Phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá ở tỉnh thừa thiên huế - Pdf 11

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế có diện tích là 22.000 ha
với chiều dài 68 km đợc cấu thành bởi các phần lãnh thổ của 5 huyện với 31
xã. Bờ Đông phá là cồn cát ngăn cách đầm phá với biển Đông và bị gián
đoạn qua 5 cửa biển: Hải Dơng, Thuận An, Hòa Duân (đã đợc nhà nớc lấp
cửa lại vào tháng 8/2000), T Hiền và Vinh Phong (trong đó có ba cửa mới
đợc mở trong đợt lụt 1999). Bờ Tây tiếp xúc với các cánh đồng lúa và ba
cửa sông lớn là: sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hơng nên đợc gọi là vùng
đầm phá Tam Giang. Đây là vùng đầm phá lớn nhất khu vực Đông Nam á.
Vùng đầm phá Tam Giang có nguồn lợi thủy sản phong phú với 12 loài
tôm, 18 loài cua, 233 loài cá (trong đó có 20 - 23 loài đợc coi là có giá trị
kinh tế cao). Sản lợng khai thác bình quân hàng năm là 2.500 tấn, cùng với
sản lợng nuôi trồng và khai thác trên biển đã đóng góp gần 50% toàn bộ
kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Vùng đầm phá còn có vai trò to lớn đối với
nghề nuôi trồng thủy sản, là vị trí chiến lợc giao thông, du lịch quan trọng,
là nơi sinh sống của trên 30% dân số Thừa Thiên - Huế. Nhng theo điều tra
của nhiều nhà nghiên cứu thì đa số dân c vùng đầm phá này đều thuộc diện
nghèo đói. Đời sống của dân c nói chung còn gặp nhiều khó khăn thu nhập
thấp và bấp bênh, các mặt khác của đời sống kinh tế xã hội nh: văn hóa,
giáo dục, y tế còn rất lạc hậu thậm chí còn xuống cấp. Cũng chính những
điều đó lại tác động tiêu cực đến việc bảo vệ, khai thác, quản lý các nguồn
lực kinh tế vốn còn rất nhiều tiềm năng ở vùng đầm phá. Gần mời lăm năm
qua Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chính sách, biện pháp nhằm chuyển
đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Nền kinh tế của tỉnh Thừa
Thiên - Huế cũng đã có nhiều khởi sắc, tạo sự sống động đa dạng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh theo quy luật sản xuất hàng hóa, tạo tiền đề cho
1
các quan hệ kinh tế xã hội phát triển. Phát triển sản xuất hàng hóa đối với
tỉnh vừa là mục tiêu vừa là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay để nâng cao đời

công trình nghiên cứu đó chủ yếu mới chỉ đề cập đến một khía cạnh cụ thể
của đầm phá hoặc nặng về nghiên cứu ứng dụng, hoặc về nghiên cứu triển
khai, hoặc về quản lý. Cho đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu
một cách tổng thể về thực trạng và hệ thống các giải pháp nhằm phát triển
kinh tế vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế theo hớng sản xuất hàng hóa. Chính
vì vậy trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của những kết quả đã
nghiên cứu và bằng những nghiên cứu mới của mình tác giả chọn đề tài
"Phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế"
làm đề tài nghiên cứu, nhằm đóng góp những ý kiến nhỏ bé vào phát triển
kinh tế xã hội của vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên - Huế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là luận giải những cơ sở khoa học về mặt
kinh tế - xã hội, môi trờng và sinh thái cho giải pháp tổng thể khi xây dựng
vùng đầm phá Tam Giang thành vùng kinh tế hàng hóa phát triển.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn xác định các
nhiệm vụ sau đây:
+ Xác định cơ sở lý luận, quá trình hình thành và phát triển kinh tế
vùng theo hớng sản xuất hàng hóa.
+ Đánh giá đợc thực trạng phát triển kinh tế của vùng đầm phá Thừa
Thiên - Huế những năm trớc và sau trận lụt lịch sử, đồng thời xác định rõ
nguyên nhân của những tồn tại và những vấn đề bức xúc đặt ra hiện nay.
+ Trình bày những định hớng và giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát
triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đợc giới hạn trong phạm vi nghiên cứu những nhân tố, yếu tố
kinh tế xã hội tác động đến việc phát triển sản xuất thủy sản hàng hóa vùng
3
đầm phá Thừa Thiên - Huế. Thời gian nghiên cứu chủ yếu từ năm 1995 đến
nay. Không gian nghiên cứu là vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn

phát triển của các ngành, các yếu tố và các lĩnh vực kinh tế. Trên thực tế
quá trình phát triển của nền kinh tế chính là tổng hợp sự phát triển của các
vùng kinh tế hợp thành. Mọi hoạt động của bất cứ chủ thể kinh tế nào cũng
đều vận động và phát triển trên những địa bàn nhất định. Các chơng trình
dự án phát triển chỉ đợc tiến hành và đạt kết quả cụ thể trong mỗi vùng kinh
tế cụ thể. Do những phơng pháp xác định và phân định vùng không giống
nhau nên có các quan niệm khác nhau về vùng kinh tế. Tuy nhiên, đặc trng
của các vùng kinh tế là phải gắn với một lãnh thổ địa bàn không gian nhất
định, trên đó có những hoạt động phát triển kinh tế xã hội đặc thù. Một
vùng kinh tế nhất thiết phải là một quy mô lãnh thổ, song không nhất thiết
phải xác định một cách ràng buộc theo quy mô diện tích lớn hay nhỏ; vấn
đề là ở chỗ các hoạt động kinh tế xã hội trên đó phải đợc tiến hành phát
triển một cách bình thờng trong những điều kiện bình thờng so với các vùng
khác.
5
Trong tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa t bản ở Nga" Lênin đã
đa ra khái niệm về vùng kinh tế hàng hóa đặc trng, thông qua việc phân tích
về các "vùng ngũ cốc thơng phẩm", "miền chăn nuôi có tính chất thơng
phẩm", "sự phân hóa của nông dân trong vùng sản xuất sữa", "vùng trồng
lanh", "nghề trồng rau và nghề trồng cây ăn quả để bán". Lênin không giới
hạn ở khuôn khổ phân chia địa giới hành chính, Ngời viết: "Vùng ngũ cốc
thơng phẩm - vùng này bao gồm những miền biên khu phía Nam và phía
Đông phần nớc Nga thuộc Châu Âu, các tỉnh thảo nguyên xứ Nga mới và
Đông sông Vôn - ga. Tại đây đặc điểm của nông nghiệp là có tính chất
quảng canh và sản xuất ra rất nhiều lúa mì để bán" [28, 312]. Lênin đã lấy 8
tỉnh và chỉ rõ ở đó ngời ta trồng nhiều nhất là lúa mì, tức là loại lúa chủ yếu
để xuất khẩu. Với diện tích đất trồng lúa mì chiếm "37,6% đến 58,8%" [28,
312]. Theo Lênin việc xác định vùng kinh tế trong điều kiện cụ thể của nớc
Nga Xô viết, với qui mô đang đợc nói đến là kinh tế miền Nam, có thể căn
cứ vào nguyên tắc kinh tế chuyên môn hóa gắn với tính chất thơng phẩm của

những đặc điểm đặc trng của toàn vùng.
Sau cách mạng Tháng Mời khi thực hiện kế hoạch "điện khí hóa
toàn Nga" Lênin cho rằng vấn đề phân định và phát triển các vùng kinh tế
một cách khoa học có ý nghĩa lớn lao và Ngời tán thành bản báo cáo về
phân vùng kinh tế của ủy ban kế hoạch nhà nớc gửi cho hội nghị lần thứ III
của Ban chấp hành trung ơng toàn Nga. Bản báo cáo cho rằng: Vùng kinh tế
là một tổng thể sản xuất đặc biệt, nó có thể cho phép liên hợp cao độ các
nhiệm vụ kinh tế, đó là nội dung biện pháp xây dựng vùng kinh tế mà các
công trình của chúng ta lấy làm cơ sở. Biện pháp đó cho phép phân chia
quốc gia ra thành các vùng thực hiện những chức năng riêng trong bộ máy
kinh tế chung của đất nớc, có nghĩa là biến quốc gia thành một bộ máy kinh
tế hoàn chỉnh dựa vào sự hợp tác của vùng sản xuất. Nhờ đó mà kết hợp đợc
sự thống nhất giữa phân công lao động xã hội với việc mở rộng sáng kiến
của các địa phơng trên cơ sở kế hoạch chung.
7
Thực tiễn của nền kinh tế Xô viết về bố trí cơ cấu và phát triển các
vùng kinh tế theo các năng lực kinh tế và chuyên môn hóa đã hoàn toàn
chứng minh sự đúng đắn của Lênin về vấn đề này.
Tuy nhiên, với bản chất không ngừng phát triển và hoàn thiện, học
thuyết Mác - Lênin cũng nh các luận thuyết kinh tế của học thuyết này đòi
hỏi phải thờng xuyên đợc bổ sung bằng thực tiễn kinh tế xã hội đang không
ngừng vận động phát triển và gắn liền với những thành tựu tiên tiến của
khoa học, kỹ thuật. Do đó, cho đến nay, với bối cảnh quốc tế có nhiều thay
đổi, bên cạnh những nguyên tắc không thể phủ định của việc phân định và
bố trí phát triển các vùng kinh tế và thực tiễn phát triển của kinh tế thị tr-
ờng; cơ sở phát triển các vùng kinh tế lãnh thổ đã và đang tiếp tục đợc bổ
sung và hoàn thiện, nhằm phát huy tối u các nguồn lực phát triển của các
vùng, nâng cao trình độ phân công và chuyên môn hóa trong nền kinh tế,
phát triển đất nớc bền vững.
Trong kinh tế học phát triển, khi phân tích về kinh tế vùng ngời ta

