luận văn: Một số giải pháp năng cao hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn Công Thương Hà Nội - Pdf 11

Luận văn tốt nghiệp1

 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Một số giải pháp năng cao hiệu quả
huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Sài
Gòn Công Thương Hà Nội” Luận văn tốt nghiệp2 LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự

“ Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực
hiện các dịch vụ kinh doanh khác ”.
Khái niệm trên đã thể hiện những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng
thương mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn
tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn
rỗi, họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi,
hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng.
Nhờ việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho
vay, bảo lãnh, cho thuê Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết
định đối với việc thực hiện các chức năng của ngân hàng thương mại.
1.2. Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại
* Vốn chủ sở hữu
Là vốn tự có của NH do các chủ sở hữu đóng góp, chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng nguồn vốn kinh doanh( 8% đến 10%). Bao gồm:
- Nguồn vốn hình thành ban đầu
- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
- Các quỹ
* Vốn huy động
Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
thương mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và
có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi. Ngân hàng
có thể huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội với nhiều hình
thức khác nhau. Bao gồm:

- Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế
+ Tiền gửi không kỳ hạn
Luận văn tốt nghiệp
thực hiện. Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn với
Luận văn tốt nghiệp5
việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Tuy việc huy động vốn có thể
thực hiện bằng nhiều kênh: thị trường chứng khoán, ngân sách nhà nước nhưng
trong điều kiện nước ta hiện nay thì huy động vốn qua các ngân hàng thương
mại vẫn là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.
1.3.2. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Theo cỏch núi truyền thống, một NH cú 2 lĩnh vực kinh doanh nũng cốt:
huy động vốn và lựa chọn tài sản sinh lời để đầu tư các nguồn được. Các NH
luôn nỗ lực để đạt được lợi nhuận từ 2 lĩnh vực này. Từ đây có thể thấy rừ tầm
quan trọng của cụng tỏc huy động vốn đối với các hoạt động của NH.
Trong điều kiện vốn NSNN có hạn, vốn tự có của DN và người sản xuất
cũn ớt ỏi, thỡ vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn tín dụng
NH. Để có vốn cho vay, các NHTM đó huy động vốn trong xó hội, vốn trong
dõn, vốn nước ngoài. Mà nguồn vốn NH huy động được nhiều hay ít quyết định
đến khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Nguồn vốn huy động được nhiều
thỡ cho vay được nhiều và mang lợi nhuận cao cho NH. Bên cạnh đó, nguồn
vốn huy động của NH quyết định đến khả năng cạnh tranh. Nếu nguồn vốn huy
động lớn sẽ chứng minh rằng qui mô, trỡnh độ, nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật
của NH hiện đại.
Với những vai trũ hết sức quan trọng đó, các NH luôn tỡm cách đưa ra
những chính sách quản lý nguồn vốn từ những người gửi tiền và cho vay khác
nhau đến việc sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các nhà quản
trị NH luôn tỡm cỏch để đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù hợp với tỡnh hỡnh
chung của nền kinh tế. Đó là một trong những điều kiện tiên quyết đưa NH đến
với thành công.
1.4. HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN

vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán Phần lớn số này được dùng để
cho vay ngắn hạn (<=12 tháng) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho
vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp,
tuy nhiên tính ổn định lại kém.
1.5.1.2. Huy động trung hạn
Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ
trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (trên 1 năm đến 5
năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện.
Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn
Luận văn tốt nghiệp7
huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt
động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.
1.5.1.3. Huy động dài hạn
Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường
vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định
cao (trên 5 năm). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao.
1.5.2. Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động
1.5.2.1. Huy động vốn từ dân cư
Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân
hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến
cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn huy động từ
dân cư thường khá ổn định .
1.5.2.2. Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội
Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong
tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh
nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh
nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần. Chu

1.5.3.1. Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
* Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển
có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi
này không phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi
tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn
buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục. Người gửi tiền có thể
rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho người thứ ba. Hình thức rút có thể là
tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toàn bằng séc. Đặc biệt người gửi tiền có
thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự
động ( máy ATM ). Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài
khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai:
+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn
quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi.
Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có.
+ Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được
sử dụng cho các tổ chức kinh tế. Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn
Luận văn tốt nghiệp9
số dư nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng
nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không
phải trả lãi. Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt
thấp (trong đó có Việt Nam) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn
trả lãi cho tiền gửi này (có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền
gửi tiết kiệm không kỳ hạn). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu
ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống
mạng lưới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền.

