TIỂU LUẬN:
Mối quan hệ giữa cái riêng và cái
chung và vận dụng trong quá trình xây
dựng kinh tế thị trường ở nước ta
Lời nói đầu Bước lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải trải qua hai cuộc
chiến tranh giữ nước khốc liệt, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng thêm kiệt
quệ bởi chiến tranh. Vào thời bình, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì trệ đó, nước
ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, khiến cho đất
nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong khi đó, nhờ sử
dụng triệt để kinh tế thị trường mà CNTB đã đạt được những thành tựu về kinh tế-
xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Cũng nhờ kinh tế
thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành quả về văn minh hành chính, văn
thời chúng ta cũng thấy giữa chung lại có mặt giống nhau tưc là tồn tại cái chung
giữa chúng .
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một
quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Ví dụ: Một hành tinh nào đấy hay một thực vật, động vật nào đấy là cái đơn
nhất trong giới tự nhiên. Cái riêng trong lịch sử xã hội là một sự kiện riêng lẻ nào
đó, như là cuộc cách mạng tháng Tám của Việt nam chẳng hạn. Một con người nào
đó: Huệ, Trang, cũng là cái riêng. Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm sự vật
gia nhập vào một nhóm các sự vật rộng hơn, phổ biến hơn. Sự tồn tại cá biệt đó của
cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong bản thân những thuộc tính không lặp lại ở
những cấu trúc sự vật khác. Tính chất này được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn
nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những
mặt chỉ có ở một sự vật nhất định mà không lặp lại ở những sự vật khác. Ví dụ
chiều cao, cân nặng, vóc dáng của một người là cái đơn nhất. Nó cho biết những
đặc điểm của chỉ riêng người đó, không lặp lại ở một người nào khác. Cần phân biệt
“cái riêng” với cái “đơn nhất”.
Mặt khác, giữa những cái riêng có thể chuyển hóa qua lại với nhau, chứng tỏ
giữa chúng có một số đặc điểm chung nào đó. Những đặc điểm chung đó được triết
học khái quát thành khái niệm cái chung.
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính
chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định ,mà còn được lặp lại trong
nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác, những mối liên hệ giống nhau,
hay lặp lại ở nhiều cái riêng. Cái chung thường chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại. Ví dụ như qui
luật cung- cầu, qui luật giá trị thặng dư là những đặc điểm chung mà mọi nền kinh
tế thị trường bắt buộc phải tuân theo.
Công thức trên có thể là không hoàn toàn đúng một cách tuyệt đối, nhưng
trong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói được một cách chính xác quan hệ bao
trùm giữa cái chung và cái riêng. Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình thành nên
chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là cái toàn bộ vì nó là một thực thể sống động.
Trong mỗi cái riêng luôn tồn tại đồng thời cả cái chung và cái đơn nhất. Nhờ thế,
giữa những cái riêng vừa có sự tách biệt, vừa có thể tác động qua lại với nhau,
chuyển hóa lẫn nhau. Sự " va chạm" giữa những cái riêng vừa làm cho các sự vật
xích lại gần nhau bởi cái chung, vừa làm cho sự vật tách xa nhau bởi cái đơn nhất.
Cũng nhờ sự tương tác này giữa những cái riêng mà cái chung có thể được phát
hiện. Về điểm này, Lênin nói: " Cái riêng chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ dẫn
tới cái chung". Ví dụ, nguyên tử của mọi nguyên tố đều khác nhau, đều là cái "
riêng", chúng có trọng lượng nguyên tử của mình, có hoá trị của mình, có điện tích
hạt nhân của mình, có cấu tạo vỏ nguyên tử của mình Nhưng tất cả những nguyên
tử đều có cái chung: trong mọi nguyên tử đều có hạt nhân, vỏ điện tử, đều có những
hạt nguyên tố; hạt nhân của mọi nguyên tử đều có thể bị phá vỡ. Chính nhờ có
những đặc tính chung cho mọi nguyên tử mà khoa học mới có khả năng biến
nguyên tử của một nguyên tố này thành nguyên tử của một nguyên tố khác. Nguyên
tử, cũng như bất cứ hiện tượng nào khác trong thế giới khách quan, là sự thống nhất
của cái khác nhau và cái giống nhau, cái đơn nhất và cái phổ biến.