thành các liên khu, phù hợp với điều kiện quản lý hành chính và kinh tế
trong thời gian đó. Sau khi hòa bình đợc lập lại yêu cầu của công cuộc khôi
phục đất nớc và phát triển nền kinh tế đã đặt ra nhiệm vụ xác định nhu cầu
và năng lực phát triển của đất nớc trên từng vùng lãnh thổ, khả năng bố trí
các ngành kinh tế trọng điểm trên mỗi địa phơng, mỗi khu vực. Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra nhiệm vụ: phải phân bố hợp lý
sức sản xuất ở đồng bằng, trung du và miền núi, điều chỉnh sức ngời giữa
các vùng, quy hoạch từng bớc các vùng kinh tế, thực hiện sự phân công
phối hợp giữa các vùng với nhau. Đến Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng
lần thứ 5 (khóa III) tháng 7/1961 về phát triển nông nghiệp đã đặt vấn đề
phân vùng nông nghiệp và xác định cách phân vùng nông nghiệp, sử dụng
một cách hợp lý nhất các tài nguyên phong phú của đất nớc và sức lao động
của nhân dân. Thời gian này ủy ban Kế hoạch Nhà nớc phối hợp với Bộ
Nông nghiệp xây dựng dự án phân chia miền Bắc thành bốn vùng nông
9
nghiệp lớn và gồm 46 tiểu vùng. Dự án này đã đợc chính phủ xem xét nhng
cha đợc chính phủ phê chuẩn. Sau năm 1975 Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IV đã đặc biệt chú ý đến vấn đề phát triển vùng và xác định tiến hành
phân vùng, quy hoạch sản xuất để phát triển tất cả các vùng, sớm hình
thành những khu vực lớn, sản xuất tập trung, chuyên môn hóa. Đại hội đã
phân định nớc ta thành bốn vùng kinh tế lớn là: Vùng đồng bằng, vùng
trung du, vùng miền núi và vùng miền biển. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ V đã phân định nớc ta thành bảy vùng kinh tế gồm: Đồng bằng sông
Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Duyên hải Trung
bộ, Khu bốn cũ và Thanh Hóa, miền núi và trung du phía bắc, Tây Nguyên.
Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng kế thừa cách phân định vùng kinh tế
của Đại hội V. Đến Đại hội VIII của Đảng, việc phân định các vùng kinh tế
cơ bản lại đợc đề cập theo quan điểm là dựa trên cơ sở tiềm năng và chuyên
môn hóa hoàn toàn, không phụ thuộc vào không gian địa lý lãnh thổ theo
đó nền kinh tế quốc dân đợc phân định thành bốn vùng lớn là: Vùng kinh tế

