TẠI SAO NHIỀU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH KHÔNG HIỆU QUẢ doc - Pdf 11

1
TẠI SAO NHIỀU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH KHÔNG HIỆU QUẢ

Huỳnh Thế Du

Đến cuối năm 2003, cả nước còn khoảng 4.800 doanh nghiệp nhà nước, tổng số vốn
được đánh giá lại khoảng 189.000 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp sở hữu 40 tỷ
đồng, song số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 47%, đa số do địa phương
quản lý
1
. Thực tế trong 3 năm qua, tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nhà nước chỉ ở mức 10%. Số doanh nghiệp có lãi chiếm 77%, nhưng chỉ khoảng 40%
trong số đó có mức lãi cao hơn lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại
2
.
Nếu loại trừ các doanh nghiệp có những lợi thế riêng biệt như bưu chính viễn thông,
điện, khai khoáng, tài chính ngân hàng… và sử dụng suất chiết khấu hợp lý
3
thì số
doanh nghiệp có NPV <0 sẽ chiếm tỷ trọng đa số. Tại sao nhiều doanh nghiệp nhà nước
hoạt động kinh doanh không hiệu quả? Theo tôi, một trong những nguyên nhân cơ bản
nằm ở cơ chế tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước mà cốt lõi là quyền
lợi và nghĩa vụ của những người được giao điều hành, quản lý doanh nghiệp, vấn đề
khuyến khích đối với người lao động. Với cơ chế này, những người điều hành doanh
nghiệp và những người lao động trong doanh nghiệp hầu như không có động cơ để làm
cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Có thể phân tích vấn đề này như sau:
1. Mỗi cá nhân và tổ chức hành động như thế nào?
Theo lý thuyết hành vi (behaviour theory), bất cứ một cá nhân nào luôn hành động vì
lợi ích của bản thân họ. Bất cứ một tổ chức, một doanh nghiệp nào hoạt động đều có
mục đích và vì lợi ích của họ. Lợi ích của một cá nhân và tập thể có thể rơi vào một

LỢI ÍCH
TẬP THỂ
LỢI ÍCH
TẬP THỂ
LỢI ÍCH
CÁ NHÂN
2
Cũng theo lý thuyết hành vi hay lý thuyết trò chơi (game theory), một cá nhân sẽ luôn
hành động nếu hành động của họ chỉ mang lại lợi ích cho họ mà không có tổn thất hoặc
gần như họ không mất gì. Mặt khác, trong một tổ chức, một tập thể, nếu hầu hết các
nhân đều tích cực làm việc thì những phần tử cá biệt cũng phải nỗ lực theo, ngược lại
nếu chín người không làm việc, chỉ một người làm thì kết quả cuối cùng là tất cả 10
người đều chơi. Đây là hành động hợp lý của những người bình thường như cách nghĩ
của bạn ông Mặc Tử, còn trường hợp như ông Mặc Tử
4
người nước Lỗ thời Xuân Thu
Chiến quốc là rất hiếm. Do đó cách cần làm là phải tạo ra cơ chế để khuyến khích chín
người kia làm việc, hành động có lợi cho tổ chức chứ không phải là đi tìm ông Mặc Tử,
vì giải pháp này gần như là không khả thi. Hoặc giả chăng, nếu tìm được mà cơ chế
không tốt thì kết quả sẽ chẳng còn ông Mặc Tử nào cả.
Vì vậy, để hành động cá nhân có lợi cho tổ chức, thì tổ chức hay doanh nghiệp phải tạo
ra cơ chế sao cho vùng giao nhau là lớn nhất, luôn khuyến khích đồng thời chế tài
(chính sách cây gậy và củ cà rốt) để các cá nhân hành động trong vùng giao nhau mà
không hành động ở vùng trắng. Điều này có nghĩa là làm cho lợi ích của tổ chức và cá
nhân là nhất quán với nhau. Tuy nhiên, trong một doanh nghiệp, mâu thuẫn giữa người
điều hành và người sở hữu (principal - agent problem) là một vấn đề rất khó giải quyết
do vấn đề khác biệt về lợi ích, vấn đề thông tin bất cân xứng (asymmetric information)
thường hay xảy ra. Để giải quyết vấn đề này thì các mà các chủ sở hữu doanh nghiệp
hay làm nhất là dùng chính sách thưởng cổ phiếu để những người điều hành của doanh
nghiệp hành động để các nhà điều hành làm cho giá trị của công ty ngày một gia tăng

