TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ QUỐC TẾ
**********************
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài:
Thực trạng dịch vụ vận tải biển của công ty Vinashin New World
Giáo viên hướng dẫn : ThSNguyễn Như Bình
Sinh viên thực hiện : Tống Phú Hiệu
MSSV : CQ480894
Lớp : Kinh tế quốc tế B
Khóa : 48
Hà Nội, 05/2010
Phần I : Lời mở đầu
Trong những năm qua tình hình thế giới có nhiều biến động và gây ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Song với đường lối đúng đắn của Đảng và
sự chỉ đạo của chính phủ nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích
lệ, với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 7,5% trong giai đoạn 2005-2009 và liên tục xếp
thứ hai trên thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Việt Nam dần dần khẳng định
được vị thể của mình trong khu vực cũng như thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp, các Công ty mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá giữa các nước, các vùng kinh tế khác
nhau vận tải luôn đóng một vai trò quan trọng. Ngày nay, vận tải đường biển chiếm
vai trò quan trọng so với những ngành vận tải khác, khối lượng hàng hóa xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển chiến tỷ trọng lớn và đang có xu hướng tăng
lên. Nắm bắt được xu thế này trong những năm qua tập đoàn VinaShin đã không
ngừng đầu tư cho các đơn vị thành viên mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhận được
sự giúp đỡ đó, công ty Vinashin New World đã ra đời và đã không ngừng mở rộng
sản xuất kinh doanh và đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực dịnh vụ vận
tải đường biển.
Sau thời gian đi thực tập em đã chọn đề tài ” Thực trạng dịch vụ vận tải biển
mà còn hoạt động nhiều ngành nghề khác
Tên và địa chỉ của công ty.
+ Tên giao dịch : Công ty Vinashin New World
+ Điện thoại: 0313686676.
+ Email:
+Website : vinashinnewworld.com.vn
+ Trụ sở Công ty Số 3 Lê Thánh Tông Hải Phòng
1.2 Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty Vinashin New World
1.2.1 Nhiệm vụ của Công ty .
Là đơn vị vận tải biển với đội ngũ hùng mạnh và được sự quan tâm đặc biệt của tập
đoàn nên Vinashin New World có những nhiệm vụ sau:
Chuyên chở hàng hoá trong nước, phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu
dùng trong nước.
Vận tải hàng xuất khẩu, phục vụ công tác xuất nhập khẩu
Quản lý và khai thác phương tiện, vốn theo đúng nội quy của Nhà
nước một cách có hiệu quả
Tổ chức các dịch vụ về vận tải như đại lý tàu, đại lý dầu, đại lý giao
nhận kiểm đếm hàng hoá nhằm mở rộng quy mô của Công ty, tăng
nguồn hàng vận chuyển giải quyết công ăn việc làm cho đội ngũ
thuyền viên dự trữ
Nghiên cứu trình cấp trên về kế hoạch đầu tư đổi mới trang thiế
bị,phương tiện, xây dựng phương pháp lao động hợp lý hơn, ứng
dụng thông tin tin học vào sản xuất kinh doanh.
Tổ chức quản lý lực lượng lao động của Công ty một cách khoa học,
triệt để và hiệu quả, giáo dục bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề
và năng lực quản lý của cán bộ thuyền viên của Công ty. Đồng thời
chăm lo đến đời sống vật chất cho người lao động.
Chấp hành đầy đủ đường lối, chế độ chính sách pháp luật của đảng,
nhà nước, nội quy kỷ luật của xí nghiệp. Đảmbảo an tàon lao động,
vệ sinh môi trường, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và trật tự an toàn
Phòng kế toán: thực hiện công tác kế toán tính toán các hoạt động thu chi của chi
nhánh và tính toán trả lương cho nhân viên. Ghi chép phản ánh số liệu hiện có, tình
hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn và kết quả các hoạt động sản
xuất kinh doanh, tình hình sử dụng kinh phí của chi nhánh. Đặc biệt phòng còn
kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu chi tài
chính nộp ngân sách, thanh toán kiểm tra giữ gìn các loại tài sản. Đồng thời cung
cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành sản xuất kinh doanh, kiểm tra và phát
triển các hoạt động khai thác tài chính phục vụ công tác thống kê và thông tin kinh
tế.
