Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
CHƯƠNG KIỂM TOÁN HÀNG TỒN KHO &
GIÁ VỐN HÀNG BÁN
I. Kiểm toán hàng tồn kho:
1.1 Đặc điểm hàng tồn kho với vấn đề kiểm toán
Hàng tồn kho được xác định là những thứ tài sản có hình thái vật chất cụ
thể được dự trữ cho quá trình tiêu thụ trong hoạt động kinh doanh thông
thường hoặc dự trữ cho sản xuất cũng như la đang sử dụng cho quá trình
sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Trong doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho bao gồm những hàng hóa
mua về chờ bán,còn trong doanh nghiệp sản xuất hàng tồn kho có thể
bao gồm: nguyên,nhiên, vật liệu, công cụ, dụng cụ chờ đưa vào sản xuất,
bán sản phẩm dở dang, sản phẩm hoàn thành chờ bán.
Liên quan tới hàng tồn kho, khoản mục này thường nảy sinh những vấn
đề về kế toán và kiểm toán phức tạp như:
+ HTK bao gồm nhiều loại đa dạng
+ Số luợng các nghiệp vụ về hàng tồn kho lớn
+Phương pháp đánh giá hàng tồn kho khác nhau
+ Khó khăn trong việc xác định chính xác hàng tồn kho va f việc áp
dụng phương pháp giá thực tế hoặc giá thị trường để xác định giá trị
hàng tồn kho.
Tuy nhiên, các cuộc kiểm toán hàng tồn kho thường sẽ phức tạp vì:
- Có nhiều hành vi gian lận liên quan tới sự thay đổi giá của hàng
tồn kho
- Hàng tồn kho thường dễ vận chuyển, có nhiều loại với đặc điểm
lưu trữ và bảo quản khác nhau vì vậy đôi khi rất khó có thể thực
hiện việc quan sát để đảm bảo sự tồn tại của hàng tồn kho.
- Hàng tồn kho được bảo quản ở nhiều nơi, nhiều kho phân bố ở
những thành phố tỉnh thành khác nhau.
- Hàng tồn kho có thể trở nên chính xác tuyệt đối trong trường hợp
công nghệ cao ngay cả khi nó không có những hình thái vật chất cụ
nhằm phát hiện sai lệch.
2. Những lô hàng mua vào ngày kết thúc niên độ được kiểm kê
nhưng kg ghi sổ kế toán:
cái này cần kiểm tra việc chia cắt niên độ ghi nhận hàng tồn kho
của đơn vị
- Kiểm tra hóa đơn và điều khoản trong hợp đồng: nếu hợp đồng
ghi quyền sở hữu hàng hóa là ngày ghi trên hóa đơn thì được ghi
sổ kế toán và kiểm kê. (ngày này có thể trước hoặc sau ngày kết
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
thúc niên độ tùy theo ngày trên hóa đơn để KTV xác định số lượng
tồn kho trên sổ sách và thực tế tại ngày kết thúc niên độ và được
kiểm kê)
- Kiểm tra hóa đơn và điều khoản trong hợp đồng: nếu hợp đồng
ghi rõ quyền sở hữu hàng hóa bắt đầu từ khi đơn vị ký biên bản
bàn giao, nghiệm thu kỹ thuật (mà ngày này sau ngày kết thúc niên
độ) thì ghi sổ kế toán sau ngày kết thúc niên độ dựa trên biên bản
bàn giao này, nếu ngày này trước hoặc bằng ngày kết thúc niên độ
thì phải ghi sổ kế toán vào ngày kết thúc niên độ và thực hiện kiểm
kê.
> vì vậy việc kiểm tra chứng từ mua hàng sau ngày kết thúc niên
độ nhằm phát hiện quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp là
trước hay sau ngày kết thúc niên độ, ghi sổ kế toán thời điểm nào ?
3. Kiềm tra các sổ chi tiết, chứng từ gốc, biên bản kiểm kê năm
trước để đảm bảo nghiệp vụ mua hàng thực sự phát sinh và ghi
chép đầy đủ và thuộc quyền sở hữu của DN.
4.Hàng tồn kho giữ hộ có thể tính chung vào hàng tồn kho của DN:
KTV có thể gửi thư xác nhận đến các DN gửi hàng để xác nhận
hàng hóa này không thuộc quyền sở hữu của DN, kg tính vào tồn
kho của DN.
