Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 –
Đại học Kinh tế Quốc dân
1
Cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí,
thực tiễn và mối quan hệ với vấn đề tam nông
PGS.TS. Nguyễn Văn Song
Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Tóm tắt
Vấn đề tam nông đang được Đảng, Nhà nước và ngành nông nghiệp triển khai thực hiện nhằm tăng
cường đầu tư cho lính vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Chính sách miễn thuế nông nghiệp,
chính sách miễn thủy lợi phí là những chính sách hướng tới vấn đề này. Bài viết phân tích cơ sở kinh tế
của chính sách miễn thuế nông nghiệp, chính sách miễn thủy lợi phí đồng thời phân tích các thuận lợi,
khó khăn của quá trình thực thi hai chính sách này liên quan tới chủ trương về vấn đề tam nông.
Từ khóa:cơ sở kinh tế, miễn thuế, miến thủy lợi phí, tam nông.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã được đưa ra bàn thảo nhằm tìm hướng đi “công bằng’
và “bền vững cho khu vực đông dân nhất của Việt Nam. “Với 70% dân số, 57% lao động sinh
sống và làm việc ở khu vực nông thôn và nông thôn đang đóp góp 20% GDP” (Tăng Minh Lộc.
2007). Theo báo cáo của Bộ Tài Chính cho biết, tổng vốn đầu tư phát triển nông nghiệp nông
thôn ước tính chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu và chỉ chiếm khoảng 8,7% tổng đầu tư.
Nhìn vào danh mục 94 dự án trọng điểm quốc gia mời gọi vốn FDI trong giai đoạn 2006-2010
(gần 26 tỷ USD) thấy rất rõ sự mất cân đối giữa khu vực công nghiệp - xây dựng với khu vực
nông nghiệp - nông thôn. Trong danh mục này chỉ có 1 dự án dành cho nông nghiệp -chăn nuôi -
lâm nghiệp và 4 dự án dành cho thủy sản. Chúng ta chưa sản xuất được sản phẩm nông nghiệp
chuẩn mực vì chưa có nền sản xuất lớn, tập trung, chưa có các quy trình kỹ thuật chuẩn, chưa
kết nối được sản xuất và tiêu thụ Cho đến nay, 90% sản phẩm nông nghiệp vẫn bán ra ở dạng
thô và 60% sản phẩm bị bán ép với giá thấp. Sản xuất còn rất manh mún, nhỏ lẻ. Bình quân mỗi
hộ nông dân chỉ có 2,5 lao động (phần lớn là lao động nữ), và chỉ có khoảng 0,7ha canh tác.
nhất, biết tha thứ nhất
Thuế nông nghiệp đã được miễn giảm từ tháng 7 năm 2003 cho nông dân. Ngược lại, chính
sách miễn thủy lợi phí mới được thực hiện trong một vài năm gần đây cụ thể hóa bằng Nghị
định 154 (2007) và Nghị định 115 (2008) của Chính phủ. Theo đại diện Bộ Tài chính, việc thu
TLP không còn phát huy tác dụng. Cụ thể: năm 2006, cả nước chỉ thu được hơn 900 triệu đồng
TLP; trong khi tổng nợ đọng TLP trên toàn quốc lên tới 377 tỉ đồng. ước tính, mỗi năm nông
dân sẽ được hưởng lợi hơn 1.000 tỷ đồng nhờ chính sách này.
Mục đích của bài viết này là nhằm phân tích cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông
nghiệp, miễn thủy lợi phí, thực tiễn thực hiện miễn thủy lợi phí trong hai năm qua đối với nông
nghiệp và vấn đề tam nông do hai chính sách này mang lại.
2. NGUỒN SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
2.1 Nguồn số liệu thứ cấp (đã được công bố)
Để phân tích tình hình thực thi chính sách miễn thủy lợi phí ở các cấp nguồn số liệu tổng thể về
thuỷ lợi phí, các hoạt động của các tổ chức dịch vụ thuỷ lợi được điều tra từ các bộ phận như:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh thuộc
Đồng bằng Bắc bộ.