gọi là các tam giác tăng trởng) đó là:
1. Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
2. Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Bà Rịa Vũng Tàu.
3. Quảng Nam - Đà Nẵng - Dung Quất
Cách xác định các vùng kinh tế phát triển trọng điểm này phản ánh
rõ đặc trng bố trí các cực phát triển chủ yếu của đất nớc trong giai đoạn
hiện nay. Nó cũng phù hợp với các điều kiện địa lý không gian của nớc ta
theo ba miền Bắc, Trung, Nam. Đây là ba vùng kinh tế trọng điểm có điều
kiện tăng trởng kinh tế nhanh hơn nhịp độ chung của cả nớc, cung ứng cho
cả nớc nhiều sản phẩm và dịch vụ cần thiết, phát huy vai trò trung tâm về
công nghiệp, dịch vụ, thơng mại, tài chính, khoa học kỹ thuật, là cửa ngõ
giao lu quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay nhiều tỉnh có hàng loạt các đô thị
mới đã đợc hình thành trên cơ sở phân định ranh giới hành chính và nâng
11
cấp quản lý đầu t các trung tâm phát triển mũi nhọn, việc "phát triển ba
vùng trọng điểm phải kết hợp chặt chẽ, phục vụ và thúc đẩy cho sự phát
triển các vùng khác và cả nớc, tạo điều kiện để các doanh nghiệp ở vùng
trọng điểm mở rộng kinh doanh và đầu t ra các vùng khác" [18, 214].
Kinh tế vùng trọng điểm phát triển trên cơ sở phát triển mạnh sản
xuất hàng hóa. Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời là lịch sử phát triển và
thay thế nhau của các phơng thức sản xuất từ thấp đến cao. Hình thức tổ
chức kinh tế xã hội đầu tiên của loài ngời là kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp.
Kinh tế hàng hóa là sự phát triển kế tiếp kinh tế tự nhiên trên cơ sở phân
công lao động đã phát triển trong nền kinh tế tự nhiên và dần dần mang tính
đối lập với kinh tế tự nhiên. Các Mác cho rằng, phân công lao động xã hội
là cơ sở của mọi nền sản xuất hàng hóa: "lao động đợc phân công một cách
có hệ thống, nhng sự phân công này đợc thực hiện không phải bằng cách
các công nhân trao đổi những sản phẩm của cá nhân họ với nhau. Chỉ có
sản phẩm của những lao động t nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau
mới đối diện với nhau nh là những hàng hóa" [29, 61].

Vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế (hoặc gọi là tiểu vùng trong vùng
kinh tế nói chung) có đặc điểm, điều kiện tự nhiên, địa lý, địa hình hình
thành nên một vùng riêng biệt có điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa với
những tiềm năng vốn có của vùng. Đầm phá Tam Giang có địa hình ven bờ
với độ cao không quá 10 m, lòng đầm phá hình lòng chảo hợp thành từ các
con sông, có độ sâu từ 0, 5 đến 1, 5 m; hình thành một lạch triều ngầm có
độ sâu trung bình 2m sâu dần về phía cửa Thuận An đạt 4,5 đến 5 m. Đầm
phá Tam Giang là một hệ thống gồm nhiều hệ sinh thái khác nhau: khu hệ
thực vật bao gồm thực vật phù du, thực vật nhỏ sống ở đáy, rong biển, thực
vật thủy sinh bậc cao, thực vật bậc cao. Khu hệ động vật có: động vật phù
du, động vật đáy, khu hệ cá và chim. Do đặc điểm địa hình hệ sinh thái
phức tạp, đan xen nhau nên có nhiều cách hiểu và xác định phạm vi về vùng
đầm phá khác nhau:
13
Theo ng dân qua kinh nghiệm sống bằng nghề chài lới trên vùng
đầm phá cho rằng: Đầm phá Tam Giang là một hệ thống nối liền nhau,
"đầm" có mức nớc cạn hơn phá (độ sâu 0,5 đến 1,5 m), còn "phá" sát với
biển hơn và có các cửa thông ra biển, đầm có độ rộng phẳng hơn so với phá.
Có nơi địa hình của đầm khép kín có lạch thông ra phá (nh đầm Lăng Cô) ở
đây đầm đợc hiểu nh là ao, chuôm
- Theo cách tiếp cận của các nhà khoa học môi trờng trong việc
quản lý các dự án về đầm phá cho rằng: Đầm phá Tam Giang là một hệ
thống gồm nhiều hệ sinh thái khác nhau, có quan hệ chặt chẽ tác động qua
lại lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau. Nằm giữa biển và lục địa, giữa nớc mặn
và nớc ngọt, giữa hữu hạn và vô hạn là nơi giao lu của cái này và cái kia, và
tất nhiên đầm phá cũng có cái riêng của mình. Chính sự phức tạp của tự
nhiên mà tạo nên sự phức tạp trong các vấn đề xã hội.
- Theo các nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội cho rằng xét việc phát
triển kinh tế - xã hội của một vùng sẽ chịu tác động của các nhân tố chủ tr-
ơng, đờng lối, chính sách và đầu t theo góc độ hành chính nên phạm vi