5.Việc xác định hàng tồn kho ảnh hưởng trực tiếp đến giá vốn hàng
phải được giám sát và ghi nhận các khoản lỗ tiềm tàng.
Như các chu trình khác trong kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán
chu trình hàng tồn kho cũng áp dụng các phương pháp kiểm toán cơ bản
nói chung trong đó chú trọng hơn đến các phương pháp: kiểm kê, điều
tra, cân đối Có sự khác biệt trên là do đặc điểm của hàng tồn kho, từ
đó các kiểm toán viên phải thu thập bằng chứng cả về số lượng và chất
lượng. Có thể ví dụ trong các giai đoạn sau:
- Trong giai đoạn đầu quan sát vật chất, kiểm toán viên sử dụng
phương pháp kiểm kê (đối với các mẫu hàng tồn kho chi tiết theo
từng kho hàng, từng loại hàng) và điều tra (đối với các loại hàng
hóa không phải của đơn vị hay các loại hàng tồn kho đã lỗi thời,
giảm giá trị…) để đánh giá tính chính xác của cuộc kiểm kê, nhận
diện về phương diện vật chất hàng tồn kho. Ngoài ra trong giai
đoạn này kiểm toán viên có thể sử dụng thêm phương pháp phỏng
vấn, gửi thư xác nhận để ghi chú các vấn đề khác có liên quan.
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
- Trong giai đoạn kiểm tra công tác kế toán hàng tồn kho, sử dụng
phương pháp cân đối để thực hiện so sánh các số liệu giữa sổ sách
với thực tế, giữa các loại sổ chi tiết, sổ tổng hợp…
- Trong các bước công việc còn lại, kiểm toán viên sẽ áp dụng linh
hoạt các phương pháp để thu được các bằng chứng đầy đủ và xác
thực.
- Kiểm toán hàng tồn kho cũng tuân theo quy trình cơ bản gồm 3
bước: lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
Tùy theo các đặc điểm cụ thể tại từng khách hàng mà chương trình
kiểm toán có thể thay đổi linh hoạt tuy nhiên các kiểm toán viên
luôn đi theo một trình tự cơ bản được trình bày cụ thể.
Tự động đặt hàng và khả năng lỗi thời của hàng tồn kho
Nhiều công ty đã thực hiện tự động hóa quá trình xử lí để tạo ra
những đơn đặt hàng cho sản phẩm khi hàng tồn kho thấp hơn mức
này nếu được chấp nhận sẽ ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và
hàng tồn kho của đơn vị.
- KTV phải xác định các thủ tục mà công ty sử dụng để xác định
hàng mua trả lại và tách biệt với hàng đã mua. Các sai phạm đã
xảy ra tại các công ty khi mà những công ty này bán hàng bị trả lại
như là bán những sản phẩm mới.
Quá trình kiểm soát chất lượng.
- Quá trình kiểm tra chất lượng toàn bộ, cho phép thực hiện chức
năng sản xuất & lưu trữ.
- Hệ thống kiểm soát chất lượng phải nhận diện được những sản
phẩm bị lỗi và phân loại những sản phẩm này như là phế liệu hay
sản phẩm phải tái chế. -KTV nên đánh giá các báo cáo kiểm soát
chất lượng và xem xét những ảnh hưởng tới những khoản nợ phải
trả không được gi nhận.
Hệ thống kế toán chi phí
Kiểm toán viên thực hiện thẩm vấn những vấn đề sau:
- Phương pháp chuẩn cho hạch toán chi phí là gì?
- Các phương pháp này được cập nhật nhưu thế
Ví dụ: Công ty giầy Thượng Đình
Về xây dựng tiêu chuẩn về chi phí để hỗ trợ trong việc kiểm soát
chi phí.
Phân loại chi phí theo hai loại sản phẩm là gián tiếp và trực tiếp:
• Phân loại gián tiếp: Gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và
chi phí nhân công trực tiếp
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
• Phân loại trực tiếp: là khoản chi phí liên quan đến hoạt động
phục vụ và quản lí sản phẩm phát sinh trong phạm vi sản xuất.
Sự tồn tại và tính chính xác của hệ thống hàng tồn kho theo
phương pháp thường xuyên ( kê khai thường xuyên)
- Quản lý hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên cho
và nguyên nhân của bất cứ khoản chênh lệch lớn nào trong các ghi
chép.