Trong những hoàn cảnh khác nhau, cái chung có thể chuyển hoá thành cái
đơn nhất và ngược lại. Ví dụ: trước Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường, khoán
sản phẩm chỉ là cái đơn nhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ sau Đại hội
Đảng VI thì kinh tế thị trường lại dần trở thành cái chung, còn kinh tế tập trung bao
cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một số ngành như an ninh quốc
phòng
Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tương
đối. Có những đặc điểm xét ở trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất, nhưng nếu xét
ở trong nhóm sự vật khác lại là cái chung. Ví dụ như cây cối là một đặc điểm chung
khi xét tập hợp các cây như bạch đàn, phượng vĩ, bàng… nhưng nếu xét trong phạm
trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn
với nền kinh tế thị trường thế giới. Tương quan giá cả của các loại hàng hoá trong
nước gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế. Thị trường trong nước
gắn liền với thị trương thế giới . Nền Kinh tế Việt Nam là một bộ phận của nền kinh
tế thế giới. Chính điều này tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh của nền kinh tế thế
giới
Xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của
mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa
các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất, không còn là dân số đông, vũ khí nhiều, quân
đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các chính sách, của các quốc gia là
tạo được nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình, là tốc độ phát triển kinh tế
cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp. Tiềm lực kinh tế đã trở
thành thước đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để
bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền.
Như vậy với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế thế giới thì việc tiếp thu
những đặc trưng cơ bản những nét chung trong tổng thể đó để hoàn thiện nền kinh
tế Việt Nam là tất yếu . Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu một cách hình
thức phải tiếp thu có chọn lọc cho phù hợp với đièu kiện đất nước .Phải giữ dược
nhưng nét đặc trưng riêng tưc là phải bảo tồn cái đơn nhất của kinh tế Việt Nam từ
đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường mới về chất, thể hiện sự phát triển,
phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị trường TBCN.
Chương 3
Những giải pháp phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam trên cơ sở nguyên lý
về cái chung và cái riêng
3.1. Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan:
3.1.1. Khái niệm kinh tế thị trường:
động ở mức cao nhất sức người sức của cho tiền tuyến.
Sau ngày giải phóng miền Nam, trên bức tranh về nền kinh tế nước ta tồn tại
một lúc cả ba gam màu: kinh tế tự cấp tự túc, kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh
tế hàng hoá. Do sự không hài hoà giữa các nền kinh tế và sự chủ quan cứng nhắc
không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản lý mà chúng ta đã không tạo ra
được động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà còn gây lãng phí tài nguyên, ô
nhiễm môi trường Lúc này, nước ta đồng thời cũng bị cắt giảm nguồn viện trợ từ
các nước XHCN. Tất cả những nguyên nhân đó đã khiến cho nền kinh tế nước ta
trong những năm cuối thập kỷ 80 lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân
dân bị giảm sút, thậm chí ở một số nơi còn bị nạn đói đe doạ. Nguyên nhân của sự
suy thoái này là từ những sai lầm cơ bản như:
Ta đã thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất trên một qui mô
lớn trong điều kiện chưa cho phép, khiến cho một bộ phận tài sản vô chủ và
không sử dụng có hiệu quả nguồn lực vốn đang rất khan hiếm của đất nước
trong khi dân số ngày một gia tăng với tỉ lệ khá cao 2, 2%.
Thực hiện việc phân phối theo lao động cũng trong điều kiện chưa cho phép.
