Phần I: mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Nền kinh tế thế giới đang trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, có
thế nói đây là xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội loài ngời. Toàn cầu hóa mang lại
nhiều thời cơ nhng cũng đặt ra nhiều thách thức cho các quốc gia khi tham gia vào.
Một trong những thách thức ấy phải kể đến tính cạnh tranh ngày càng gay gắt, hay nói
cách khác là nâng cao khả năng cạnh tranh là điều quan trọng nhất, có ý sống còn đối
với mỗi doanh nghiệp cũng nh mỗi quốc gia. Làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh
tranh luôn là một câu hỏi lớn đối với các nhà kinh doanh thời đại hiện nay.
Từ nhiều năm nay, công nghiệp dệt may Việt Nam đợc xem là một trong những
ngành hàng xuất khẩu chủ lực và có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế đất n-
ớc. Kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng liên tục trong những năm gần đây. Có thể nói
đây là một ngành đầy tiềm năng và cần đợc quan tâm một cách xứng đáng. Song thực
trạng ngành dệt may Việt Nam lại còn nhiều vấn đề cần phải bàn. Theo Vinatex thì
ngành dệt may của nớc ta có những vấn đề còn tồn tại:
1. Các doanh nghiệp không am hiểu;
2. Cha xây dựng đợc thơng hiệu và mẫu còn yếu;
3. Ngành dệt quá yếu cha đáp ứng đợc nhu cầu của ngành may nên doanh thu
xuất khẩu của ngành may chỉ là doanh thu gia công cho nớc ngoài.
Trớc những vấn đề đặt ra nh vậy có thể nói nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng xuất khẩu dệt may là vấn đề bức xúc cần phải đợc quan tâm.
2.Mục đích của đề tài.
Bài viết sẽ phân tích sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh đối với hàng hóa
xuất khẩu nói chung và hàng xuất khẩu dệt may nói riêng. Đồng thời, chỉ ra thực trạng
khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam và một số phơng hớng giải
pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu dệt may của nớc ta.
1
3.Đối tợng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng ngành dệt may nớc ta trong hơn mời
năm trở lại đây và đặt nó trong bối cảnh chủ động mở cửa hội nhập kinh tế. Mặt khác,
tập trung vào một số đối thủ cạnh tranh chính của ngành dệt may nớc ta và một số điều
1.1.1Cạnh tranh:
Trong những năm đất nớc ta còn thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao
cấp hai tiếng cạnh tranh hầu nh không đợc nhắc đến, có chăng nó đợc nhắc đến nh là
một đặc điểm của các nớc t bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, cùng với quá trình thay đổi
nhận thức cơ chế thị trờng đợc hiểu đúng và tuân theo, thuật ngữ cạnh tranh đợc sử
dụng rất nhiều trên các phơng tiện truyền thông. Trong điều kiện ngay nay cạnh tranh
là môi trờng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nói đến cạnh tranh thờng có một cách hiểu rất giản dị về thuật ngữ này, đó là sự
ganh đua giữa một hoặc một nhóm ngời mà sự nâng cao vị thế của ngời này sẽ làm
giảm vị thế của những ngời tham gia còn lại. Trong kinh tế khái niệm cạnh tranh có
thể đợc hiểu là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố
sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trờng. Cạnh tranh có
thể mang lại lợi ích cho ngời này và thiệt hại cho ngời khác, song xét dới góc độ toàn
xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực ( nh giá cả rẻ hơn, chất lợng tốt hơn, dịch
vụ thuận tiện hơn...). Giống nh quy luật sinh tồn đào thải trong tự nhiên đã đợc Darwin
phát hiện. Quy luật của cạnh tranh là thải loại những thành viên yếu kém trên thị tr-
ờng, duy trì và phát triển những thành viên tốt nhất và qua đó hỗ trợ đắc lực cho quá
trình phát triển toàn xã hội.
Cạnh tranh là một trong những đặc trng cơ bản và là động lực phát triển toàn xã
hội. Không có cạnh tranh thì không có cơ chế thị trờng. Trong nền kinh tế thị trờng,
khả năng cạnh tranh là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp. Kết quả của cạnh
tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng. Cạnh tranh quan trong nh vậy
nhng việc có một định nghĩa thống nhất về cạnh tranh lại cha thực hiện đợc. Sở dĩ vấn
4
đề này khó khăn nh vậy là do cạnh tranh đợc sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh
nghiệp, các ngành, các quốc gia nhng mục tiêu cơ bản lại đợc đặt ra khác nhau tùy
thuộc vào góc độ xem xét của doanh nghiệp hay quốc gia.
1.1.2Khả năng cạnh tranh:
Gắn liền với thuật ngữ cạnh tranh, thuật ngữ khả năng cạnh tranh cũng đợc sử
dụng rất rộng rãi và cũng cha có sự nhất trí của các học giả và giới chuyên môn về
lớp và giảng dạy trực tiếp. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin dờng nh
càng tiếp sức cho loại hình dịch vụ thay thế này.