phạt. Đây là những khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả
khách hàng với lãi suất gần như là cao nhất. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để
tăng sức cạnh tranh, thu hút được vốn các ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc
khách hàng rút ra trước thời hạn. Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với
lãi suất không kỳ hạn, có ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực
tế
1.5.3.2. Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay
Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh
doanh đầy biến động như hiện nay. Các ngân hàng thương mại có thể vay từ
nhiều nguồn:
* Vay từ các tổ chức tín dụng
Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị
trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân hàng thường xây dựng
các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay
ngân hàng trung ương.
* Vay từ ngân hàng trung ương
Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu vốn thì có thể vay ngân
hàng trung ương. Ngân hàng trung ương cho vay dưới hình thức tái cấp vốn,
chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay thanh toán.
1.5.3.3. Huy động qua phát hành các công cụ nợ
Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàng
thương mại. Trong qúa trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng
thấy cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn.
Điều đó có nghĩa là ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu
ra mới tính đầu vào. Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy
Luận văn tốt nghiệp11
động và đưa ra các mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng
12
1.6.1.2. Môi trường kinh tế
Các nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề tạo vốn gồm có: tốc độ tăng trưởng
kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, yếu tố lạm phát, sự biến động của tỷ giá hối
đoái…Trong điều kiện nền kinh tế phát triển hưng thịnh thu nhập dân cư cao và
ổn định thì nguồn tiền vào ra các ngân hàng cũng ổn định, số vốn huy động được
cũng dồi dào, cơ hội đầu tư cũng được mở rộng. Nếu nền kinh tế suy thoái thì
khả năng khai thác vốn đưa vào nền kinh tế bị hạn chế, ngân hàng sẽ gặp khó
khăn trong việc điều chỉnh lại công tác huy động vốn.
1.6.1.3. Môi trường văn hoá xã hội
Đây cũng là nhân tố được các nhà kinh doanh ngân hàng quan tâm vì nó có
khả năng chi phối rất lớn đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
của khách hàng. Đó là: phong tục tập quán, trình độ dân trí, lối sống của người
dân… Chẳng hạn như thói quen của người dân trong việc sử dụng tiền mặt, với
tâm lý lo ngại trước sự sụt giá của đồng tiền cũng như sự hiểu biết của người
dân về các ngân hàng và hoạt động của ngân hàng sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới
hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Nếu như dân cư có sự hiểu biết về ngân hàng cũng như các hoạt động cung
cấp dịch vụ của ngân hàng và thấy được những tiện ích, lợi ích ngân hàng mang
lại thì họ sẽ gửi nhiều tiền vào ngân hàng hơn và như vậy công tác huy động vốn
cũng thuận lợi hơn.
Ở các nước phát triển dân chúng có thói quen gửi tiền vào ngân hàng và
thực hiện thanh toán qua ngân hàng, ngân hàng là một cái gì đó không thể thiếu
trong cuộc sống. Tuy nhiên với đại bộ phận các nước đang phát triển như nước
ta, dân chúng chưa có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để sử dụng dịch vụ ngân
hàng, họ có thói quen cất trữ tiền mặt, vàng bạc và ngoại tệ nên nó là nhân tố
ảnh hưởng mạnh tới công tác huy động vốn của NHTM.
1.6.2. Yếu tố chủ quan

Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng là tiền đề
cho việc họ huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết
kiệm được thời gian.
1.6.2.4. Trình độ công nghệ ngân hàng
Trình độ công nghệ ngân hàng được thể hiện theo các yếu tố sau:
-Thứ nhất: Các loại dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
-Thứ hai : Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàng
Luận văn tốt nghiệp14
-Thứ ba: Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân
hàng
Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy
hài lòng về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các
ngân hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh tranh phi lãi
suất vì khách hàng mà ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan
tâm đến chất lượng và loại hình dich vụ mà ngân hàng cung ứng. Với cùng một
lãi suất huy động như nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn,
tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI
NHÁNH NH SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG GCT HÀ NỘI
2.1. TỔNG QUAN VỀ CN NH SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NH Sài Gòn Công Thương
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương có tên giao dịch quốc tế:
SAIGON BANK FOR INDUSTRY AND TRADE

phép thành lập chi nhánh NH Sài Gòn Công Thương với trụ sở hoạt động tại: 17 Tôn
Đản – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Ngày 18.01.1994 chi nhánh chính thức khai trương và đi vào hoạt động.
Sau một thời gian dài hoạt động chi nhánh đã chuyển trụ sở về 11A Đoàn Trần
Nghiệp – Quận Hai Bà Trưng vào tháng 7/1997 và duy trì hoạt động từ đó đến nay.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
* Tổ chức bộ máy
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn Công Thương H
N Phòng Kinh
Doanh

Bộ phận tín dụng
Phòng Ngân
Qu


B


ph


phía khách hàng; nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ,
chuyển đến Ban, Phòng liên quan để thực hiện theo chức năng.
Phân tích doanh nghiệp, khách hàng vay theo quy trình nghiệp vụ, đánh
giá tài sản đảm bảo nợ vay, tổng hợp các ý kiến tham gia của các đơn vị chức
năng có liên quan. Sau đó, quyết định trong hạn mức được giao hoặc trình duyệt
các khoản cho vay bảo lãnh, tài trợ thương mại.
Quản lý hậu giaỉ ngân, giám sát liên tục các khách hàng vay về tình hình
sử dụng vốn vay, thường xuyên trao đổi với khách hàng để nắm vững tình trạng
của khách hàng. Thực hiện cho vay, thu nợ theo quy định. Xử lý, gia hạn nợ,
đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, chuyển nợ quá hạn, thực hiện các biện
pháp thu nợ.
+ Bộ phận thanh toán quốc tế
Luận văn tốt nghiệp17
Trên cơ sở các hạn mức, khoản vay, bảo lãnh, L/C đã được phê duyệt, bộ
phận Thanh toán quốc tế thực hiện các tác nghiệp trong tài trợ thương mại, phục
vụ các giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu cho khách hàng. Ví dụ: Dịch vụ
hàng nhập: thư tín dụng, chuyển tiền…;Hàng Xuất: L/C xuất, kiều hối, thẻ
chuyển tiền nhanh…
- Phòng ngân quỹ
Thực hiện các nghiệp vụ thu chi tiền mặt, vận chuyển tiền trên đường đI và
quản lý an toàn kho quỹ. Thực hiện các dịch vụ nhận cất giữ giấy tờ có giá bằng
tiền và các tài sản quý của khách hàng, nhận kiểm đếm tiền cho các ngân hàng
khác, thu đổi ngoại tệ cho khách hàng, thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
Luận văn tốt nghiệp18

2005 2006 2007
2006 so với 2005 2007 so với 2006
Số tiền

%tăng
(giảm)
Số tiền

%tăng
(giảm)
Luận văn tốt nghiệp19
Tổng
nguồn
vốn
705,4 741,4 643,9 36 5,1 -97,5 -13,1

(Nguồn: Báo cáo thường niên của chi nhánh Sài Gòn Công Thương Hà Nộikết quả
kinh doanh của ngân hàng)
Qua số liệu về sự thay đổi tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh ta thấy:
- Năm 2005: Tổng nguồn vốn huy động được là 705,4 t
ỷ đồng,
năm 2006: Tổng nguồn vốn huy động là 705,4 tỷ đồng, tăng thêm 36 tỷ đồng
(tương đương tăng 5,1%) so với năm 2005, năm 2007: Tổng nguồn vốn huy
động là 643,9 tỷ đồng, giảm 97,5 tỷ đồng (tương ứng giảm 13,1%) so với năm
2006.
Trong 3 năm qua, tình hình huy động vốn của chi nhánh có những biến
động đáng chú ý, nguồn vốn huy động năm 2007 có chiều hướng giảm sút.

