Phần I : Lời mở đầu
Trong những năm qua tình hình thế giới có nhiều biến động và gây ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Song với đường lối đúng đắn của Đảng và
sự chỉ đạo của chính phủ nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích
lệ, với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 7,5% trong giai đoạn 2005-2009 và liên tục xếp
thứ hai trên thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Việt Nam dần dần khẳng định
được vị thể của mình trong khu vực cũng như thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp, các Công ty mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá giữa các nước, các vùng kinh tế khác
nhau vận tải luôn đóng một vai trò quan trọng. Ngày nay, vận tải đường biển chiếm
vai trò quan trọng so với những ngành vận tải khác, khối lượng hàng hóa xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển chiến tỷ trọng lớn và đang có xu hướng tăng
lên. Nắm bắt được xu thế này trong những năm qua tập đoàn VinaShin đã không
ngừng đầu tư cho các đơn vị thành viên mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhận được
sự giúp đỡ đó, công ty Vinashin New World đã ra đời và đã không ngừng mở rộng
sản xuất kinh doanh và đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực dịnh vụ vận
tải đường biển.
Sau thời gian đi thực tập em đã chọn đề tài ” Thực trạng dịch vụ vận tải biển
của công ty Vinashin New World”. Một lĩnh vực mà Công ty đang có nhu cầu mở
rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong thời gian tới.
Trong quá trình thực tập được sự hướng dẫn, chỉ đạo rất tận tình của các anh
chị trong phòng KH-KD và của PGS.TS Nguyễn Như Bình. Song do sự hiểu biết
của bản thân về Công ty chưa được sâu sắc và toàn diện, với kinh nghiệm thực tế
chưa nhiều do vậy trong báo cáo thực tập không thể tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy,
rất mong các Anh, Chị trong phòng, thầy cô và độc giả quan tâm đến đề tài này
góp ý để bài viết của em hoàn thiện hơn
Chương I: Giới thiệu chung công ty Vinashin new world
1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
Cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 phương thức vận tải bằng
đường biển đang được phát triển mạnh mẽ ở các nước tiên tiến trên thế giới do
được đánh giá là một trong những phương tiện tiên tiến và đạt hiệu quả cao về mọi
nguồn hàng vận chuyển giải quyết công ăn việc làm cho đội ngũ
thuyền viên dự trữ
Nghiên cứu trình cấp trên về kế hoạch đầu tư đổi mới trang thiế
bị,phương tiện, xây dựng phương pháp lao động hợp lý hơn, ứng
dụng thông tin tin học vào sản xuất kinh doanh.
Tổ chức quản lý lực lượng lao động của Công ty một cách khoa học,
triệt để và hiệu quả, giáo dục bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề
và năng lực quản lý của cán bộ thuyền viên của Công ty. Đồng thời
chăm lo đến đời sống vật chất cho người lao động.
Chấp hành đầy đủ đường lối, chế độ chính sách pháp luật của đảng,
nhà nước, nội quy kỷ luật của xí nghiệp. Đảmbảo an tàon lao động,
vệ sinh môi trường, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và trật tự an toàn
trong nội bộ Công ty
1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty
Giám đốc là người lãnh đạo có quyền cao nhất trong công ty, chỉ đạo sự hoạt động
của toàn công ty và chịu trách nhiệm cao nhất trước nhà nước về hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty
Giám đốc: Trương Quốc Long
Phòng khai thác: có nhiệm vụ lập kế hoạch khai thác, tổ chức vận chuyển, đề xuất
các phương án vận chuyển sao cho có lợi nhất
Trưởng phòng khai thác : Ngô Xuân Trường.