Trưởng phòng kế toán: Phạm Thị Hường.
1.3 Tình hình sử dụng các nguồn lực tại Công ty.
Thông qua các báo cáo tài chính như bảng cân đối kế toán của công ty trong các
năm 2007-2009 ta có thể tính toán và so sánh một số chỉ tiêu tài chính của công ty.
1.3.1 Phân tích tình hình tài sản của Công ty.
Bảng 1: Bảng phân tích tình hình tài sản
Chỉ tiêu Năm 2007
Năm 2008 Năm 2009
A: TSLĐ – ĐTNH 20.891.806 26.191.138 31.476.543
Tiền mặt + gửi
NH
6.514.736 12.617.831 8.662.292
Khoản phải thu 8.437.360 4.543.969 81.835.268
Hàng tồn kho 2.494.023 4.429.834 6.808.493
TSLĐ khác 3.445.000 4.602.336 7.171.035
B:TSCĐ- ĐTDH 50.230.968 53.859.478 87.895.531
*TSCĐ 32.365.432 35.371.203 43.290.139
*Đầu tư TC 10.491,104 12.009.125 24.495.203
*TS dài hạn khác 7.374.432 6.479.150 20.110.189
Tổng tài sản 71.122.774 80.050.616 119.372.074
Nguồn : KH-KD Đơn vị tính: 1000 đồng
không phải phụ thuộc hay bị ràng buộc bởi các chủ nợ trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh. Năm 2007 tổng nguồn vốn là 71,122 tỷ đồng. Năm 2008 là
80,050 tỷ đồng còn năm 2009 là 119,372 tỷ đồng
Tuy nhiên, nếu nhìn vào sự biến động về cơ cấu nguồn vốn qua các năm
chúng ta sẽ thấy được tính tự chủ của doanh nghiệp có nhiều biến động. Năm
2007, nợ phải trả chỉ chiếm 32,7% tổng nguồn vốn. Sang đến năm 2008 nợ
phải trả chỉ còn là 30,6% tổng nguồn vốn giảm 2,1 % so với năm 2007 là 1,1%.
Nhưng đến năm 2009, số nợ phải trả đã tăng đến 35,8% tổng nguồn vốn. Như vậy,
nợ phải trả qua các năm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
Nguyên nhân của việc tăng nợ phải trả là do khoản nợ ngắn hạn tăng từ 23,316 tỷ
đồng năm 2007 đến 42,7 tỷ đồng năm 2009 là khoản vay từ nguồn vốn ODA để
đầu tư cải tạo, mở rộng Cảng đồng thời việc đi chiếm dụng vốn của đơn vị khác
( nợ dài hạn và nợ khác tăng lên ) làm cho tổng nợ tăng lên nhiều. Nhưng việc đi
vay và chiếm dụng là cần thiết cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Do đó, việc tăng tổng nguồn vốn từ nợ phải trả vẫn là hợp lý và điều này là
điều nên làm bởi mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư theo chiều sâu là yêu cầu
cần thiết đối với doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.3.2 Tình hình nhân lực.
Công ty là một công ty lớn hoạt động đa ngành vì vậy mà số lượng công nhân
viên của công ty tương đối đông hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau với các
trình độ tay nghề khác nhau và nó đựơc thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3: Nguồn nhân lực của công ty
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số
Lượng
%
Số
Lượng
%
Số
4
38,
4
15,
4
30,
8
18
30
20
20
20,4
34,0
22,8
22,8
25
40
25
16
23,5
37,7
23,5
15,3
(Nguồn phòng KH-KD) Đơn vị:Người
Nhận xét chung: Nhìn vào bảng số lượng lao động của công ty ta thấy số lượng
lao động của công ty tăng đều qua các năm. Năm 2008 so với năm 2007 tổng số
lao động trong công ty tăng 23 người tương ứng với 35,3%. Nhưng đến năm 2009
số lao động của công ty lại tăng 18 người tương ứng với 20,45 % so với năm 2008.