Khi tổng sản phẩm quốc dân thấp đã dùng hình thức vừa phân phối bình quân
vừa phân phối lại một cách gián tiếp đã làm mất động lực của sự phát triển.
Việc quản lý kinh tế của nhà nước lại sử dụng các công cụ hành chính, mệnh
lệnh theo kiểu thời chiến không thích hợp với yêu cầu tự do lựa chọn của người sản
xuất và người tiêu dùng đã không kích thích sự sáng tạo của hàng triệu người lao
động.
Trong khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường, CNTB đã đạt được
những thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng
suất lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành
quả về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển. Do mắc phải những sai lầm
như trên mà để phát triển kinh tế XHCN ở nước ta không thể chấp nhận việc tiếp
Xét về sự tồn tại thực tế ở nước ta những nhân tố của kinh tế thị trường. Về
vấn đề này có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhiều ý kiến cho rằng thị
trường ở nước ta là thị trường sơ khai. Nhưng thực tế kinh tế thị trường đã
hình thành và phát triển đạt được những mức phát triển khác nhau ở hầu hết
các đô thị và các vùng đồng bằng ven biển. Thị trường trong nuớc đã được
thông suốt và vươn tới cả những vùng hẻo lánh và đang được mở rộng với
thị trường quốc tế. Nhưng thị trường ở nước ta phát triển chưa đồng bộ, còn
thiếu hẳn thị trường đất đai và về cơ bản vẫn là thị trường tự do, mức độ can
thiệp của nhà nước còn rất thấp.
Xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của
mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế chính là tiềm
lực kinh tế. Mục đích của các chính sách, của các quốc gia là tạo được tốc độ
phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp.
Kinh tế đã trở thành thước đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc,
là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các đảng cầm
quyền.
Như vậy việc chuyển sang kinh tế thị trường là điều kiện không thể thiếu để
phát triển kinh tế. Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu hình thức kinh tế thị
trường từ chế độ TBCN (vốn được đẩy lên giai đoạn phát triển rất cao so với những
thời kỳ trước) mà từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường mới về chất,
thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị trường TBCN.
3.2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:
3.2.1. Nền kinh tế nước ta mang bản chất của nền kinh tế thị trường thế
giới:
Trước hết, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, nên nó tuân theo mọi
quy luật của kinh tế thị trường: quy luật cung- cầu, quy luật giá trị thặng dư, quy
luật lưu thông tiền tệ
Các loại thị trường, các mối quan hệ thị trường được phát triển phong phú,
đa dạng, thể hiện trình độ cao trong việc phân công lao động thành nhiều ngành
nghề. Sự khác biệt về sở hữu tài sản đã được chấp nhận (không còn chỉ chấp nhận
pháp, phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế phục vụ lợi ích
của đa số nhân dân lao động, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Cùng với việc sử dụng động lực của kinh tế thị trường, ngay từ
đầu, Đảng ta chủ trương phát triển lực lượng sản xuất phải đi đôi với xây dựng quan
hệ sản xuất, đặc biệt là những yếu kém về quản lý và phân phối, xây dựng quan hệ
con người với con người, một xã hội giàu tình thương và lòng nhân ái; tăng trưởng
kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo, làm cho thị trường mang tính nhân văn
hơn.
Dưới CNTB, kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh theo kiểu cá lớn nuốt cá
bé, bất bình đẳng, bất công; nhưng nền kinh tế thị trường trong xã hội XHCN vẫn
mang tính cạnh tranh, sử dụng cạnh tranh làm động lực phát triển nhưng không
cạnh tranh dã man; tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, khuyến khích
làm giàu gắn với xoá đói giảm nghèo và khắc phục sự phân cực giàu nghèo, gia
tăng về mức sống nhưng vẫn giữ gìn được đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc.