Phòng Marketing: có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thị trường, tìm
nguồn hàng, liên hệ với chủ hàng, giúp chủ hàng làm các thủ tục xuất nhập khẩu,
thu thập chứng từ hoá đơn
Trưởng phòng Marketing: Nguyễn Thị Hợi
Giám đốc
Phòng khai
thác
Phòng
Tiền mặt + gửi
NH
6.514.736 12.617.831 8.662.292
Khoản phải thu 8.437.360 4.543.969 81.835.268
Hàng tồn kho 2.494.023 4.429.834 6.808.493
TSLĐ khác 3.445.000 4.602.336 7.171.035
B:TSCĐ- ĐTDH 50.230.968 53.859.478 87.895.531
*TSCĐ 32.365.432 35.371.203 43.290.139
*Đầu tư TC 10.491,104 12.009.125 24.495.203
*TS dài hạn khác 7.374.432 6.479.150 20.110.189
Tổng tài sản 71.122.774 80.050.616 119.372.074
Nguồn : KH-KD Đơn vị tính: 1000 đồng
Nhận xét chung : Nhìn vào bảng phân tích tình hình tài sản của Công ty ta thấy
tài sản qua các năm đều tăng lên. Năm 2007, tổng tài sản của Công ty là 71,122 tỷ
đồng nhưng đến năm 2008 con số đó đã lên tới 80,050 tỷ đồng tăng gần 9 tỷ so với
2007 tương ứng 12,5%. Trong đó chủ yếu là tăng tài sản lưu động và đến năm
2009 tổng tài sản là 119,372 tỷ đồng tăng 39,32 tỷ đồng tương ứng với 49,12 % so
với năm 2008. Năm2009 công ty mạnh dạn mở rộng quy mô hoạt động sản xuất
vào cuối năm nên mua thêm trang thiết bi, máy móc, phương tiện vận chuyển do
đó tài sản năm 2009 tăng mạnh so với năm 2008 và 2007.
1.3.2. Tình hình nguồn vốn của công ty
Bảng 2: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Chỉ tiêu Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
A.Nợ phải trả 23.316.467 24.566.127 42.745.431
Nợ ngắn hạn 2.917.850 5.539.385 10.388.298
Nợ dài hạn 17.164.975 14.789.000 22.637.442
Nợ khác 3.233.642 4.237.742 9.719.691
Công ty là một công ty lớn hoạt động đa ngành vì vậy mà số lượng công nhân
viên của công ty tương đối đông hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau với các
trình độ tay nghề khác nhau và nó đựơc thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3: Nguồn nhân lực của công ty
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số
Lượng
%
Số
Lượng
%
Số
Lượng
%
Tổng số lao động 65 100 88 100 106 100
Theo giới tính
Lao động nữ
Lao động nam
25
40
38,
4
61,
6
35
53
39,7
603
49
57
16
23,5
37,7
23,5
15,3
(Nguồn phòng KH-KD) Đơn vị:Người
Nhận xét chung: Nhìn vào bảng số lượng lao động của công ty ta thấy số lượng
lao động của công ty tăng đều qua các năm. Năm 2008 so với năm 2007 tổng số
lao động trong công ty tăng 23 người tương ứng với 35,3%. Nhưng đến năm 2009
số lao động của công ty lại tăng 18 người tương ứng với 20,45 % so với năm 2008.
Tốc độ tăng năm 2008 so với 2007 lớn hơn do trong năm 2008 công ty mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh sang những thị trường lân cận và phạm vi hoạt động
của ngành dịch vụ vận tải biển rộng hơn nên đã tuyển một lượng lớn công nhân
viên để đáp ứng nhu cầu đó. Còn năm 2009 tuy hoạt động kinh doanh gặp nhiều
khó khăn nhưng số lao động tại công ty vẫn tăng lên, tuy tốc độ tăng không bằng
năm 2008 nhưng con số trên khá lạc quan thể hiện công ty đang hoạt động rất hiệu
quả.
Do công ty hoạt động trong lĩnh vực vận tải và do đặc điểm nghề nghiệp nên
phần lớn lao động của công ty là Nam còn lao động Nữ chiếm tỷ lệ rất ít. Phần lớn
số lao động Nữ này đều là lao động gián tiếp hay lao động làm việc trong lĩnh vực
thương mai của công ty. Năm 2008 lao động nữ tăng 40% so với 2007 còn năm
2009 tăng 40% so với 2008. Tốc độ tăng lao động nữ rất ổn định cho thấy không
có nhiều biến động trong lĩnh vực thương mại của công ty mặc dù hoạt động sản
xuất kinh doanh đã được mở rộng. Còn lao động Nam tốc độ tăng không đều qua
các năm. Năm 2008 tăng 32,5 % so với năm 2007 còn năm 2009 chỉ tăng 7,5 % so
với năm 2008. Giải thích cho tốc độ tăng năm 2009 chậm hơn so với năm 2008 là
do năm 2009 công ty thu hẹp phạm vi hoạt động của ngành dịch vụ vận tải
biển,phần khác do những hợp đồng sửa chữa tàu biển bị hủy bỏ nên lượng lao động
Nam tăng không đáng kể.
