Giải quyết việc làm ở thái bình thực trạng và giải pháp - Pdf 11

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, vấn đề việc làm luôn được xã hội và mọi người
quan tâm. Ngày nay, quan niệm về "phát triển" được hiểu một cách đầy đủ là:
tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội; phải xóa đói, giảm nghèo, giảm
thiểu thất nghiệp, đảm bảo được công bằng xã hội. Vì vậy, việc làm là một
trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm lớn của toàn
nhân loại, của tất cả các quốc gia, đặc biệt là của các nước đang phát triển.
Ở nước ta, vấn đề việc làm cho người lao động được Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ
rõ: "Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người,
ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng
chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân" [10, tr. 218].
Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, một mặt nhằm phát
huy được tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, mặt khác là hướng cơ bản để xóa đói, giảm nghèo có hiệu
quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần giữ
vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc
đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục đi lên.
1
Thái Bình là tỉnh thuộc lưu vực sông Hồng, "đất chật, người đông"
với diện tích tự nhiên 1.546,01 km
2
, dân số 1,83 triệu người, mật độ dân số
1.188 người/km
2
, gấp 1,18 lần so với các tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông
Hồng và 5,7 lần so với cả nước; có 915 ngàn người trong độ tuổi lao động,
chiếm 50% dân số của cả tỉnh, số dân ở nông thôn chiếm 93,7%, thu nhập
bình quân đầu người thấp mới đạt 3.889.000 đồng/người/năm vào năm 2003
[5, tr. 34]. Thu nhập của người lao động cơ bản dựa vào sản xuất nông

- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của thạc
sĩ Nguyễn Thị Lan Hương (Nxb Lao động - xã hội, 2002);
- Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị
Hằng (Tạp chí Cộng sản, số 23 - 8/2003);
- Một số vấn đề lao động, việc l m v à à đời sống người lao động ở Việt
Nam hiện nay do thạc sĩ Đinh Đặng Định chủ biên (Nxb Lao động, H Nà ội,
2004);
- Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay của
GS.TS Phạm Đức Thành, PGS.TS Phạm Quý Thọ, ThS. Thang Mạnh Hợp
(Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 298 - 12/2003);
Ngo i ra, cà ũng có một số đề t i luà ận văn thạc sĩ viết về vấn đề việc
l m nhà ư ở một số tỉnh: Đồng Nai, H Tà ĩnh, Kiên Giang ; ở Thái Bình, Ủy
ban nhân dân (UBND) tỉnh có ban h nh "Chà ương trình mục tiêu giải quyết
việc l m tà ừ 2000 - 2005".
3
Song, dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị đến nay chưa có công
trình nào viết về vấn đề này dưới dạng luận văn khoa học để tìm ra các giải
pháp đồng bộ, hữu hiệu cho giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình. Như vậy,
việc nghiên cứu đề tài "Giải quyết việc làm ở Thái Bình: thực trạng và giải
pháp" dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị là cần thiết, có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích đề t ià
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết việc làm, phân
tích thực trạng việc làm ở Thái Bình, đề xuất phương hướng và giải pháp chủ
yếu nhằm giải quyết có hiệu quả việc làm ở Thái Bình.
* Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát những vấn đề cơ bản về lý luận lao động, việc làm và thất
nghiệp. Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm ở nước
ta hiện nay để làm cơ sở cho việc phân tích tình hình giải quyết việc làm ở

+ Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình
từ năm 1999 đến nay.
+ Đề xuất những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu có tính
khả thi nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
5
Chương 1
VIỆC LÀM VÀ CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG TỚI TĂNG, GIẢM VIỆC LÀM
1.1. VIỆC LÀM VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM Ở NƯỚC TA
1.1.1. Khái niệm về lao động, việc làm và thất nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm về lao động
6
Có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về lao động nhưng suy cho
cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với
con vật và xã hội loài người với xã hội loài vật; bởi vì: khác với con vật, lao
động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới
tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu
cầu đời sống của con người. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng
minh vai trò quyết định của lao động với sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo
C.Mác: "Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc
vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi
giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự
sống của con người" [20, tr. 61]. Ph.Ăngghen viết:
Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.
Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp
những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao

tham gia tạo cung và tạo cầu của nền kinh tế, vừa trực tiếp điều tiết quan hệ
đó gắn với các thể chế kinh tế xã hội do con người tạo nên. Nguồn lao động
vừa có nhu cầu tự thân để phát triển với yêu cầu ngày càng cao và phong phú,
vừa là chủ thể sáng tạo ra công nghệ, điều chỉnh cơ bản kinh tế để thăa mãn
các nhu
cầu đó.
8
Hiện nay trên thế giới, tiêu chí cơ bản để bố trí dân cư vào nguồn lao
động được dựa trên độ tuổi và tình trạng sức khỏe. Nhưng quy định giới hạn
về độ tuổi lao động tối đa và tối thiểu ở các nước có sự khác nhau. Ví dụ, độ
tuổi lao động tối thiểu ở Braxin: 10 tuổi, ở Mỹ: 16 tuổi. Qui định về độ tuổi
tối đa như: Mêhicô, Malayxia là 65 tuổi; Phần Lan, Đan Mạch là 75 tuổi…
Theo Bộ luật lao động hiện hành ở nước ta, nguồn lao động: nam từ 15 đến 60
tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi, có khả năng lao động (trừ những người tàn tật
không có sức lao động).
Bộ phận chính của nguồn lao động là lực lượng lao động, bao gồm
những người trong độ tuổi lao động, có sức khăe đang làm việc và những
người thất nghiệp. Đặc trưng của nguồn lao động là các chỉ tiêu về số lượng
và chất lượng, bao gồm các chỉ tiêu: số lượng, độ tuổi, giới tính, trình độ học
vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, số người đang đi học, số người đang làm
việc và sự phân bố lao động theo lãnh thổ, theo ngành, theo khu vực kinh tế…
Trong quá trình phát triển của sản xuất và đời sống xã hội, chất lượng
nguồn lao động cũng không ngừng được tăng lên. Các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng nguồn lao động bao gồm: tình trạng sức khăe của người lao động,
chính sách giáo dục - đào tạo, chính sách tiền lương và các chính sách ưu đãi
của Nhà nước.
Như đã đề cập, lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động, vậy quá
trình đó chỉ có thể tiến hành khi đã được dựa trên những tiền đề vật chất phục
vụ cho quá trình đó đầy đủ. Trên bình diện một nước hay một địa phương nào
đó thì quá trình lao động của bộ phận dân cư có sức lao động lại được thể hiện

động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa
nhận là việc làm" [3, tr. 42]. Với khái niệm này, các hoạt động lao động sau
đây được xác định là việc làm, bao gồm:
10
- Toàn bộ các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần không bị
pháp luật cấm, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật;
- Tất cả những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo
thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả
công bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
Như vậy, khái niệm việc làm theo Bộ luật lao động của nước ta bao
gồm một phạm vi rất rộng: từ những công việc được thực hiện trong các
doanh nghiệp, công sở đến mọi hoạt động lao động hợp pháp như các công
việc nội trợ, chăm sóc con, cháu trong gia đình… đều được coi là việc làm.
Khái niệm trên làm cho nội dung của việc làm được mở rộng và tạo ra khả
năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều
người. Điều đó được thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất, thị trường lao động được mở rộng tới tất cả các thành phần
kinh tế, trong mọi hình thức và cấp độ của tổ chức sản xuất kinh doanh và sự
đan xen giữa chúng, nó cũng không bị hạn chế về mặt không gian.
- Thứ hai, người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên
kết, thuê mướn lao động theo khuôn khổ của pháp luật quy định.
11
Quan niệm mới về việc làm như Bộ luật lao động quy định cho thấy
đã có sự thay đổi căn bản trong nhận thức về việc làm và giải quyết việc làm.
Từ chỗ việc làm phải là người nằm trong guồng máy biên chế của Nhà nước
và giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước nay đã chuyển sang nhận
thức mới: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật
cấm đều được thừa nhận là việc làm". Bởi vì, lao động tạo ra nguồn thu nhập
không chỉ trong thành phần kinh tế nhà nước mà còn ở cả trong thành phần
kinh tế tư nhân, cá thể và hộ gia đình… Với khái niệm đó, nó đã xóa bỏ sự