bằng, đầm phá và biển Trong đó rừng núi chiếm 70% diện tích tự nhiên.
Địa hình phức tạp thấp dần từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnh, phần
phía Tây của tỉnh chủ yếu là núi đồi, tiếp đến là lu vực của các con sông tạo
nên các bồn trũng đồng bằng, ven biển nhỏ hẹp và vùng đầm phá rộng lớn
với diện tích 22.000 ha. Có cửa biển và cảng Thuận An, có vịnh Chân Mây
với độ sâu 10 - 14 m có khả năng xây dựng cảng biển nớc sâu cho khu vực
miền Trung. Huế có sân bay Phú Bài thuận lợi cho giao lu trong cả nớc và
quốc tế.
Thừa Thiên - Huế có diện tích tự nhiên 5.009,2 km
2
chiếm 1,51%
tổng diện tích tự nhiên của cả nớc. Theo tổng điều tra nông nghiệp, nông
thôn năm 1994, phân bố diện tích đất tự nhiên của Thừa Thiên - Huế
nh sau:
15
Bảng 1: Phân bố diện tích đất tự nhiên của Thừa Thiên - Huế
Tổng diện
tích đất
tự nhiên
Đất khu
dân c
Đất nông
nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Diện tích
mặt nớc
nuôi trồng
thủy sản
Đất

ợng khai thác hàng năm 30 - 40 nghìn tấn. Thừa Thiên - Huế có u thế nuôi
trồng thủy sản với diện tích 22.000 ha mặt nớc vùng đầm phá có khả năng
đánh bắt và nuôi trồng nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao nh tôm sú,
tôm bạc, cua, sò huyết, vẹm xanh có rong câu chỉ vàng là nguồn nguyên
liệu phong phú cho công nghiệp chế biến agar.
16
Từ năm 1996 đến nay nền kinh tế của tỉnh tiếp tục giữ đợc nhịp độ
tăng trởng. Tổng sản phẩm xã hội thời kỳ 1996 - 2000 tăng 35,4% (nhng do
thiệt hại của trận lụt lịch sử cuối năm 1999 nên bình quân mỗi năm chỉ đạt
6,3%). Hầu hết các ngành và các thành phần kinh tế đều có mức tăng trởng
khá. Thu nhập bình quân đầu ngời tăng từ 289 USD năm 1995 lên 378 USD
năm 2000, gấp 1,7 lần so với năm 1990 (cha đạt so với kế hoạch năm 2000
thu nhập bình quân là 460 USD). Những nhân tố phát triển kinh tế hàng hóa
của tỉnh trong các ngành nghề đợc thể hiện:
- Công nghiệp: Chiếm 32,7% trong GDP năm 2000, tăng 6,3% so
với năm 1995. Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 17,1%, đóng góp
60% tổng thu ngân sách. Một số ngành có lợi thế so sánh đợc chú trọng đầu
t tạo năng lực sản xuất mới, phát triển quy mô đổi mới công nghệ, nâng cao
chất lợng, mở rộng thị trờng tiêu thụ.
- Nông nghiệp: Bao gồm nông - lâm - thủy sản chiếm 22,3% trong
GDP, giảm 8,2% so với năm 1995. Giá trị xuất khẩu tăng 1,7% năm. Cơ
cấu cây trồng, vật nuôi đã chuyển dịch ổn định theo hớng sản xuất hàng
hóa.
- Du lịch - dịch vụ: Năm 1995 chiếm tỷ trọng 43,1%, tăng lên 45%
năm 2000. Đây là ngành Thừa Thiên - Huế có thế mạnh, cơ sở vật chất dịch
vụ du lịch đợc tăng cờng các loại hình du lịch ngày càng đa dạng, hấp dẫn
nh: du lịch sinh thái, du lịch nhà vờn, du lịch nghỉ dỡng, du lịch lễ hội
Thơng mại - dịch vụ tiếp tục phát triển đa dạng, bảo đảm nhu cầu phục vụ
sản xuất và đời sống.
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển đúng hớng, nền kinh tế