Mặt khác đối với một doanh nghiệp trong điều kiện công nghệ thông tin nh ngày
nay thì việc xác định khả năng cạnh tranh còn thể hiện ở một số điểm sau:
Một là, khả năng nắm bắt thông tin đầy đủ: Đó là những thông tin về khả năng
của hàng hóa dịch vụ cùng loại theo những tiêu chuẩn đợc coi là có khả năng cạnh
tranh trong sự biến động không ngừng; về tình hình cung cầu giá cả; về công nghệ
thích hợp mới; về hoạt động và cả thủ đoạn của các đối thủ cạnh tranh; về luật lệ, cơ
chế chính sách của nớc mình cũng nh các tổ quốc tế hữu quan và các nớc, doanh
nghiệp có quan hệ giao dịch... Trong thời đại thông tin ngày nay các doanh nghiệp còn
cần phải vơn lên nắm vững và sử dụng thành thạo các phơng tiện thông tin hiện đại kể
cả thơng mại điện tử để phục vụ cho hoạt động giao dịch, kinh doanh của mình.
Hai là, biết cách tiếp thị, chủ động xông ra thị trờng, tham gia các hoạt động
xúc tiến thơng mại, tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng có lợi nhất.
Ba là, khả năng hợp tác hữu hiệu với các doanh nghiệp hữu quan.
Trong một thế giới có sự cạnh tranh khốc liệt thì việc bảo đảm chữ tín có ý
nghĩa hàng đầu: cung cấp sản phẩm và dịch vụ đúng thỏa thuận cả về chất lợng lẫn
thời gian.
1.2.2 Bản chất sức cạnh tranh của hàng hóa.
6
Sức cạnh tranh của hàng hóa là tính hữu hiệu của quá trình khai thác lợi thế so
sánh với sản phẩm cùng loại trên cùng một thị trờng và một khoảng thời gian xác định.
Trong môi trờng quốc tế sức cạnh tranh là kết quả tổng hòa sức cạnh tranh của doanh
nghiệp, của ngành và quốc gia.
Bản chất sức cạnh tranh của hàng hóa là quá trình chuyển hóa lợi thế của sản
phẩm thành hiện thực, mà những lợi thế này có đợcdo lợi thế so sánh tạo nên, mặt
khác do tác động của chính sách các quy định của chính phủ tạo ta.
1.2.3Các yếu tố ảnh hởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm.
Các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh;
Những lý giải phổ biến nhất của lý thuyết lợi thế so sánh là sự khác nhau giữa
doanh nghiệp Việt Nam sẽ là tăng hiệu quả hoạt động để cố gắng tiếp cận với thực tiễn
tốt nhất của quốc tế trong các lĩnh vực nh quy trình sản xuất, công nghệ và khả năng
quản lý.
Khía cạnh thứ hai của của việc cải tiến doanh nghiệp liên quan đến các loại hình
chiến lợc mà doanh nghiệp đang sử dụng. Hiện nay, ở Việt Nam đang tồn tại một xu
hớng cạnh tranh dựa trên mức lơng thấp và các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các
doanh nghiệp dựa nhiều vào khách hàng và đối tác nớc ngoài nhằm cung cấp thiết kế,
linh kiện, công nghệ, phân phối, và thị trờng. Kết quả cuối cùng của các chiến lợc này
là năng suất thấp. Nếu Việt Nam muốn chuyển dịch sang sang một nền kinh tế cạnh
tranh và với mức sống cao hơn thì các chiến lợc này cần phải thay đổi.
Lợi thế phải chuyển từ lợi thế so sánh (bằng lao động rẻ tiền và các nguồn tài
nguyên thiên nhiên) sang lợi thế cạnh tranh dựa trên năng lực đổi mới của các doanh
nghiệp và khả năng của chúng trong việc nâng cấp hoặc thay đổi các sản phẩm và quy
trình.
8
Một số thay đổi trong chiến lợc doanh nghiệp là cần thiết, và chúng ta sẽ xem
xét những thay đổi này chi tiết hơn trong các phần.
Môi trờng kinh doanh: Mọi thay đổi trong hoạt động và chiến lợc của doanh
nghiệp phụ thuộc vào các thay đổi song song của môi trờng kinh doanh để đạt đợc
cạnh tranh tổng thể tốt hơn trong nền kinh tế. Một số yếu tố quan trọng cần phải đợc
xem xét trong môi trờng kinh doanh là:
Thơng mại và đầu t: liên quan đến mức độ hội nhập của Việt Nam vào nền kinh
tế quốc tế và xu hớng đối với đầu t. Các chủ đặc thù đợc xem xét là hàng rào mậu
dịch, các hiệp định thơng mại, xúc tiến đầu t, xúc tiến thơng mại, chính sách đầu t nớc
ngoài, và quy định về các thủ tục.
Tài chính nhấn mạnh đến chất lợng và sự hoàn hảo của các ngân hàng vào thị tr-
ờng vốn ở Việt Nam, cung cấp nguồn vốn tiết kiệm trong nớc và hiệu quả của các
trung gian tài chính trong việc hớng các dòng vốn vào những mục đích sinh lợi nhất.