Tốc độ tăng năm 2008 so với 2007 lớn hơn do trong năm 2008 công ty mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh sang những thị trường lân cận và phạm vi hoạt động
độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên của công ty như: đưa công
nhân viên đi đào tạo ở nước ngoài, cũng như mở các lớp tập huấn nâng cao tay
nghề cho công nhân….. song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
của công ty.
1.3.3 Tình hình về cơ sở vật chất tại Công ty.
Bảng 3: Bảng diện tích sử dụng
Hạng mục Diện tích hiện
có
Diện tích sử
dụng
% Diện tích
sử dụng
Mặt nước
Nhà làm việc
Phân xưởng
Nhà kho
Sân bãi
Khu thương mại
Diện tích khác
87580
1479
3804
1500
2099
849
1229
24500
580
944
578
và xây mới. Công ty có khu nha cao tầng tương đối khang trang và kiên cố toạ lạc
trên khu đất rộng. Các phân xưởng, nhà kho phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh không ngừng nâng cấp và mởi rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng rộng lớn
của công ty. Cùng với nó là một khu liên hợp thể thao tương đối hoàn chỉnh gồm:
sân quần vợt, nhà thi đấu bóng bàn mà hiếm có công ty nào để đáp ứng nhu cầu vui
chơi giải trí của công nhân viên trong công ty.
Chng II: Thc trng dch v vn ti bin ca Cụng ty
Vinashin new world
Mc ớch
Trớc khi phân tích các vấn đề trong doanh nghiệp cần phải xác định một cách
đúng đắn mục đích phân tích. Mục đích phân tích hoạt động kinh tế nói riêng và hoạt
động khác của con ngời nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng với hoạt động. Nó là
kim chỉ nam của các hoạt động vừa là thớc đo đánh giá kết quả của các hoạt động đó.
Tuỳ theo từng trờng hợp phân tích cụ thể (không gian, thời gian, chỉ tiêu, doanh
nghiệp mà xác định mục đích cụ thể của phân tích những mục đích chung của
phân tích hoạt động kinh tế bao gồm:
ỏnh giỏ chung tỡnh hỡnh sn xut kinh doanh ca doanh nghip
thụng qua cỏc ch tiờu kinh t.
Phõn tớch chi tit cỏc tm quan trng, trng im xỏc nh tim
nng ca doanh nghip v cỏc vn t chc qun lý iu hnh s
dng cỏc yu t trong quỏ trỡnh sn xut cỏc iu kin sn xut.
xut ra cỏc bin phỏp v k thut t chc khai thỏc tt tim
nng ca doanh nghip ỏp dng trong thi gian ti nhm phỏt trin
sn xut, nõng cao hiu qu bo m cỏc li ớch doanh nghip nh
nc ngi lao ng.
Làm cơ sở cho những kế hoạch chiến lược về phát triển của doanh
nghiệp trong tương lai và về các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật cho những kì
kế tiếp.
Tóm lại có thể phát biểu ngắn gọn mục đích của phân tích hoạt động kinh tế
là nhằm xác định tiềm năng của doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp để khai
2.1.1.1 Đặc điểm.
Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá
trong buôn bán quốc tế. Vận tải đường biển thích hợp trên cự ly rất dài, khối
lượng lớn. Tuy nhiên vận tải đường biển không thích hợp với chuyên chở
hàng hoá đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh, trong chuyên chở đường biển
gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm.
Các tuyến đường trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự
nhiên. Do đó không đòi hỏi phải đầu tư nhiều về tiền vốn, nguyên vật liệu,
sức lao động để xây dựng và bảo quản các tuyến đường vận tải đưồng biển.
Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành vận tải đường biển
thấp hơn so với các phương tiện vận tải khác.