Qua bảng số liệu ta cũng thấy được số lao động có trình độ của công ty cũng
Diện tích khác
87580
1479
3804
1500
2099
849
1229
24500
580
944
578
740
500
300
19,9
39,5
24,8
38,7
35,2
58,4
24,41
Tổng
98540 28142 28,55
Nguồn: Phòng KH-KD Đơn vị: m
2
Nhận xét chung : Công ty Vinashin New World hoạt động sản xuất trên nền
diện khoảng 9,85ha bao gồm cả diện tích mặt nước và diện tích đất liền. Chiếm
phần lớn diện tích mà công ty đang sở hữu là diện tích mặt nước với việc hoạt
động của các khu cảng biển. Những cảng này phục vụ cho các tàu bè chung
Phõn tớch chi tit cỏc tm quan trng, trng im xỏc nh tim
nng ca doanh nghip v cỏc vn t chc qun lý iu hnh s
dng cỏc yu t trong quỏ trỡnh sn xut cỏc iu kin sn xut.
xut ra cỏc bin phỏp v k thut t chc khai thỏc tt tim
nng ca doanh nghip ỏp dng trong thi gian ti nhm phỏt trin
sn xut, nõng cao hiu qu bo m cỏc li ớch doanh nghip nh
nc ngi lao ng.
Làm cơ sở cho những kế hoạch chiến lược về phát triển của doanh
nghiệp trong tương lai và về các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật cho những kì
kế tiếp.
Tóm lại có thể phát biểu ngắn gọn mục đích của phân tích hoạt động kinh tế
là nhằm xác định tiềm năng của doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp để khai
thác tốt nhất những tiềm năng ấy.
Ý nghĩa:
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là công cụ của hoạt động nhận
thức về các vấn đề kinh tế doanh nghiệp. Do vậy nó có ý nghĩa rất quan trọng đối
với doanh nghiệp nói chung, cá nhân những người làm kinh tế doanh nghiệp nói
riêng. Nếu phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp diễn ra thường xuyên chất
lượng tốt thì sẽ giúp cho nhà lãnh đạo nhận thức đúng đắn về các yếu tố sản xuất
của doanh nghiệp về tổ chức điều hành sản xuất, về các điều kiện kinh tế liên quan
…từ đó đưa ra các quyết định phù hợp, khả thi góp phần định hướng, hướng dẫn các
hoạt động quản lý doanh nghiệp nhờ đó làm cho doanh nghiệp phát triển không
ngừng với hiệu quả kinh tế cao và ngược lại.
Chính vì tầm quan trọng của phân tích hoạt động kinh tế mà doanh nghiệp
và các cá nhân lãnh đạo doanh nghiệp đã đang và sẽ không ngừng phân tích hoạt
động kinh tế doanh nghiệp một cách thường xuyên liên tục sâu sắc và triệt để.
2.1 Dịch vụ vận tải biển và vai trò của nó trong phát triển kinh tế
Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác. Ngay
từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến
đường giao thông để giao lưu các vùng, các miền, các quốc gia khác nhau trên thế
hàng không). Trong chuyên chở hàng hoá giá thành vận tải đường biển chỉ
cao hơn giá thành vận tải đường ống còn thấp hơn nhiều so với các phương
tiện khác. Nguyên nhân chủ yếu là trọng tải tàu biển lớn, cự ly chuyên chở
trung bình dài, năng suất lao động cao. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật và
hoàn thiện cơ chế quản lý trong ngành vận tải đường biển, hiệu quả kinh tế
chắc chắn ngày một tăng lên.
Từ những đặc điểm trên của vận tải đường biển ta có thể rút ra kết luận một cách
tổng quát về phạm vi áp dụng như sau:
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế.
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn,
chuyên chở cự ly dài nhưng không đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh chóng.