Trong quá trình phát triển, kinh tế nhà nước được chọn lọc, sắp xếp lại, khẳng
định hợp lý phạm vi cần nắm giữ, nắm lấy những mạch máu chủ yếu làm đội quân
chủ lực trong xây dựng và điều tiết kinh tế, làm nòng cốt hướng dẫn cac thành phần
kinh tế khác hoạt động đúng hướng.
Quan hệ phân phối trong kinh tế thị trường TBCN là nhà tư bản nắm giữ phân
lớn sản phẩm.Ta chủ trương phân phối theo lao động, theo vốn trên cơ sỏ khuyến
khích mọi người tự do sản xuất kinh doanh công khai hợp pháp, đồng thời thực hiện
chính sách công bằng xã hội. Ta chủ trương chống bóc lột, bất công, chăm lo sự
nghiệp y tế, giáo dục, đấu tranh cho một nền đạo đức mới, một lối sống lành mạnh.
Chỉ có kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội mới thể hiện được bản chất của
chế độ mới. Tuy nhiên, để có động lực cho sự phát triển phải khuyến khích tích tụ,
tích luỹ, sáng kiến cá nhân, chấp nhận phân hoá do lao động sáng tạo (nhưng kiên
quyết xoá bỏ phân hoá do bất công).
Xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, trong đó
Quan tâm đến các vấn đề chính sách xã hội, bù đắp những tổn thất cho những
người, gia đình có công với cách mạng, thành lập những làng tình thương giúp đỡ
nhiều người không nơi nương tựa , kiểm soát, giảm thiểu những mặt tiêu cực so
kinh tế thị trường gây ra; đó là những biện pháp giảm khuyết tật xã hội của kinh tế
thị trường mà nhà nước ta đã thực hiện. Nhờ đó, nhà nước không còn là "kẻ gác cổng trung thành cho sở hữu tư nhân" mà đã trở thành một lực lượng quan trọng
trong việc điều tiết xã hội, khống chế khuyết tật xã hội.
Trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhập với kinh tế thị trường thế giới, ta luôn
chú ý tới việc đảm bảo độc lập, tự chủ về kinh tế, chính trị và đảm bảo độc lập, tự
do cho dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc.
3.2.3. Những thắng lợi bước đầu mà kinh tế thị trường mang lại:
Xét về lĩnh vực con người, người Việt nam hiện nay đã thể hiện sự năng động,
tinh tế, nhạy cảm( đặc biệt là với thị trường) hơn hẳn so với những năm tám mươi.
Xét về lĩnh vực kinh tế, nhờ chuyển sang xây dựng kinh tế thị trường theo một
đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng( con người, tự nhiên,
xã hội, điều kiện lịch sử ) củaViệt nam mà nền kinh tế cũng như đời sống của
người dân được cải thiện đáng kể:
So với năm 1993, tổng sản phẩm trong nước năm 1994 tăng 8,5%, trong đó
sản xuất công nghiệp tăng 13%, sản xuất nông nghiệp tăng 4%, kim ngạch
xuất khẩu tăng 20,8%; lạm phát được kiềm chế. Bước đầu thu hút được vốn
đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 10 tỷ USD. Nền kinh tế đã bắt đầu có
tích luỹ nội bộ. Xuất khẩu và nhập khẩu đã lấy lại thế cân bằng, dần dần biết
phát huy và tận dụng được lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Sản xuất nông nghiệp phát triển từ chỗ thiếu lương thực triền miên đến nay ta
đã đứng thứ hai trong số những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Theo số liệu thu thập được, ước tính chỉ số GNP của Việt nam đã tăng đáng
kể sau vài năm đổi mới:
Chỉ tiêu 1971 1983 1986 1996
động phải có trình độ cao. Để đáp ứng yêu cầu đó, ta phải đẩy mạnh phát triển khoa
học, giáo dục đào tạo, cũng như có những chính sách phát hiện, nuôi dưỡng và giữ
gìn nhân tài, tránh hiện tượng chảy máu chất xám.