sao thế? Tại đưa ăn không nhiều, đứa đi cày ít…”
3
lại cho các doanh nghiệp không muốn hoạt động kinh doanh hiệu quả mà thường báo
cáo khó khăn để được ưu đãi như trường hợp các hộ nông dân ở khu vực đồng bằng
sông Cửu Long khi được hỗ trợ vốn họ không muốn làm ăn tạo ra của cải mà luôn giữ
tiêu chuẩn hộ nghèo để được hưởng trợ cấp.
3. Về vấn đề mâu thuẫn giữa người sở hữu và người điều hành
Trong doanh nghiệp nhà nước, sở hữu doanh nghiệp là toàn dân. Nhà nước (Chính phủ)
đại diện cho toàn dân quản lý phần vốn, tài sản này. Chính phủ giao cho hội đồng quản
trị hay giám đốc (đối với doanh nghiệp không có hội đồng quản trị) quản lý, sử dụng
phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995
quy định người điều hành doanh nghiệp nhà nước có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả, bảo
toàn và phát triển vốn do Nhà nước giao, bao gồm cả phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp
khác (nếu có); nhận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác
do Nhà nước giao cho doanh nghiệp. Nhưng Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995
không quy định rõ việc bãi miễn những người điều hành doanh nghiệp khi doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh không hiệu quả, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 có quy
định người điều hành doanh nghiệp bị miễn nhiệm, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
trong các trường hợp để công ty lỗ hai năm liên tiếp hoặc không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi
nhuận trên vốn nhà nước đầu tư hai năm liên tiếp hoặc ở trong tình trạng lỗ lãi đan xen
nhau nhưng không khắc phục được, trừ các trường hợp lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận
trên vốn nhà nước đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi
nhuận trên vốn nhà nước đầu tư có lý do khách quan được giải trình và đã được cơ quan
có thẩm quyền chấp nhận; đầu tư mới mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. Với quy
định như vậy, khi hoạt động thực tế thì “lý do khách quan” thường được chấp nhất nhất
nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Mặt khác, trong luật phá sản doanh nghiệp
quy định doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bị thua lỗ liên tục sẽ bị làm thủ tục phá
sản. Nhưng trong thực tế hầu như chưa có doanh nghiệp nào bị lỗ liên tục hai năm mà
phải phá sản, thậm chí nhiều doanh nghiệp không còn gì vẫn không thể làm thủ tục phá
sản được. Luật quy định người điều hành doanh nghiệp phải tổ chức doanh nghiệp hoạt

nói cách khác lợi ích thì các cấp điều hành doanh nghiệp có rất nhiều, trách nhiệm thì
chung chung, có thể cho là do nguyên nhân khách quan. Kết quả là rất nhiều người điều
hành doanh nghiệp chỉ tập trung làm lợi cho cá nhân, thay vì làm lợi cho doanh nghiệp.
Họ chỉ lo chạy các dự án mới để có phần lợi ích của mình. Việc xử lý nhưng rủi ro, tổn
thất của những dự án trước đó, nhất là những dự án do những người điều hành trước đó
để lại là rất ít, trừ trường hợp họ phải chịu sức ép từ những người đã từng điều hành
doanh nghiệp hiện tại đã được đề bạt vào vị trí cao hơn, có nhiều ảnh hưởng đối với họ.
Do những người được giao điều hành doanh nghiệp có quyền và lợi ích rất lớn, nhưng
trách nhiệm rất chung chung, nên vấn đề lo củng cố quyền lực, địa vị không thể tránh
khỏi. Và việc cổ phần hóa doanh nghiệp sẽ làm các nhà điều hành doanh nghiệp mất rất
nhiều lợi ích, dẫn đến việc trì hoãn cổ phần hóa doanh nghiệp của nhiều người điều
hành doanh nghiệp là điều hoàn toàn dễ hiểu. Đó chính là hành động tự nhiên của
những người bình thường. Đồ thị lợi ích và rủi ro của những nhà điều hành doanh
nghiệp khi thực hiện dự án và khi cổ phần hóa như hình 1 và hình 2 dưới đây
Hình 1 Hình 2
4. Về phía người lao động
Bất cứ một người nào trong cuộc sống đều muốn có được cuộc sống ổn định sung
sướng và cơ hội để thi thố, để khẳng định tài năng của mình. Đối với người lao động,
khi đi làm thì hai mục đích quan trọng nhất của họ là thu nhập và cơ hội thăng tiến. Khi
cơ chế sàng lọc tốt, người lao động được bù đắp tương xứng với nỗ lực mà họ bỏ ra,
Kết quả dự

p nhà nước
hoạt động kinh doanh có hiệu quả cần tạo ra các cơ chế để khuyến khích các nhà điều
hành doanh nghiệp, đội ngũ người lao động hành động vì lợi ích của doanh nghiệp theo
nguyên tắc lợi ích của những cá nhân trong doanh nghiệp nhất quán với lợi ích của
doanh nghiệp. Có như vậy, doanh nghiệp mới có thể phát triển bền vững trong dài hạn.
15/09/2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status