Nguồn số liệu sơ cấp (số liệu mới)
Nhằm phân tích tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của quá trình thực thi chính sách miễn thủy lợi
phí tới các cấp địa phương liên quan và hộ nông dân số liệu được điều tra điển hình thông qua
phỏng vấn trực tiếp các chủ nhiệm HTX dùng nước, các hộ nông dân thuộc bốn (4) tỉnh Đồng
bằng sông Hồng: Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Nam Định. Số mẫu đã điều tra là 32
HTX dùng nước, và 120 hộ nông dân được chọn ngẫu nhiên và phân tổ theo các tiêu chí khác
nhau nhằm phục vụ và làm nổi bật mục tiêu nghiên cứu đã được đề ra
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Phương pháp phân tích được chi làm hai phần: thứ nhất phần cơ sở kinh tế được phân tích dựa
trên các mô hình toán học; phần thứ hai, để phân tích tình hình thực thi chính sách miễn thuế,
thủy lợi phí và vấn đề tam nông, nghiên cứu sử dụng chủ yếu các phương pháp điều tra và phân
tích số liệu sau đây: Phương pháp hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, nhằm tính toán
giá thành một số sản phẩm chủ yếu trong nông nghiệp (lúa, rau màu ) nhằm tính được lợi ích
thuế
về S
sau khi miễn thuế
, mức sản lượng nông nghiệp vì vậy sẽ tăng lên từ Q
A
đến Q
*
,
như vậy mức an toàn lương thực sẽ cao hơn, sức cạnh tranh trong của sản phẩm nông nghiệp của
Việt Nam sẽ cao hơn do giá giảm từ P
t
về P*. Tỉ lệ thất nghiệp trong khu nông nghiệp và nông
thôn giảm do thu hút lao động vào trong ngành nông nghiệp. Đặc biệt, chính sách miễn thuế
nông nghiệp sẽ tạo ra phúc lợi xã hội nhiều hơn do giảm được phần mất trắng của xã hội (diện
tích có hình vảy cá). Một hạn chế duy nhất của miễn thuế nông nghiệp là Nhà nước không thu
được phần doanh thu thuế (diện tích hình viên gạch).
Như vậy, xét dưới góc độ của chính sách tam nông, miễn thuế sẽ khuyến khích phát triển nông
nghiệp, tăng phúc lợi cho khu vực nông thôn và đặc biệt tăng thu nhập cho nông dân và giảm
bớt tình trạng thiếu việc làm trong khu vực nông nghiệp hiện nay.
3.1.2 Ảnh hưởng thủy lợi phí nông nghiệp đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Nghị định số 154/2007/NĐ-CP (2007), Nghị định số 115/2008/NĐ-CP(2008) đã ban hành thống
nhất chính sách miễn thủy lợi phí cho nông nghiệp trong phạp vi toàn quốc. Trên cơ sở kinh tế
chính sách đã ảnh hưởng tới lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân như thế nào? Hình 2
thể hiện tác động của chính sách miễn thủy lợi phí tới nông nghiệp, nông thôn và nông dân như
sau:
ợng ng
ành
nông nghiệp
P
0
Hình 1. Miễn thuế nông nghiệp làm tăng sản lượng và tăng phúc lợi xã hội
P*
*Ph
ần mất trắng
phúc lợi xã hội
không còn sau
khi miễn thuế
nông nghiệp
P
S
A
B
C
Q*
S
sau khi miễn TLP
D
Giá P
Sản lượng ngành
sau miễn TLP
. Điều này sẽ dẫn tới giá nông sản hạ hơn so với giá thị
trường, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp. Cũng như miễn thuế nông nghiệp, một
lực lượng lớn lao động trong khu vực nông thôn sẽ được thu hút vào lao động trong khu vực
nông thôn. Nhưng xét dưới góc độ phúc lợi xã hội thì miễn thủy lợi phí sẽ gây ra tổn thất phúc
lợi cho toàn xã hội với hai lý do chính đó là phải tăng thuế từ các ngành khác để trang trải cho
chi phí thủy lợi phí, thứ nữa là tạo ra mức sản xuất Q
sau miễn TLP
không hiệu quả do chi phí xã hội
(điểm C) lớn hơn lợi ích xã hội điểm B.