KTV nên xác định những số liệu kiểm kê và số liệu điều chỉnh đối
với những ghi chép liên quan về hàng tồn kho.
Ví dụ:
Để làm rõ vấn đề hàng tồn kho hiện nay, ta tìm hiểu những vấn đề
liên quan đến hàng tồn kho của một doanh nghiệp kinh doanh máy
tính nổi tiếng và đang được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.Đó là
hãng máy tính Dell. Sau đây là dòng tâm sự về những khó khăn
trong công tác quản lý hàng tồn kho mà hãng máy tính Dell gặp
phải:
Dell được thành lập dựa trên giả thuyết về “hứa ít và đem lại
nhiều” cho khách hàng, nhân viên và người cung cấp.Chúng tôi
cũng xây dựng uy tín của công ty, một phần dựa trên việc chúng
tôi xoay sở tốt hàng hoá tồn kho, mà điều đó dẫn tới việc cung cấp
dịch vụ nhanh hơn và giúp tiết kiệm nhiều hơn cho khách hàng. Do
đó, có lẽ rất kỳ lạ đối với chúng tôi khi hiểu được cú thụt lùi có ý
nghĩa đầu tiên mà chúng tôi đã trải qua năm 1989 khi mà công ty
có quá nhiều hàng tồn kho.
Vì chúng tôi đã quen với việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng từng
đồng lãi, doanh số bán hàng của công ty tăng càng ngày càng
nhiều. Một cách tự nhiên, chúng tôi coi đó là một dấu hiệu khả
quan.Và để hoàn thành yêu cầu đó, tất nhiên chúng tôi phải mua
các linh kiện rời – trong đó có có con chíp bộ nhớ. Nhưng thay vì
mua đúng số lượng cần – đủ mà ngày nay chúng tôi đang làm –
chúng tôi đã mua như những kẻ say mê bất cứ con chíp nào mà
chúng tôi có thể mua được.
Chúng tôi đã mua con chíp bộ nhớ nhiều hơn số chúng tôi cần. Và
sau đó giá cả bị rớt xuống thấp. Vấn đề càng tồi tệ hơn vì chúng tôi
cũng đã mua các con chíp ở vào “ngã ba đường” về mặt kỹ thuật,
có hiện nay. Tất cả những kinh nghiệm này chúng tôi đều học được
từ sự việc đó. Vấn đề hàng tồn kho thực sự là một vấn đề lớn nhận
thấy ngay đối với chúng tôi, buộc chúng tôi phải có những bước đi
tốt hơn và tìm ra lại một trong những toà nhà của sự thành công
của công ty: giá trị và tầm quan trọng của việc quản lí hàng tồn
kho. Ngoài kinh nghiệm này ra, chúng tôi còn rút ra được bài học
về việc nâng cao tốc độ lưu chuyển hàng hoá tồn kho không phải
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
chỉ là một chiến lược giành được chiến thắng mà còn là sự cần
thiết: nó đánh bại sự sụt giảm nhanh chóng giá trị của nguyên liệu
và đòi hỏi ít tiền và ít rủi ro hơn. Chúng tôi cũng cam kết mạnh mẽ
hơn cho việc hiểu và áp dụng kỹ năng dự đoán.
→Qua ví dụ trên ta thấy: vấn đề hàng tồn kho vừa rất đơn giản
nhưng cũng vừa phức tạp đến kinh ngạc. Phức tạp vì có nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến nó mà chúng ta không kiểm soát được, chỉ có thể
dựa trên sự phán đoán mà thôi.Sự phán đoán được biết dưới cái tên
dự báo nhưng thực ra đó chỉ là việc phỏng đoán có phương pháp.
Những yếu tố không thể kiểm soát gồm có: mong muốn, nhu cầu
khách hàng của công ty bạn và tất cả khách hàng trên toàn bộ
chuỗi cung ứng, nguồn cung ứng linh kiện và nguyên vật liệu từ
nhà cung cấp của bạn và tất cả các nhà cung cấp khác trong chuỗi
cung ứng, tính sẵn có của nguồn tín dụng và giá trị tiền liên quan
đến lãi suất, tỷ lệ lạm phát và tỷ giá. Ngay đến những yếu tố mà ta
có thể kiểm soát được thì ta cũng không thể nào hoàn toàn làm chủ
tất cả. Có thể kể một số yếu tố như sản lượng đầu ra hay năng suất,
chất lượng và số lần giao hàng, kể cả những biến động - điều luôn
có trong bất kỳ hệ thống nào.