2.1.1.2 Tác dụng của vận tải đường biển.
Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời thương mại quốc tế:
Thương mại quốc tế và vận tải nói chung, vận tải đường biển nói
riêng có mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau. Vận tải được phát
triển trên cơ sở sản xuất và trao đổi hàng hoá. Ngược lại vận tải phát
triển sẽ làm giảm giá thành chuyên chở, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, tự do hoá thương mại, thúc
đẩy sản xuất phát triển. Thực tiễn trong thương mại cho thấy, hợp
đồng mua bán hàng hoá có vai trò quan trọng và liên quan chặt chẽ
đến hợp đồng vận tải thậm chí bao gồm cả hợp đồng vận tải bởi vì
hợp đồng mua bán hàng hoá là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa
người bán và người mua còn hợp đồng vận tải điều chỉnh quan hệ
giữa người thuê chở và người chuyên chở mà người thuê chở là
người bán hoặc người mua lại phụ thuộc vào quy định của hợp đồng
mua bán.
Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển: Khối lượng
hàng hoá lưu chuyển giữa hai nước phụ thuộc vào nhiều điều kiện:
tiềm năng kinh tế của hai nước, sự chuyên môn hóa và hợp tác hóa
sản xuất của mỗi nước trong phân công lao động quốc tế, tình hình
thụ sản phẩm của mình ở những thị trường xa xôi. Ngược lại nước
nhập khẩu có điều kiện lựa chọn thị trường cung cấp hàng hóa rộng
rãi hơn. Sự mở rộng thị trường và thay đổi cơ cấu thị trường trong
buôn bán quốc tế được thể hiện ở cự ly chuyên chở trung bình trong
vận tải đường biển quốc tế ngày càng tăng lên. Năm 1980 cự ly
chuyển chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế là 3.601 hải
lý, năm 1985 là 3.967 và năm 1990 là 4.285 hảo lý( 1 hải lý =
1,85km).
Vận tải đường biển tác động đến cán cân thanh toán quốc tế: Vận tải
đường biển có tác dụng ảnh hưởng tích cực hoặc làm xấu đi cán cân
thanh toán, chức năng phục vụ thể hiện ở chỗ vận tải quốc tể đảm bảo
nhu cầu chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi nước. Chức
năng kinh doanh thể hiện trong việc thực hiện xuất khẩu sản phẩm
vận tải đường biển. Xuất khẩu sản phẩm vận tải là một hình thức xuất
nhập khẩu vô hình rất quan trọng. Thu chi ngoại tệ về vận tải đường
biển và các dịch vụ liên quan đến vận tải đường biển là một bộ phận
quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế. Phát triển vận tải đặc
biệt là phát triển đội tàu buôn có tác dụng tăng thêm nguồn thu ngoại
tệ bằng cách hạn chế nhập khẩu sản phẩm vận tải. Do đó vận tải ảnh
hưởng tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế. Nếu vận tải đường
biển của một nước không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở hàng
hóa ngoại thương thì phải chi ra một lượng ngoại tệ nhất định để
nhập khẩu sản phẩm vận tải. Sự thiếu hụt trong cán cân xuất nhập
khẩu sản phẩm vận tải ảnh hưởng đến cán cấn thanh toán quốc tế.
Trái lại dư thừa cán cân thanh toán về vận tải có thể bù đắp một phần
thiếu hụt trong cán cân mậu dịch nói riêng và cán cân thanh toán
quốc tế nói chung.
2.1.1 Dịch vụ vận tải
2.1.1.1 Khái niệm.
Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các
Vận tải không có khả năng dự trữ sản phẩm.
2.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển
2.1.3.1 Tuyến đường biển
Từ lâu loài người đã biết lợi dụng đại dương làm tuyến đường giao thông để
chuyên chở hành khách và hàng hoá giữa các nước với nhau. Các tuyến đường vận
tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên ( trừ việc xây dựng
các hải cảng, kênh đào quốc tế) do đó không đòi hỏi phải đầu tư về tiền vốn,
nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng và bảo quản các tuyến đường vận tải
đường biển. Đây là những nguyên nhân làm cho giá thành vận tải đường biển thấp
hơn so với các phương tiện khác. Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển là
rất lớn. Nói chung năng lực chuyên chở vận tải đường biển không hạn chế như các
vận tải khác. Tuy nhiên đường biển luôn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tự
nhiên:...Những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển thường gây ra những tổn
thất rất lớn cho tàu, hàng hoá và sinh mạng con người. Những rủi ro, tổn thất trong
vận tải đường biển đang được khắc phục dần bằng những phương tiện kỹ thuật
hiện đại.