Nước ta có vị trí vô cùng thuận lợi, đồng thời lại có nhiều danh lam thắng cảnh
đẹp được thế giới công nhận. Do đó, điều kiện để phát triển giao thông vận tải và du
lịch là rất lớn. Nhiều nước nói rằng họ "thèm" được có điều kiện như Việt nam về vị
trí địa lý, và nếu có được thì họ sẽ thu về một doanh thu khổng lồ từ ngành du lịch.
Nhưng hiện nay việc phát triển du lịch ở nước ta còn rất hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng. Điều đó đặt ra một yêu cầu nữa cho công cuộc phát triển kinh tế ở
nước ta: phải đẩy mạnh phát triển du lịch sao cho tương xứng với tiềm năng của
mình, tích cực thu ngoại tệ từ ngành du lịch để phát triển chính bản thân ngành cùng
nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế.
Người Việt nam được đánh giá là khéo léo. Ta có nhiều làng nghề thủ công mỹ
nghệ nổi tiếng như làng tranh Đông Hồ chẳng hạn. Nhiều nước tỏ ra ưa chuộng
hàng thủ công của ta, muốn đặt hàng cùng ta nhưng do hàng rào thuế quan, phong
cách quản lý gây khó khăn, cùng với việc "ngại" áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất truyền thống, khiến cho lượng hàng sản xuất ra ít, không đủ trang trải cho
những lệ phí phải chịu do thuế quan nên ta đã mất nhiều hợp đồng. Để đẩy mạnh sự
phát triển của các làng nghề thủ công như Đảng ta đã dự kiến đòi hỏi một sự đổi
mới toàn diện trong cách làm việc của những thợ giỏi, tăng hàm lượng khoa học kỹ
thuật trong sản xuất, không chỉ đơn thuần làm bằng tay như trước; đồng thời phải
làm giảm sự rối rắm trong hàng rào thuế quan, gây cản trở cho sự đầu tư của nước
ngoài vào Việ nam.
Nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành phần kinh tế, về
hình thức phân phối nhưng trong đó kinh tế quốc doanh vẫn phải giữ vai trò chủ đạo
và là nhân tố đảm bảo cho sự định hướng XHCN nền kinh tế thị trường. Do đó
muốn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thực sự thì phải nâng cao hiệu
quả sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước. Ta vẫn còn chịu ảnh hưởng của cơ chế
minh; còn cái riêng tồn tại trong mối liên hệ dẫn đến cái chung.
Với vai trò là một cái riêng, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
nam cũng tuân theo những quy luật chung mang tính bản chất của kinh tế thị
trường, đồng thời cũng chứa đựng những đặc điểm, bản sắc đặc trưng, vốn có, riêng
của Việt nam.
Chủ trương lãnh đạo của Đảng đã thể hiện sự sáng suốt trong nhận thức
nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều thiếu sót khiến cho kinh tế thị trường
nước ta chưa vận dụng được hết các lợi ích, cũng như khắc phục hoàn toàn những
nhược điểm của kinh tế thị trường nói chung, và chưa thể hiện được thành một nền
kinh tế thị trường hiện đại mang bản sắc của Việt nam. Trong việc quản lý vẫn còn
nhiều phiền hà, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc làm ăn. Vì thế
mà nhiều doanh nghiệp nước ngoài không muốn đầu tư vào Việt nam cho dù nhận
thấy một thị trường rộng mở, có nhiều tiềm năng để phát triển.
tài liệu tham khảo
Mai Ngọc Cường Lý thuyết hiện đại về kinh tế thị trường
Nguyễn Sinh Cúc Kinh tế thị trường định hướng XHCN NXBTK
Phạm Việt Đài Mặt trái của cơ chế thị trường
Giáo trình triết học Mác- Lênin NXBCTQG
Lê Trần Hảo Thống kê thương mại trong nền kinh tế thị trường NXBTK
Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội
V. I. Lênin Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường
Đặng Kim Nhung Chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế thị trư
ờng
và vận dụng vào Việt nam