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Với những rắc rối và phức tạp của hàng tồn kho, tùy vào mỗi
doanh nghiệp mà đưa ra những biện pháp khắc phục cho phù hợp.
bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu
vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây
chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn
kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được
nhu cầu khách hàng.
- So sánh tổng doanh thu hiện tại với tổng doanh thu dự tính : do
tính chất tồn lâu, chôn vốn, chi phí phát sinh thêm của nó hay nói
cách khác, nếu để tồn hàng tồn kho quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng
không tốt tới quá trình kinh doanh do DN sẽ phải tốn chi phí dự
trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời và thanh lý hàng
hư hỏng dẫn tới doanh thu hiện tại sẽ giảm,thấp hơn so với dự tính
- Định kì đánh giá số ngày quay vòng của hàng tồn kho theo dòng
sản phẩm : điều này giúp DN giám sát lượng hàng và mặt hàng tồn
kho có đáp ứng kì vọng hay bị lỗi thời
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
- Điều chỉnh các điều kiện bảo quản hàng tồn kho, ghi chép chúng
như là một phần của số liệu kiểm kê : hạn chế tới mức thấp nhất
khả nẳng lỗi thời,hư hỏng,lãng phí của hàng tồn kho
- Giám sát doanh số bán hàng đối với số lượng sản phẩm đánh giá
giảm và định kì so sánh giá trị hiện tại dòng với giá phí của hàng
tồn kho : để cân bằng chi phí lưu kho với giá trị thực tế hàng hóa
mang lại để điều chỉnh lượng hàng tồn kho
- Xem xét hàng tồn khi hiện tại không được chú ý tới với những sản
phẩm mới được giới thiệu : xét trường hợp DN đón đầu tình trạng
khan hiếm hay tăng giá của sản phẩm, hàng hoá mà mình đang
nắm quyền chi phối để "găm hàng" và sẽ tung ra sản phẩm ở thời
điểm cần thiết. Khi đó, hàng tồn kho trở thành khoản lợi nhuận
đang chờ ngày thanh toán của DN
Nếu ban quản trị thực hiện việc phân tích về khả năng lỗi thời của
sản phẩm thì các công việc của kiểm toán viên vào cuối năm sẽ
thực hiện kiểm kê vật chất. Kiểm tra nhật ký mua và nhật ký
bán hàng trong một khoảng thời gian ngắn trước và sau ngày
kết thúc năm. Lưu ý kiểm tra số lượng các tài liệu nhận và
chuyển giao để xác định có hay không các hàng hóa được ghi
nhận không đúng kỳ.
2. Thực hiện phỏng vấn nhân viên khách hàng về sự tồn tại các
hàng hóa ký gửi hoặc lưu trữ ngoài kho hàng của đơn vị. Đối
với những khoản mục quan trọng, thực hiện thăm quan nơi bảo
quản và gửi xác nhận tới bộ phận quản lý hàng của đơn vị ở bên
ngoài.
3. Thực hiện phỏng vấn nhân viên công ty khách hàng về khoản
dự phòng hàng trả lại. Xác định chính sách của khách hàng về
hoạt động kế toán đối với loại hàng bị trả lại. Kiểm tra hóa đơn
của các nghiệp vụ trong một khoảng thời gian để xác định có
hay không những hàng hóa bị trả lại lớn đã nhận được và đã ghi
chép chúng.
Quyền
1.Kiểm tra các hóa đơn nhà cung cấp khi kiểm tra việc thanh
toán để xác định quyền sở hữu đã được chuyển giao
2. Kiểm tra các hợp đồng bán hàng để xác định có hay không
việc khách hàng có quyền trả lại hàng mua, và có hay khong
quyền ghi nhận doanh thu có thể không phù hợp.
Đánh
giá
1.Xác định xem phương pháp đánh giá có phù hợp với khách
hàng hay không.
2. Thẩm vấn về hoạt động sản xuất và cá nhân người bảo quản
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
về sự tồn tại của hàng tồn kho bị lỗi thời
3. Lưu ý về khả năng tồn tại hàng tồn kho lỗi thời trong khi
phẩm ấy.