đối với những vùng, những địa phương đất chật, người đông, nhiều người lao
động còn không có hoặc thiếu việc làm.
* Thiếu việc làm
Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về vấn đề này, theo
TS. Trần Thị Thu đưa ra khái niệm mà nhiều nhà nghiên cứu cho là hợp lý và
khoa học: "Thiếu việc làm còn được gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp
trá hình là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong
muốn" [25, tr. 17]. Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách
quan ngoài ý muốn của người lao động, họ phải làm việc không hết thời gian
theo pháp luật quy định, hoặc làm những công việc mà tiền công thấp không
đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung.
1.1.1.3. Thất nghiệp
13
Theo lý thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại: trong nền kinh tế thị
trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách quan gắn liền với một tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên xác định. Người ta không thể loại bỏ được nó mà chỉ có thể
hạn chế tỷ lệ thất nghiệp tới mức thất nghiệp tự nhiên. Bởi vì, khi mức thất
nghiệp cao (quá mức tự nhiên), tài nguyên bị lãng phí, thu nhập của người
dân bị giảm sút và rơi vào tình trạng nghèo đói, dẫn đến nền kinh tế suy thoái,
ảnh hưởng đến cuộc sống của cộng đồng dân cư. Tỷ lệ thất nghiệp là một
trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá thực trạng của một nền kinh tế, là
mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia và của mọi thành viên trong xã
hội.
Có nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp, nhưng nội dung cơ bản
của thất nghiệp là đề cập về việc: người lao động có khả năng làm việc, mong
muốn làm việc nhưng không được làm việc. Samuelson - nhà kinh tế học của
trường phái hiện đại cho rằng: "Thất nghiệp là những người không có việc làm,
nhưng đang chờ để trở lại việc làm hoặc đang tích cực tìm việc làm" [32, tr.
271].
Như vậy, thất nghiệp (không có việc làm) là hiện tượng người lao

tr. 142].
15
Với khái niệm trên, theo Bộ luật lao động ở nước ta hiện nay: những
người trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) có
khả năng lao động, không có việc làm hoặc đang tìm việc làm là những người
thất nghiệp.
Tuy nhiên, các đối tượng sau đây mặc dù nằm trong độ tuổi lao động
nhưng không thuộc những người thất nghiệp và không nằm trong lực lượng
lao động:
- Người không có khả năng lao động
- Người không có nhu cầu tìm việc làm
- Người đang đi học
- Người làm công việc nội trợ cho gia đình mình
Thất nghiệp là một vấn đề xã hội rất nhạy cảm, là mối quan tâm lớn
của tất cả các quốc gia, khi mức thất nghiệp tăng quá mức tự nhiên (cho phép)
tài nguyên sẽ bị lãng phí, thu nhập của người lao động giảm và rơi vào tình
trạng nghèo đói; nền kinh tế suy thoái, lạm phát cao dẫn đến khủng hoảng
kinh tế - xã hội. Do đó, tỉ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu trọng yếu
để xem xét, đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, sự tiến bộ xã hội, là mối
quan tâm hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
1.1.2. Những khó khăn trong quá trình giải quyết việc làm ở nước ta
16
Ở nước ta, nguồn lao động hàng năm vẫn tăng ở mức cao (khoảng
3,4 - 3,5%), số lao động chưa có việc làm ở thành thị rất lớn chiếm khoảng
9 - 12% tổng lao động thành thị, là tỷ lệ vượt quá giới hạn cho phép để đảm
bảo an toàn xã hội. Khu vực nông thôn là nơi tập trung 80% dân số và lao
động, nhưng do chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, kinh tế hàng hóa còn ở
trình độ thấp, do đó nạn thiếu việc làm là rất phổ biến và nghiêm trọng. Trong
điều kiện bình quân đất canh tác trên một lao động rất thấp (0,3 ha/1 lao
động), nếu làm thuần nông sẽ dư thừa 1/2 số lao động [7, tr. 96]. Theo dự báo,