từ nguồn
khác
120,6 80,7 70,9 -39,9 -33,1 -9,8 -12,1

(( Nguồn: Báo cáo thường niên của chi nhánh SGCT Hà Nộikết quả kinh doanh
của ngân hàng)
Nguồn vốn huy động từ dân cư luôn chiếm phần tổng nguồn vốn huy động,
tỷ trọng vốn huy động từ dân cư luôn chiếm hơn 55% tổng nguồn vốn huy động,
tỷ lệ trên cao nhất vào năm 2006 là 71,3%. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động từ
dân cư biến động không đều và có xu hướng giảm: năm 2006 tăng 29,1% so với
năm 2005, nhưng năm 2007 lại giảm 14,8% so với năm 2006.
Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng không lớn
trong tổng nguồn vốn huy động: 24,8% (2005), 17,8% (2006), 19% (2007). Và
có xu hướng giảm trong 3 năm qua: năm 2006 giảm 24,6% so với năm 2005,
năm 2007 giảm 7% so với năm 2006. Tương tự, vốn huy động từ các nguồn
khác cũng chiếm tỷ trọng không lớn: 10%-24%, và đang có xu hướng giảm: năm
2006 giảm 33,1% so với năm 2005, năm 2007 giảm 9,8% so vơí năm 2006.
Như vậy, qua 3 năm tình hình huy động vốn của chi nhánh nhìn chung
chưa được tốt, chi nhánh cần có biện pháp hữu hiệu để nâng cao khả năng huy
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%

hạn545 554,5 458,2 9,5 1,7 -96,3 -17,3
Nguồn vốn trung
dài hạn
160,4 186,9 185,7 26,5 16,5 -1,2 -0,7

0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
2005 2006 2007
Nguyån vèn trung dµi
h¹n
Nguån vèn ng¾n h¹n
Luận văn tốt nghiệp22
(Nguồn: Báo cáo thường niên của chi nhánh SGCT Hà Nộikết quả kinh doanh
của ngân hàng)
- Năm 2005: nguồn vốn huy động có kì hạn <= 12 tháng là 545 tỷ đồng,

TGTK
386 401,7 380,3 15,7 4 -21,4 -5,3
Luận văn tốt nghiệp23
TGTT
127,5 154 98,7 26,5 20,7 -55,3 -35,9
TG có KH
186 179 156 -7 -3,7 -23 -12,8
Phát hành
công cụ nợ
5,9 6,7 8,9 0,8 13,5 2,2 32,8

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy: tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng nguồn vốn huy động, tiếp đến là tiền gửi có kỳ hạn, tiến gửi thanh toán và
cuối cùng là vốn huy động từ phát hành công cụ nợ. Tuy nhiên, các đường thẳng
biểu thị mức độ tăng trưởng của TGTK, TG có KH, TGTT đều có xu hướng đI
xuống thể hiện nguồn vốn huy động từ các hình thức này đang có xu hướng
giảm. Cụ thể:
- Năm 2006, TGTK tăng 15,7 tỷ tương đương 4% so với năm 2005 nhưng
đến năm 2007 lại giảm 5,3% so với năm 2006.
- TG có KH trong 3 năm gần đây đều giảm: năm 2006 giảm 3,7% so với
năm 2005, năm 2007 giảm 12,8% so với năm 2006.
- TGTT năm 2006 tăng 20,7% so với năm 2005, đây là một mức tăng
trưởng khá tốt nhưng đến năm 2007 lại giảm tới gần 40% so với năm 2006.
- Hình thức huy động phát hành công cụ nợ như kì phiếu, trái phiếu chính
phủ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động và có mức tăng
tương đối tốt.

Chỉ tiêu 2005 2006 2007
2006 so với 2005 2007 so với 2006
Số tiền
%tăng
(giảm)

Số tiền
%tăng
(giảm)

Tổng dư nợ
701,1 716,7 601,4 15,6 2,2 -115,3 -16,1
Ngắn hạn
293 284 306 -9 -3 22 7,7
Trung và dài
hạn
408,1 432,7 295,4 24,6 6 -137,3 -31,7

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng)
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%

701,1 716,7 601,4
Tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay và nguồn
vốn huy động(%)
99,4 96,6 93,3

Trích đoạn Đổi mới cụng nghệ Ngõn hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status