công nghệ, văn hóa, y tế, thể dục - thể thao đều đợc tăng cờng.
Văn hóa - xã hội là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát
triển kinh tế hàng hóa. Vì vậy trong những năm vừa qua tỉnh đã tập trung
phát triển sự nghiệp giáo dục cả về quy mô, chất lợng, hình thức đào tạo và
cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân. Các
trung tâm y tế huyện, xã đợc xây dựng và nâng cấp. Công tác dân số kế
18
hoạch hóa gia đình đợc triển khai thực hiện tốt, tỷ lệ tăng dân số năm 1999
đạt 1,78%. Hoạt động văn hóa thông tin có nhiều đóng góp tích cực trong
việc tuyên truyền đờng lối đổi mới của Đảng, xây dựng nền văn hóa mới
nh: làng văn hóa, bu điện văn hóa xã, gia đình văn hóa mới, cụm dân c
không có ngời sinh con thứ ba Khơi dậy và phát huy truyền thống nhân ái
giúp đỡ nhau trong những khi hoạn nạn thiên tai. Chơng trình xóa đói giảm
nghèo đợc triển khai mạnh mẽ, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 23,5% năm 1996
xuống 17% năm 1999. Giải quyết việc làm cho 12000 lao động/năm, trong
đó kinh tế t nhân và hợp tác chiếm 90%. Công tác chăm sóc ngời có công,
các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nớc nhớ nguồn đợc quan tâm thu hút
sự tham gia rộng rãi của các cơ quan, đoàn thể và toàn dân. Các hoạt động
từ thiện đem lại kết quả thiết thực. Việc cứu nạn, cứu trợ đồng bào bị thiên
tai trong cơn lũ 1999 đợc quan tâm kịp thời có hiệu quả.
Những nhân tố trên đây đã tác động rất mạnh đến quá trình phát
triển kinh tế hàng hóa của tỉnh nói chung và kinh tế vùng đầm phá Thừa
Thiên - Huế nói riêng. Kinh tế vùng đầm phá chịu ảnh hởng chi phối rộng
lớn của cơ cấu kinh tế của tỉnh. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh có
xu hớng tốt, bớc đầu phát huy đợc thế mạnh của tỉnh, góp phần thu hút lao
động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động. Trong đó, dân
c vùng đầm phá cũng đợc giải quyết một phần cơ bản. Doanh nghiệp nhà n-
ớc giữ vai trò tác động thúc đẩy kinh tế vùng đầm phá nh: xây dựng hạ tầng
cơ sở, tài chính, tín dụng, điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt, khoa học kỹ
thuật, cơ sở vật chất cho giáo dục đào tạo, văn hóa, y tế, thể dục thể thao

Vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế có khí hậu khắc nghiệt, bức xạ
mặt trời của khu vực thuộc loại cao có thể đạt 234,15 kcal/cm
2
/năm. Mùa
hè lợng mây thấp (4/10) nắng nhiều đạt trung bình 170 giờ - 240 giờ/tháng.
Mùa đông lợng mây cao(8/10) gây ma nhiều trung bình 2744 mm/năm cao
hơn so với cả nớc (1900 mm/năm). Nhiệt độ không khí trung bình 25,2
0
C
bằng trung bình so với cả nớc nhng cao hơn so với miền Bắc, nhiệt độ thấp
nhất 8,8
0
C, cao nhất 40
0
C. Vùng đầm phá chịu ảnh hởng chung của gió
Đông Bắc (mùa đông) và gió Tây Nam (mùa hè). Đặc biệt là chịu ảnh hởng
của từ 0 - 4 cơn bão kèm theo ma lớn và dài ngày gây thiệt hại nặng nề về
ngời, tài sản, t liệu sản xuất đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng nh nông
nghiệp nói chung.
Thủy văn vùng đầm phá chịu ảnh hởng sâu sắc của chế độ thủy văn
(sông) và hải văn (biển), mực nớc đầm phá biến đổi không đồng nhất giữa
các vị trí trong đầm phá và giữa đầm phá với biển. Mùa nắng mức nớc đầm
phá luôn thấp hơn mức nớc biển từ 5 cm - 15 cm (so với đỉnh triều) ở phá
Tam Giang và 25cm - 30 cm ở đầm Cầu Hai. Mùa ma mức nớc cao hơn
20
mức nớc biển từ 70cm - 97cm. Dòng chảy trong đầm phá hỗn hợp nhiều
thành phần gồm dòng chảy sông, dòng chảy gió và các dòng triều phân với
tốc độ và hớng thay đổi theo mùa. Sự trao đổi nớc giữa đầm phá và biển qua
cửa biển thay đổi phức tạp theo mùa tác động đến các yếu tố thủy hóa của
toàn vùng. Vùng cửa sông gần nh ngọt về mùa ma và không còn phân tầng,