nguyên nhân khác nhau, song nguyên nhân chủ yếu nhất là: nước ta là nước
chậm phát triển, điểm xuất phát thấp, nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng,
thiếu những tiền đề vật chất cần thiết mà trước hết là nền đại công nghiệp để
thay đổi nhanh chóng toàn bộ cơ cấu kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế thị
trường hiện đại; hạ tầng cơ sở thấp kém, không đồng bộ; công nghệ lạc hậu,
vốn thiếu, chất lượng lao động thấp, quan hệ kinh tế đối ngoại còn ở mức hạn
hẹp…; những nguyên nhân đó đã làm hạn chế và gây ra nhiều trở ngại, khó
khăn trong quá trình giải quyết việc làm cho người lao động.
18
- Trong cơ chế cũ, chúng ta đã xây dựng một hệ thống chính sách
khuyến khích người lao động tìm việc làm trong khu vực Nhà nước là chủ yếu
và bao cấp rất nặng nề. Nhà nước bố trí công ăn việc làm đến tận từng người
lao động, điều đó đã kìm hãm tiềm năng lao động, triệt tiêu động lực của họ
trong phát triển việc làm và tự chịu trách nhiệm về đời sống của chính bản
thân mình. Ngày nay, chuyển sang nền kinh tế thị trường đã mở ra khả năng
to lớn giải phóng tiềm năng lao động của toàn xã hội, song hệ thống chính
sách lại chưa đồng bộ để tạo ra tiền đề, điều kiện và môi trường thuận lợi
nhằm giải phóng triệt để mọi tiềm năng (lao động, vốn, đất đai ) để phát
triển sản xuất, tạo mở việc làm; chưa có hệ thống đào tạo phù hợp để nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường sức lao
động.
- Về tổ chức, chưa xây dựng một hệ thống sự nghiệp hoàn chỉnh giải
quyết việc làm; đặc biệt là các Trung tâm xúc tiến việc làm; Trung tâm chuyển
giao công nghệ sử dụng nhiều lao động Chương trình quốc gia về việc làm
chưa được tập trung, chỉ đạo còn phân tán. Quỹ quốc gia về việc làm còn nhỏ
bé và chưa được đầu tư đúng mức.
- Quản lý nhà nước về lao động và việc làm còn nhiều bất cập, năng
lực hoạch định chính sách và điều hành thực thi chính sách về lao động và
việc làm còn nhiều hạn chế, qua nhiều khâu trung gian, thiếu sự kiểm tra giám
sát chặt chẽ.

tiến bộ v công bà ằng xã hội trong mỗi bước đi v trong quá trình phátà
triển. Trong quá trình n y, và ấn đề giải quyết việc l m cho ngà ười lao động
l mà ột trong những vấn đề cấp bách nhất; bởi vì giải quyết có hiệu quả
vấn đề việc l m l cà à ơ sở để thực hiện tiến bộ v công bà ằng xã hội, đẩy
lùi các tệ nạn xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh v bà ền
vững. Nghị quyết Đại hội đại biểu to n quà ốc lần thứ IX của Đảng ta xác
định: "Giải quyết việc l m l yà à ếu tố quyết định để phát huy nhân tố con
người, ổn định v phát trià ển kinh tế, l m l nh mà à ạnh xã hội, đáp ứng
nguyện vọng chính đáng v yêu cà ầu bức xúc của nhân dân" [10, tr. 210].
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG, GIẢM VIỆC LÀM
1.2.1. Dân số và cơ cấu dân số
Số lượng, tốc độ gia tăng và cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn tới nguồn
lao động và vấn đề giải quyết việc làm của mỗi quốc gia. Dân số, lao động và
việc làm là những vấn đề có liên quan mật thiết với nhau; xem xét mức độ
biến động dân số những năm gần đây ở nước ta, cho thấy: "Tốc độ gia tăng
dân số hàng năm vẫn tăng 1,3% năm; đến giữa năm 2003, dân số cả nước ta
đã lên tới gần 81 triệu người; hàng năm có khoảng 1,5 triệu thanh niên tham
gia vào lực lượng lao động xã hội" [14, tr. 24; 29]. Đây là một sức ép lớn đối
với vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay.
Dân số tăng nhanh dẫn tới việc phân bố dân cư không hợp lý, không
gắn kết được lao động với các nguồn lực khác (đất đai, tài nguyên thiên
nhiên, vốn…) khiến cho tạo việc làm mới càng khó khăn, thất nghiệp càng
cao.
21
Dân số gia tăng sẽ buộc ngân sách nhà nước nói chung, xã hội nói
riêng phải giảm chi cho đầu tư phát triển, tăng chi cho tiêu dùng. Vì vậy, đầu
tư cho phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nguồn lao động giảm
xuống, cơ hội để tìm việc làm càng gặp khó khăn.
Do đời sống của người lao động gặp khó khăn, nhu cầu về việc làm
lớn, cơ hội có việc làm ở khu vực nông thôn ít, nhất là những lúc nông nhàn