Năng lực chuyên chở của vận tải biển là rất lớn. Nhìn chung năng lực
chuyên chở của công cụ vận tải đường biển ( tàu biển) không bị hạn chế
như các công cụ vận tải khác. Trên cùng một tuyến đường có thể tổ chức
chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai chiều. Trong
những năm gần đây do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trọng tải trung bình
của tàu biển tăng nhanh và có xu hướng tăng lên đối với tất cả các nhóm
tàu. Ưu điểm nổi bật của tàu biển là giá thành thấp ( bằng 1/10 so với đường
hàng không). Trong chuyên chở hàng hoá giá thành vận tải đường biển chỉ
cao hơn giá thành vận tải đường ống còn thấp hơn nhiều so với các phương
tiện khác. Nguyên nhân chủ yếu là trọng tải tàu biển lớn, cự ly chuyên chở
trung bình dài, năng suất lao động cao. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật và
hoàn thiện cơ chế quản lý trong ngành vận tải đường biển, hiệu quả kinh tế
chắc chắn ngày một tăng lên.
Từ những đặc điểm trên của vận tải đường biển ta có thể rút ra kết luận một cách
tổng quát về phạm vi áp dụng như sau:
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế.
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn,
chuyên chở cự ly dài nhưng không đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh chóng.
2.1.1.2 Tác dụng của vận tải đường biển.
công cụ vận tải chuyên dùng có trọng tải lớn, đặc biệt là sự phát triển
của vận tải đường biển, mạng lưới các tuyến đường phát triển đã cho
phép hạ giá thành vận tải, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc
mở rộng chủng loại mặt hàng trong buôn bán quốc tế.
Trong bản thân nhóm hàng lỏng cũng có sự thay đổi về cơ cấu: tăng
trỷ trọng dầu thô, giảm tỷ trọng mặt hàng sản phẩm dầu mỏ và xuất
hiện nhiều mặt hàng lỏng trong buôn bán quốc tế như: hơi đốt ở thể
lỏng, rượu, bia, nước ngọt,...buôn bán các nhóm mặt hàng khô cũng
đa dạng và phong phú hơn gồm hàng thành phần có bao bì, hàng khô
có khối lượng lớn như: quặng sắt, than đá, ngũ cốc, các loại khoáng
sản khác...,vận tải đường biển phát triển đã làm thay đổi cơ cấu hàng
hóa trên thị trường thế giới.
Trước đây khi vận tải đường biển còn chưa phát triển, hàng hóa chỉ
có thể bán cho các nước lân cận, ở thị trường gần, ví dụ như Việt
Nam bán hàng cho các nước Trung Quốc, Lào, Thái Lan... ngày nay
vận tải đường biển đã phát triển, hàng hóa có thể được buôn bán ở bất
kỳ thị trủờng nào trên thế giới. Vì vậy, vận tải đường biển góp phần
thay đổi thị trường hàng hóa. Những nước xuất khẩu có khả năng tiêu
thụ sản phẩm của mình ở những thị trường xa xôi. Ngược lại nước
nhập khẩu có điều kiện lựa chọn thị trường cung cấp hàng hóa rộng
rãi hơn. Sự mở rộng thị trường và thay đổi cơ cấu thị trường trong
buôn bán quốc tế được thể hiện ở cự ly chuyên chở trung bình trong
vận tải đường biển quốc tế ngày càng tăng lên. Năm 1980 cự ly
chuyển chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế là 3.601 hải
lý, năm 1985 là 3.967 và năm 1990 là 4.285 hảo lý( 1 hải lý =
1,85km).
Vận tải đường biển tác động đến cán cân thanh toán quốc tế: Vận tải
đường biển có tác dụng ảnh hưởng tích cực hoặc làm xấu đi cán cân
thanh toán, chức năng phục vụ thể hiện ở chỗ vận tải quốc tể đảm bảo
nhu cầu chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi nước. Chức
giống như các ngành sản xuất vật chất khác, vận tải còn có những đặc điểm riêng
biệt:
Quá trình sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt
không gian lên đối tượng chuyên chở chứ không phải là quá
trình tác động về mặt kỹ thuật lên đối tượng lao động.
Sản xuất trong vận tải không tạo ra sản phẩm mới, mà chỉ tạo
ra một loại sản phẩm đặc biệt-sản phẩm vận tải.