- Kiểm tra các cam kết mua hàng về khả năng thua lỗ tiềm
tang. Xác định xem có những khoản lỗ kinh doanh chưa chắc đã
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
được công bố và ghi nhận hay không.
- Sử dụng GAS để kiểm tra mở rộng và chuẩn bị bảng in liệt kê
ra những số liệu khác biệt
- Sử dụng GAS để lưu ý về những tài liệu của hàng tồn kho.
Tìm dấu từ số tổng cộng trên bảng cân đối kế toán.
Công
bố
Kiểm tra việc công bố báo cáo tài chính về các nội dụng:
-Phương pháp đánh giá mà đơn vị đã sử dụng.
- Số liệu về giá phí theo phương pháp FIFO và mức độ luân
chuyển theo phương pháp LIFO nếu phương pháp này được sử
dụng
- Tỷ lệ % hàng tồn kho được đánh giá theo các phương pháp
khác nhau
- Sử phân loại hàng tồn kho như là nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang, và sản phẩm hoàn thành.
- Sự tồn tại của những khoản thua lỗ bất thường trong quan hệ
với những hợp đồng hoặc những cam kết mua dài hạn.
- Chính sách về hàng tồn kho liên quan tới hàng bị trả lại và
giảm giá, nếu là nguyên vật liệu từ hoạt động mua sắm thì chính
sách này liên quan tới hàng mua được trả lại cho người bán.
Sự hiện hữu
Để kiểm tra sự hiện hữu hàng tồn kho có hiệu quả cao nhất là kiểm kê
vật chất hàng tồn kho vào cuối năm. Những thủ tục thế này thường được
thực hiện với nhữung khách hàng nhỏ có sử dụng phương pháp quản lí
hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kì hoặc ở những đơn vị kê
dạng. - Các khoản mục tồn kho lỗi thời hoặc ó vấn đề về giá trị. - Các
khoản mục tồn kho có giá trị lớn . - Việc chuyển hàng hóa ra hoặc vào
công ty trong quá trình kiểm kê.
7. Trình bày trên tài liệu kết luận về chất lượng quá trình kiểm kê hàng
tồn kho của công ty khách hàng, những chú ý về bát cứ chi tiết nào trong
kiểm toán. Xác định xem số liệu kiểm kê có đủ phản ánh đúng đắn hàng
hóa trong kho và cuối năm hay không .
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
Bảng 11.4 là 1 ví dụ về thủ tục tổng quat thực hiện quá trình kiểm kê
hàng tồn kho trong công ty khách hàng Bảng số 11.4
Kiểm toán viên có thể thực hiện “ kiểm tra từ đầu đến cuối”
các khu vực hang tồn kho, ghi chú trên giấy làm việc các con số gắn
nhãn hang tồn kho đầu tiên và cuối cùng cũng như là những số gán nhãn
hang không được sử dụng. Đồng thời kiểm toán viên cũng thực hiện các
công việc sau đây:
-Thực hiện kiểm tra số lượng các khoản mục hàng tồn kho đã lựa
chọn và ghi lại các số liệu kiểm tra phục vụ cho tìm kiếm các sai phạm
trên tài liệu ghi chép hàng tồn kho của công ty khách hàng;
-Thực hiện ghi chú tất cả các khoản mục hàng tồn kho bị lỗi thời
hoặc nghi vấn về giá trị. Tiếp đến, kiểm toán viên có thể thực hiện phỏn
vấn nhân viên của khách hàng;
-Quan sát việc thu hồi phế liệu và các loại nguyên vật liệu khác;
-Quan sát xem có bất kỳ việc di chuyển hàng hóa trong quá trình
kiểm tra hàng tồn kho không;
-Ghi giảm tất cả những khoản mục có giá trị lớn từ các dấu hiệu
được phát hiện trong những ghi chép của khách hàng về hàng tồn kho.
Trong quá trình kiểm kê hàng tồn kho, kiểm toán viên có thể gặp
phải những tình huống tạo ra khó khan trong quá trình thực hiện công
việc. Chẳng hạn, công ty có nhiều kho bảo quản hàng hóa, trường hợp
này kiểm toán viên phải xác định kho hàng nào để đến quan sát. Các
số thủ tục sau:
-Xem xét đột trung thực và tính độc lập của bên thứ ba;
-Quan sát kiểm kê vật chất hàng tồn kho.