Điều này làm tăng sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa hai vùng, tiếp
tục tạo ra những lực đẩy kích thích dòng di chuyển lao động tự phát từ nông
thôn ra thành thị.
• Giữa các vùng tình hình cũng tương tự. Trong khi các vùng phát
triển như đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
đã đạt hoặc thấp hơn mức sinh thay thế (tương ứng là 2,0; 1,9 và 2,1), các
vùng kém phát triển nhất như Đông Bắc và Tây Nguyên vẫn còn ở những
mức rất cao (3,6 và 3,9) [17, tr. 153].
• Ngoài ra, giảm tốc độ tăng dân số sẽ dẫn đến việc "già hóa" dân số,
với tỷ lệ người cao tuổi tăng lên và đòi hỏi các chi phí về bảo hiểm xã hội và
an sinh xã hội tăng lên , ảnh hưởng lớn tới cơ cấu và chất lượng của dân số.
Từ những thực tế trên đây, vần đề đặt ra là cần hướng tới việc "bảo
tồn tính cân bằng, ổn định bên trong của sự phát triển dân số" nhằm đạt được
mục tiêu: ổn định tỷ lệ sinh hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, trên cơ sở đó
mà phát triển nguồn lực lao động cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được
nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường sức lao động.
23
Công cuộc đổi mới đất nước những năm qua đã đạt được nhiều thành
tựu về kinh tế - xã hội, điểm quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế cao đã tạo
ra sự tăng lên không ngừng của nhu cầu sử dụng lao động. Hàng năm số lao
động có việc làm đều tăng: "Từ năm 1991 đến 2000, số người có việc làm
tăng từ 30,9 triệu lên 40,6 triệu người, tức là tăng 32,2%, bình quân hàng năm
tăng khoảng 2,9%" [14, tr. 124].
Mặc dù đạt được những thành tựu trên, song do sức ép về dân số, vấn
đề lao động và việc làm vẫn là vấn đề hết sức bức xúc vì do tốc độ gia tăng
dân số trước đây quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày
càng tăng, tốc độ giải quyết việc làm không thể nào tăng kịp với tốc độ tăng
rất nhanh của nguồn lao động. Theo dự báo: "Dân số trong độ tuổi lao động
năm 2005 đạt 51,5 triệu, chiếm 61% tổng dân số, năm 2010 đạt 56,8 triệu,
chiếm 64% tổng dân số" [17, tr. 146]. Đây là bài toán khó giải nhưng bắt buộc

động phải có phẩm chất trí tuệ cao; nghĩa là người lao động phải có năng lực
sáng tạo, áp dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ tiên tiến, khả
năng biến tri thức của mình thành kỹ năng nghề nghiệp, thể hiện qua trình độ
tay nghề thành thạo, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, làm chủ được công nghệ,
hoàn thành tốt công việc mà mình đảm nhiệm.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status