Xét dưới góc độ của chính sách tam nông, chính sách miễn thủy lợi phí phân phối lại thặng dư
xã hội, tăng cường đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và tăng thu nhập cho khu vực
nông thôn. Nhưng xét dưới góc độ công bằng trong phân phối thu nhập và giảm khoảng cách
giàu nghèo thì chính sách này cần được nghiên cứu kỹ càng, và sẽ được phân tích trong phần
thực tiễn thực hiện.
3.2 Thực thi chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí và vấn đề tam nông
3.2.1 Chính sách miễn thuế nông nghiệp và vấn đề tam nông
Miễn thuế nông nghiệp đã được thùc hiện từ cuối năm 2003, chính sách này không những được
người nông dân (người được hưởng lợi trực tiếp) hưởng ứng và đồng tình ủng hộ mà còn tránh
được sự méo mó giá cả do thuế gây ra. Hàng ngàn tỉ thuế nông nghiệp trước đây phải đóng cho
Chính phủ này ở lại tái đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn và tăng thu nhập cho người
nông dân. Chính sách này đi đúng mong mong muốn của người dân và công bằng trong phân
phối lại phúc lợi xã hội.
3.2.2 Chính sách miến thủy lợi phí nông nghiệp và vấn đề tam nông.
3.2.2.1 Chi phí sản xuất của các hộ trước và sau chính sách miễn thuỷ lợi phí
Các hộ nhóm I (xem ghi chú của bảng 1) giảm 2,18% tương đương 20.000 đồng và nhóm II
giảm 17.440,0 đồng (tức giảm 1,81%). Theo kết quả điều tra,
mức độ giảm chi phí của các hộ
2.CP dịch vụ
430.000,0
447.200,0
442.000,3
430.000,2
1,04
0,97
3.Chi TLP Chưa miễn TLP
34.080,0
50.078,4
Chưa miễn TLP
935.430,0
982.768,9
948.350,4
964.569,8
1,05
1,02
Miễn TLP
915.430,0
965.328,9
929.850,4
Chỉ tiêu Số lượng (hộ) Cơ cấu (%)
Số hộ điều tra 120
100,0
Hộ có DT gieo trồng tăng lên 32
26,7
Hộ có DT gieo trồng giảm đi 9
7,5
Hộ có DT gieo trồng không đổi 79
65,8
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, 2009
Nguyên nhân của tình trạng này là do vì miễn TLP làm giảm ý thức sử dụng tiết kiệm nước của
người dân, gây lãng phí nước và gia tăng sự mất công bằng giữa các nhóm hộ trong việc sử dụng
nước. Những hộ ở đầu nguồn sử dụng lãng phí nước không cần biết những hộ cuối nguồn có
được cung cấp nước hay không. Ngoài ra, còn có hiện tượng nước đào xẻ, đắp chặn, dù đó là
kênh bê tông của một số người dân chỉ vì thiếu nước, thiếu kênh nội đồng; Do sự giảm sút về
thái độ phục vụ cũng như chất lượng phục tưới của các đơn vị cung ứng dịch vụ thủy lợi khi
miễn.
Bên cạnh đó chất lượng phục vụ tưới của các đơn vị cung ứng dịch vụ thuỷ lợi: Kết quả điều tra
cho thấy, khi chưa miễn TLP có 76,35% ý kiến cho rằng được cung cấp nước kịp thời và và
84,33% đầy đủ. Nhưng khi miễn TLP con số này chỉ là 23,65% và 15, 67%.Theo đánh giá của
người dân, nguyên nhân của tình trạng này là do miễn TLP các công ty không phải thu TLP của
dân nên không còn “ràng buộc” với dân nên họ mất “tiếng nói” trong việc đưa ra ý kiến liên
- T
ỉnh không phải
c
ấp kinh phí cho việc cấp
bù sau Nghị định 115
- Tri
ển khai thực hiện chính sách gặp nhiều
khó khăn, vướng mắc (thiếu văn bản hư
ớng dẫn,
không có sự phối hợp giữa các đơn vị quản lý)
- Cấp bù thuỷ lợi phí chậm và thi
ếu, không
đủ đầu tư cho thuỷ lợi
- Không đảm bảo công bằng giữa các v
ùng,
các đối tượng hưởng lợi.