Thu thập báo cáo của kiểm toán viên khác về các thủ tục kiểm soát
đối với hàng tồn kho và thủ tục kiểm kê hàng tồn kho tại đơn vị thứ ba.
SỰ ĐẦY ĐỦ.
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
KTV thường thực hiện thủ tục kiểm tra việc chia cắt kỳ kế toán đối với
các hóa đơn và tài liệu chứng minh về hàng hóa được chuyển giao vào
cuối năm để xác định xem tất cả các khoản mục hàng tồn kho đã được
ghi chép vào đúng kỳ. Kết thúc thủ tục này là việc kết thúc việc thu thập
các thông tin về những khoản mục hàng hóa cuối cùng được chuyển giao
và nhận được vào ngày kết thúc năm và kiểm tra những mẫu nghiệp vụ
được ghi chép trên nhật ký bán hàng và nhật ký mua hàng trong khoảng
thời gian gần kết thúc năm. KTV cũng có thể sử dụng GAS để xác định
xem các khoản mục HTK đc ghi sổ có đúng thời gian không. Chương
trình kiểm toán có thể đc sử dụng để đối chiếu với ngày giao hàng và
ngày viết hóa đơn nếu như những file máy tính có chứa những thông tin
đã được kiểm tra về tính chính xác. KTV cũng nên thực hiện thẩm vấn
nhân viên công ty khác hàng về bất cứ HTK nào ở đơn vị nhận ký gửi
hoặc lưu trữ ở bên thứ 3 và gửi thư xác nhận về sự tồn tại của chúng.
QUYỀN.
Hầu hết công việc kiểm toán đối với cơ sở dẫn liệu quyền và sở hữu
HTK đc xác định trong các thủ tục kiểm tra KTV đối với những ghi
chép ban đầu về nghiệp vụ mua sắm. KTV cũng nên kiểm tra những hợp
đồng dài hạn để xác định nghĩa vụ chuyển giao hàng cho người mua,
quyền trả lại hàng của của khác hàng hoặc nghĩa vụ mua lại (nếu có). Kỹ
thuật phỏng vấn nên được thực hiện liên quan tới bất cứ HTK nào đang
gửi bán. Ngoài ra, kỹ thuật gửi thư xác nhận với bên thứ 3 cũng bảo
quản HTK của công ty khách hàng cũng có thể sử dụng trong trường
- Đổ vỡ , hỏng hóc;
- Qúa hạn sử dụng, lỗi thời;
- Quyết định bán chịu lỗ để chuyển sang mặt bằng khác;
- Lỗi trong khi mua và sản xuất.
Để thu thập bằng chứng về khả năng sai phạm trong xác định giá trị
thuần của hàng tồn kho, kiểm toán viên cần phải kiểm tra theo hướng
sau :
- Rà soát và kiểm tra qui trình ghi giảm giá hàng tồn kho được áp
dụng bởi ban quản lý khách hàng;
Thảo luận nhóm Kiểm toán căn bản
- Tính các chỉ tiêu như tốc độ quay vòng hàng tồn kho được áp
dụng bởi ban quản lý khách hàng;
- Tính các chỉ tiêu như tốc đọ quay vòng hàng tồn kho , sỗ ngày
quay vòng hàng tồn kho, các thủ tục phân tích khác để nhận diện
khả năng lỗi thời của các sản phẩm;
- Độc lập ước đoán giá trị cần ghi giảm;
- Tính giá trị thuần có thể thực hiện đượ đối với sản phẩm dựa vào
giá bán hiện tại
- Giám sát nhật ký mua hàng và tìm thông tin về các sản phẩm của
đối thủ cạnh tranh;
- Đối chiếu kết quả ước đoán với kết quả của đơn vị;
Công khai:
Kiểm toán viên kiểm tra những công bố của công ty khách hàng
về sự tuân thủ các nguyên tắc chung được chấp nhận phổ biến
2 Thử nghiệm cơ bản đối với giá vốn hàng bán.
Kiểm toán giá vốn hàng bán có thể được thực hiện gắn liền với kiểm
toán khoản mục hàng tồn kho.bên cạnh đó kiểm toán viên nên áp
dụng các kỹ thuật so sánh đối với giá vốn hàng bán,tuy nhiên nếu có
bất cứ vấn đề thay đổi lớn nào của của tất cả sản phẩm hoặc từng
dòng sản phẩm thì kiểm toán viên phải xác minh tiếp.