Sản xuất trong vận tải không làm thay đổi hình dạng kích thước
và tính chất lý hóa của chúng.
Sản phẩm của ngành vận tải cũng mang hai thuộc tính của hàng
hoá là giá trị và giá trị sử dụng nhưng bản chất của nó là sự
thay đổi vị trí của đối tượng chuyên chở.
Sản phẩm vận tải không có hình dạng kích thước cụ thể, không
tồn tại ngoài quá trình sản xuất ra nó. Sản phẩm vận tải không
có khảng cách về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng, nó được
sản xuất và tiêu dùng cùng một lúc khi sản xuất kết thúc thì sản
phẩm vận tải cũng được tiêu dùng ngay.
Sản phẩm vận tải là vô hình.
Vận tải không có khả năng dự trữ sản phẩm.
2.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển
2.1.3.1 Tuyến đường biển
Từ lâu loài người đã biết lợi dụng đại dương làm tuyến đường giao thông để
chuyên chở hành khách và hàng hoá giữa các nước với nhau. Các tuyến đường vận
tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên ( trừ việc xây dựng
các hải cảng, kênh đào quốc tế) do đó không đòi hỏi phải đầu tư về tiền vốn,
nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng và bảo quản các tuyến đường vận tải
đường biển. Đây là những nguyên nhân làm cho giá thành vận tải đường biển thấp
hơn so với các phương tiện khác. Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển là
rất lớn. Nói chung năng lực chuyên chở vận tải đường biển không hạn chế như các
vận tải khác. Tuy nhiên đường biển luôn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tự
hóa tại kho bãi, phân loại hàng hóa, sửa chữa bao bì, kí mã hiệu, kiểm tra số
lượng, chất lượng, thủ tục giao nhận hàng hóa...
Cảng biển được phân thành nhiều loại tuỳ theo tiêu chuẩn quy định, theo mục
đích sử dụng: cảng buôn, cảng quân sự, cảng cá, cảng trú ẩn...Đối với cảng buôn
được chia thành nhiều loại: cảng biển tự nhiên, cảng sông biển, cảng nội địa, cảng
quốc tế, cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng.
Ở nước ta, trong những năm qua nhà nước đã ưu tiên và trực tiếp đầu tư cho phát
triển hạ tầng giao thông vận tải đường biển. Trong đó có hệ thống cảng biển. Hệ
thống cảng biển Việt Nam từng bước hiện đại hóa và cơ bản đáp ứng được nhu cầu
đặt ra.
2.1.3.3. Trang thiết bị của cảng.
Ranh giới của một cảng biển thường gồm hai phần: phần mặt nước và phần mặt
liền. Trên mỗi phần diện tích của cảng có các công trình và các trang thiết bị nhất
định.
Trên phần mặt nước của cảng bao gồm: vũng tàu, luồng lạch. cầu tàu; phần dất liền
chủ yếu có: khu vực kho bãi, hệ thống đường giao thông, khu vực nhà xưởng, khu
làm việc của các cơ quan hải quan...cảng biển là công trình có hàng loạt trang thiết
bị kỹ thuật để phục vụtàu và hàng hoá. Trang thiết bị của cảng bao gồm:
- Thiết bị kỹ thuật phục vụ tàu ra vào, tàu chờ đợi, tàu neo đậu.nhóm thiết bị này
gồm: luồng lạch, hệ thống phao tiêu, tín hiệu, phao nổi, cầu tàu...
- Thiết bị phục vụ kỹ thuật, phục vụ công nghiệp xếp dỡ hàng hoá lên xuống công
cụ vận tải và ở trong kho bãi của cảng. Thiết bị xếp dỡ là yếu tố kỹ thuật quan
trọng nhất trong hpạt động sản xuất kinh doanh của cảng. Nó quyết định năng suất
xếp dở, khả năng thông qua về tàu và hàng hoá của cảng.
Hệ thống đường giao thông trong phạm vi cảng và cách nối liền các hệ thống vận
tải thống nhất như thế nào quyết định phạm vi hậu phương phục vụ của cảng.