Công ty KTCTTL
- Di
ện tích ký hợp
đ
ồng dịch vụ với công ty
tăng lên, t
ổng mức đạt
cao và ổn định (trên 90%)
- Ít phụ thuộc h
ơn
chính quyền địa phương
- Nguồn thu giảm, người dân không nộp
TLP
nội đồng
- Việc chậm trễ trong cấp bù TLP ảnh hư
ởng
đến hoạt động tưới, tiêu
-Chưa có văn bản hư
ớng dẫn cụ thể tới HTX
tạo nhiều vướng mắc trong thực thi
Người nông dân- Gi
ảm các khoản
đóng góp, gi
ảm chi phí
sản xuất
- Tăng thu nh
ập do
giảm chi một phần chi phí
- M
ất công bằng giữa các hộ trong sử dụng
nước (hộ giàu trồng nhiều hưởng lợi nhiều và h
ộ
nghèo; h
ộ có nhiều diện tích canh tác ở đầu nguồn
và cuối nguồn
- Hệ thống kênh mương không đ
ảm bảo, chất
cho chi phí thủy lợi, tạo ra sức ì trong sản xuất nông nghiệp.
Trong thực tế qua nghiên cứu quá trình thực thi chính sách miễn TLP có một số hạn chế bước
đầu nhận định như sau: Phân hóa giàu nghèo trong khu vực nông thôn sẽ cao hơn do người giàu
sẽ giàu hơn vì những người nông dân giàu thường canh tác và sản xuất nhiều hơn, sẽ được
hưởng lợi nhiều hơn từ chính sách này. Diện tích tưới tiêu bình quân tăng 4,6% nhưng chất
lượng phục vụ của các xí nghiệp đối với các hộ dân điều tra lại giảm sút, tưới tiêu đủ và kịp thời
được đạt 85% các hộ điều tra đánh giá là tương đương với trước khi thực thi chính sách.
Miễn thuỷ lợi phí các hộ dân sẽ được lợi là không phải đóng TLP nữa và bớt được một khoản chi
phí trong sản xuất (khoảng 3% trong tổng CPSX) và tăng thêm một phần thu nhập cho người dân.
Cụ thể đối với chi phí sản xuất lúa thì nhóm hộ nằm trong hệ thống tưới của công ty chi phí giảm
2,18% (giảm từ 935.430đ/sào xuống 915.430 đ/sào), hộ ngoài hệ thống tưới của công ty
giảm 1,81%, hộ đầu nguồn giảm 1,99%, hộ cuối nguồn chi phí giảm 1,71%. Và thu nhập của
các nhóm hộ đều tăng lên: Đối với nhóm hộ nằm trong hệ thống tưới của công ty tăng 20.000
đồng tương đương 2,88%, các hộ ngoài hệ thống tưới công ty tăng 3,11% (17.440,0 đồng).
Nhóm hộ đầu nguồn tăng 2,28%; nhóm hộ cuối nguồn tăng 3,34%. Tuy được hưởng lợi về một số
mặt nhưng quyết định sản xuất của các nhóm hộ lại có nhiều thay đổi. Đặc biệt đối với kết quả
điều tra về diện tích trồng cây vụ đông có sự sụt giảm mạnh, nhiều hộ đã giảm hoặc bỏ hẳn việc
trồng cây vụ đông do khó khăn về nước tưới (chiếm 28% tổng số hộ điều tra). Ngoài ra, chính
sách miễn TLP đã tác động làm giảm ý thức của các hộ nông dân gây ra tình trạng lãng phí nước,
sự mất công bằng giữa các nhóm hộ và làm hệ thống công trình thủy nông bị xuống cấp.
Như vậy, xét dưới góc độ quan điểm tam nông thì chính sách sách miễn thuế phù hợp hơn, tạo
công bằng hơn, không gây tổn thất cho xã hội hơn là chính sách miễn TLP. Chính sách miễn TLP
cần phải được hoàn thiện, chi tiết và cụ thể hóa để tránh hiện tượng người giàu trong nông thôn
được hưởng lợi nhiều hơn (do có nhiều vốn, đất đai lao động canh tác nhiều hơn) người nghèo (có
ít vốn, ít đất đai và lao động) điều này tạo ra khoảng cách giàu nghèo lớn hơn. Hiện tượng không
công bằng giữa các hộ có nhiều diện tích canh tác ở đầu hệ thống kênh mương và cuối hệ thống
Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 –
Đại học Kinh tế Quốc dân
8