2.1.3.2 Cảng biển
Cảng biển gắn liền với sự phát triển của ngành hàng hải. Trước đây cảng biển chỉ
được coi là nơi tránh gió to bão lớn của các loại tàu bè. Trang thiết bị của cảng lúc
bấy giờ rất đơn giản và thô sơ. Ngày nay, cảng biển không chỉ là nơi bảo vệ an
toàn cho tàu biển trước các hiện tượng thiên nhiên bất lợi mag trươc hết cảng biển
là một đầu mối giao thông, một mắc xích quan trọng của quá trình vận tải. Cảng
biển thực hiện các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Do đó, kỹ thuật xây dựng
trang thiết bị, cơ cấu tổ chức của cảng cũng khác nhau và ngày càng được hiện đại
hóa.
Cảng là nơi ra vào, neo đậu của tàu thuyền, là nơi phục vụ tàu và hàng hoá
chuyên chở trên tàu, là đầu mối giao thông chuyên chở trong hệ thống vận tải. Dọc
bờ biển Việt Nam hiện nay đã hình thành gần 80 hải cảng lớn, nhỏ với tổng năng
lực thông qua cảng trên 50 triệu tấn/năm.
Cảng biển có hai chức năng chủ yếu:
- Thiết bị kỹ thuật phục vụ tàu ra vào, tàu chờ đợi, tàu neo đậu.nhóm thiết bị này
gồm: luồng lạch, hệ thống phao tiêu, tín hiệu, phao nổi, cầu tàu...
- Thiết bị phục vụ kỹ thuật, phục vụ công nghiệp xếp dỡ hàng hoá lên xuống công
cụ vận tải và ở trong kho bãi của cảng. Thiết bị xếp dỡ là yếu tố kỹ thuật quan
trọng nhất trong hpạt động sản xuất kinh doanh của cảng. Nó quyết định năng suất
xếp dở, khả năng thông qua về tàu và hàng hoá của cảng.
Hệ thống đường giao thông trong phạm vi cảng và cách nối liền các hệ thống vận
tải thống nhất như thế nào quyết định phạm vi hậu phương phục vụ của cảng.
Thông thường trong một cảng có hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và
công cụ vận chuyển hàng từ vào hậu phương và ngược lại.
Các thiết bị nổi trên phần mặt nước của cảng như: phao nổi, cầu nổi, cần cầu nổi,
tàu hoa tiêu....
Các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác liên lạc, ánh sáng, cung cấp nước, nhà
làm việc, câu lạc bộ thuỷ thủ...khi tổ chức chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu và
thuê tàu, bắt buộc chúng ta phải nguyên cứu kỹ các đặt điểm của trang thiết bị
cảng.
2.1.3.4 Phương tiện vận chuyển.
Phương tiện vận chuyển bằng đường biển là tàu biển.
Tàu buôn là tàu biển được dùng vào mục đích kinh doanh trong hàng hải. Tàu
buôn gồm: tàu vận tải hàng hoá, tàu vận tải hành khách, tàu đánh cá, tàu hoa tiêu,
tàu nghiên cứu khoa học...
Trên thế giới trong những năm gần đây, đội tàu buôn tăng lên không ngừng về số
lượng, trọng tải và thay đổi nhiều về chất lượng.
Xu hướng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đội tàu buôn thế giới được thể hiện
trong việc thay đổi về động cơ và nhiên liệu dùng trong hàng hải. Tăng tỷ trọng tàu
chạy bằng động cơ diêzen và giảm tỷ trọng tàu chạy bằng động cơ hơi nước.
Đội tàu buôn thường được chuyên môn hoá và kết hợp với tổng hợp hoá. Sự ổn
định nguồn hàng trong các tuyến chuyên chở đã tạo điều kiện cho việc chuyên môn
hoá các loại tàu buôn như: Tàu chở dầu, tàu chở hơi đốt dạng lỏng, tàu container,
tàu chở ôtô...bên cạnh đó, trong hàng hải thế giới vẫn phát triển xu hướng đóng và