Cải tổ doanh nghiệp quan tâm tới các chính sách liên quan đến sự phát triển các
doanh nghiệp nhà nớc và doanh nghiệp t nhân cũng nh việc thiết lập một hệ thống
trọng bởi lẽ xã hội càng hiện đại thì tâm lý của ngời tiêu dùng càng ổn định. Tức là ng-
ời tiêu dùng có xu hớng chọn cho mình một nhãn hiệu hàng hóa đáng tin cậy. Nếu nh
thơng hiệu không đợc xây dựng đăng ký đúng quy định sẽ không bao giờ có đợc sự tin
tởng của khách hàng.
Uy tín của hàng hóa.
Trong một thế giới có sự cạnh tranh khốc liệt thì việc đảm bảo chữ tín có ý
nghĩa hàng đầu: cung cấp sản phẩm và dịch vụ đúng thỏa thuận cả về chất lợng lẫn
thời gian. Bởi lẽ thời gian trong kinh doanh thực sự là vàng. Những hành động gian
lận, bất tín chỉ có thể đem lại lợi ích nhỏ nhoi trớc mắt nhng nhất định sẽ làm cho
10
doanh nghiệp thiệt hại to lớn và lâu dài, mất bạn hàng và chỗ đứng trên thơng trờng;
đó là cha kể đến sự thiệt hại đối với uy tín của cả quốc gia.
2.Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu dệt
may của Việt Nam.
2.1Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may.
2.1.1 Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với thế giới.
Ngành dệt may là một trong những ngành công nghiệp đầu tiên của thế giới
cùng với quá trình phát triển do đặc điểm của mình ngành này đã chuyển dần từ những
nớc có công nghệ cao phát triển sang những nớc đang phát triển đi sau. Những nớc
phát triển trở thành những nớc nhập khẩu hàng dệt may, bởi ngành nay là ngành đòi
hỏi nhiều lao động và công nghệ không phải là cao.
Trang phục của con ngời ngày nay không đơn thuần chỉ phục vụ cho nhu cầu
mặc của con ngời mà đã thực sự trở thành văn hóa trở thành thứ phục vụ cho nhu cầu
làm đẹp của con ngời. Thu nhập của con ngời càng cao nhu cầu may mặc cũng ngày
càng tăng, bởi vậy không có gì ngạc nhiên khi các nớc đang phát triển đặc biệt là các
nớc đang phát triển châu á đã trở thành nhà may khổng lồ của thế giới.
Xuất khẩu hàng dệt may đã trở thành ngành công nghiệp chủ chốt của hầu hết
các nớc NiCs và các nớc đang phát triển khác. Bởi nó đáp ứng đợc nhu cầu tạo việc
làm cho lực lợng đông đảo của các nớc này, nó càng quan trọng hơn nữa khi đặc điểm
của nó lại còn phù hợp với lao động nữ.
Trong ngành này Việt Nam có nhiều lợi thế so sánh đặc biệt là về giá nhân
công.
2.2Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu
trong giai đoạn hiện nay đối với Việt Nam.
2.2.1 Cạnh tranh là tất yếu trong một nền kinh tế thị trờng.
12
Cạnh tranh trong giai đoạn hiện nay là tất yếu bởi lẽ mở cửa hội nhập trong
điều kiện tự do hóa thơng mại là phải tiếp xúc với các nhà cung cấp cùng loại sản
phẩm trên toàn thế giới. Hàng hóa của mình đợc so sánh trực tiếp hay gián tiếp với rất
nhiều các sản phẩm trên khắp thế giới, vì vậy nếu không cạnh tranh thì không thể tồn
tại đợc.
Mặt khác trong cơ chế thị trờng hầu hết các hoạt động kinh tế đợc xác định qua
thị trờng và hành vi ngời tiêu dùng đợc coi là tiêu chuẩn để hoạch định chính sách hoạt
động của doanh nghiệp. Hay nói cách khác là mọi nhà sản xuất sẽ phải cố gắng để
khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình tức là tìm cách tăng thị phần của mình trên
thị trờng. Sự cố gắng này của mỗi doanh nghiệp khiến họ phải tiếp xúc phải cạnh tranh
với nhau.
2.2.2 Thực trạng cạnh tranh hiện nay của Việt Nam còn yếu kém
Khả năng cạnh tranh quan trọng nh vậy nhng thực tế khả năng cạnh tranh của
hàng hóa Việt Nam lại còn yếu.
Bảng1: Thứ hạng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam (1997-2001)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001
Thứ hạng 49/53 39/53 48/59 53/59 62/75
Qua bảng trên ta thấy năm 1997, Việt Nam đợc đứng thứ 49/53 về năng lực cạnh tranh
của hàng hóa, năm 1998 thứ hạng này đợc tăng lên là 35/53 nhng năm 1999 thứ hạng
này lại giảm xuống gần nh cũ. Điều đó chứng tỏ thứ hạng của nớc ta sở dĩ tăng là do các
nớc trong khu bị ảnh hởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính. Với tình hình trên
có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi để duy trì và nâng cao khả
năng cạnh tranh các sản phẩm và dịch vụ của mình vì nhiều yếu tố nh khả năng tiếp cận
thị trờng vốn, công nghệ, ngoại tệ, chi phí các dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng.