho vay: Mức vốn cho vay đối với các dự án đặc biệt: theo
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Mức vốn cho vay đối với các dự án thuộc
các chương trình phát triển kinh tế của Nhà nước: 85% - 100% tổng vốn đầu tư
của dự án. Mức vốn cho vay đối với các dự án khác: 50% - 70% tổng vốn đầu
tư.
Thời hạn cho vay: Tối đa 10 năm, trường hợp đặc biệt trên 10 năm.
Lãi suất cho vay: Tại thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay là 5,4%/ năm.
Khi lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tăng, giảm 10%, Thủ tướng Chính
phủ sẽ quyết định điều chỉnh. Một số dự án thuộc diện được ưu đãi đặc biệt,
20
lãi suất cho vay 3%/ năm và 0%/ năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất
cho vay trong hạn ghi trong hợp đồng.
Đảm bảo tiền vay: Nếu chủ đầu tư là doanh nghiệp nhà nước được
dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay. Nếu chủ đầu tư
không phải là doanh nghiệp nhà nước, ngoài việc dùng tài sản hình thành từ
vốn vay để đảm bảo tiền vay, phải có tài sản thế chấp trị giá tối thiểu bằng
50% mức vốn vay. Những trường hợp đặc biệt do Thủ tướng quyết định.
Rủi ro và xử lý rủi ro: Các dự án vay vốn bị rủi ro do các nguyên
nhân khách quan:
- Do chính sách nhà nước thay đổi, do biến động của giá cả thị trường
trong và ngoài nước ngoài dự kiến đã tính toán trong dự án khả thi mà chủ
đầu tư gặp khó khăn trong việc trả nợ vay, thì được xem xét gia hạn nợ, miễn,
giảm lãi tiền vay, khoanh nợ.
- Do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ làm mất tài sản, được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền xác nhận mà chủ đầu tư không trả được nợ, thì sau
khi đã nhận được tiền bồi thường của cơ quan bảo hiểm (nếu có) được xem
xét xóa một phần hoặc toàn bộ nợ vay.
Các khoản bù đắp rủi ro nói trên được lấy từ quỹ dự phòng rủi ro. Quỹ
dụng đã ký giữa chủ đầu tư với tổ chức tín dụng cho vay thực hiện dự án.
Điều kiện được bảo lãnh: Đã được tổ chức tín dụng thẩm định cho
vay và có văn bản yêu cầu bảo lãnh. Được Quỹ HTPT chấp thuận phương án
tài chính, phương án trả nợ vốn vay và phải có tài sản đảm bảo cho bảo lãnh.
Phí bảo lãnh: 0,5%/năm tính trên số tiền đang bảo lãnh. Đối với các
dự án sản xuất hàng xuất khẩu: 0,3%/ năm tính trên số tiền đang bảo lãnh.
22
+ Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg
ngày 10-09-2001 của Thủ tướng Chính phủ
Tín dụng ngắn hạn HTXK là ưu đãi của Nhà nước nhằm hỗ trợ các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân phát triển sản xuất hàng xuất
khẩu theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước.
Hình thức tín dụng ngắn hạn được quy định theo các nội dung chủ yếu sau:
Đối tượng được vay vốn ngắn hạn HTXK là các đơn vị thực hiện
xuất khẩu hàng hóa, gồm các đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh các mặt
hàng thuộc chương trình ưu tiên khuyến khích xuất khẩu do Thủ tướng Chính
phủ quy định hàng năm hoặc trong từng thời kỳ.
Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng 80% lãi suất tín
dụng ĐTPT của Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng và được giữ cố định trong
suốt thời hạn vay vốn. Hiện nay đang áp dụng mức lãi suất 0,36%/ tháng. Lãi
suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất nợ trong hạn.
Thời hạn cho vay: Tùy thuộc nhu cầu sử dụng vốn để thực hiện hợp
đồng xuất khẩu nhưng tối đa không quá 12 tháng. Trường hợp cho vay xuất
khẩu hàng trả chậm đến 720 ngày thực hiện theo danh mục mặt hàng do Thủ
tướng Chính phủ quy định.
Hình thức cho vay: Có hai hình thức cho vay: Cho vay trước khi
giao hàng: theo hợp đồng xuất khẩu hoặc theo L/C, hoặc cho vay sau khi giao
hàng: cho vay theo bộ chứng từ hợp lệ.
Mức vốn cho vay: Tối đa 70% giá trị hợp đồng xuất khẩu, 80% trị
+ Các nhân tố về tổ chức quản lý tín dụng ĐTPT của Nhà nước
- Năng lực thẩm định và giám sát tín dụng: Năng lực thẩm định trước
khi cho vay: đây là yếu tố đảm bảo chất lượng của khoản vay và dự án. Năng
lực thẩm định cao sẽ loại trừ được sai lệch trong cung cấp thông tin của doanh
nghiệp, việc dự đoán tương lai hoạt động, khả năng sinh lời và rủi ro càng
chính xác, chất lượng tín dụng càng lớn.
24
Theo dõi chặt chẽ tiền vay là biện pháp quan trọng để đảm bảo cho
việc sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, ngăn ngừa nợ quá hạn, nợ khó đòi.
Nâng cao năng lực giám sát và xử lý tín dụng cũng chính là biện pháp nâng
cao chất lượng tín dụng.
- Tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính và qui trình nghiệp vụ: Quy
định rõ về quyền hạn và trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận sẽ có tác
động lớn trong các mối quan hệ của từng bộ phận trong quá trình quản lý từ
khâu thẩm định đến khi thiết lập quan hệ tín dụng và thu hồi hết nợ, góp phần
nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế tình trạng lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức trong tín dụng.
Quy trình nghiệp vụ khoa học, quy định rõ ràng trách nhiệm của từng
cá nhân từng bộ phận sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp
ra quyết định cho vay, giảm yếu tố sai lệch thông tin và là cơ sở quan trọng để
nâng cao chất lượng tín dụng.
+ Các nhân tố về phía tổ chức hưởng hỗ trợ tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
- Năng lực sản xuất của doanh nghiệp: Năng lực sản xuất của doanh
nghiệp biểu hiện giá trị của công cụ lao động mà chủ yếu là tài sản cố định:
Biểu hiện cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm, công nghệ sản xuất, đầu tư
trước đây có kết quả như thế nào.
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp: Năng lực tài chính của doanh
nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng số
nguồn vốn sử dụng. Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao, khả năng
lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thương mại trên thị trường. Trong trường
hợp lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động, Quỹ được Nhà nước cấp bù
chênh lệch lãi suất. Đây là điểm hết sức khác biệt so với các tổ chức tín dụng
khác. Như vậy, hoạt động cơ bản của Quỹ HTPT là hoạt động tín dụng, một
trong những nội dung của tín dụng nhà nước.
1.3.2. Quan điểm về hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ
phát triển