cho sản xuất thủy tinh pha lê, ngoài ra còn có một số vùng cát đen là
nguyên liệu sản xuất titan.
Tiềm năng lớn về nguồn lợi thủy hải sản là điều kiện thuận lợi để
phát triển công nghiệp chế biến các loại sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong
nớc và xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.
Sự kết hợp hài hòa cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan văn hóa xã
hội tạo ra sự phong phú trong du lịch sinh thái. Khả năng phát triển du lịch
ở vùng biển và đầm phá là rất lớn, đặc biệt là các loại hình du lịch bằng tàu
thuyền trong sự liên quan mật thiết với trung tâm du lịch Huế. Từ vùng đầm
phá các tuyến du lịch có thể thông ra biển và nhiều vùng du lịch trong toàn
tỉnh bằng đờng thủy rất thuận lợi. Vùng đầm phá còn là nơi cung cấp nguồn
đặc sản thủy sản phục vụ khách du lịch. Cảng Thuận An là nơi ra vào của
hàng nghìn tấn hàng của các con tàu từ biển vào đất liền trên phá Tam
Giang. Chân Mây là vịnh nớc sâu đã đợc Chính phủ cho phép tỉnh đầu t xây
dựng vào tháng 7/2000.
- Về điều kiện kinh tế - xã hội: vùng đầm phá có tổng dân số là
314.500 ngời, chiếm trên 30% dân số của toàn tỉnh. Có 39.025 hộ gia đình,
bình quân 8 ngời/1 hộ. Tỷ lệ lao động chiếm khoảng 40,9% dân số trong đó
lao động nữ chiếm 55,9%. Lao động nông nghiệp cao nhất ở các xã thuộc
huyện Phong Điền chiếm 85%; thấp nhất ở các xã thuộc huyện Phú Lộc là
42%. Lao động thủy sản trung bình chiếm 20%. Mật độ dân số trung bình
399 ngời/km
2
; tỷ lệ tăng dân số 1,9%. Trong cộng đồng dân c các xã vùng
đầm phá có một bộ phận sống du c trên mặt nớc với khoảng 1.200 hộ
22
(10.000 ngời). Đông nhất là dân thủy diện huyện Phú Vang có 652 hộ
(3.512 ngời) và 1.479 lao động; sau đó là huyện Phú Lộc có 3.304 dân c
thủy diện. Thực tế cho thấy ng dân thủy diện đầm phá là những ngời có tín
ngỡng và tâm linh sâu đậm hớng vào nghề đánh bắt trên đầm phá. Với

tế xã hội của vùng đầm phá nếu khai thác đúng và hết tiềm năng to lớn của
vùng sẽ trở thành những yếu tố rất tích cực đối với quá trình hình thành và
phát triển kinh tế hàng hóa của vùng.
- Các mối quan hệ cơ bản: mối quan hệ gắn bó giữa các vùng, các
ngành, các khâu, các yếu tố là cơ sở để phát huy và khai thác có hiệu quả
lợi thế của vùng, nâng cao khả năng chuyên môn hóa của vùng, góp phần
làm tăng tính hiệu quả của các hoạt động trong nền kinh tế. Mối quan hệ
liên kết vùng không những khơi dậy các nguồn lực phát triển nội tại của
vùng, mà còn tạo nên các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng mới có tác dụng
kích thích các hoạt động kinh tế của các vùng khác ngành khác cùng phát
triển. Vai trò quan trọng nhất của mối quan hệ giữa vùng kinh tế là phát huy
đợc lợi thế so sánh đặc thù của mỗi vùng. Đồng thời còn trở thành một
trong những ngoại lực tác động trực tiếp vào cấu trúc kinh tế của vùng và
kết cấu xã hội của vùng tạo nên những cấu trúc hợp lý tơng quan giữa "nội
lực" và "ngoại lực" trong quá trình phát triển của từng vùng và của nền kinh
tế. Các mối quan hệ cơ bản nhằm phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá
Thừa Thiên - Huế đó là:
Thứ nhất, mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất, bao
gồm các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất và tái sản xuất nh:
sức lao động, t liệu sản xuất (tàu thuyền, lới các loại, te, rớ, nò sáo ), yếu
tố về vốn khoa học kỹ thuật tạo điều kiện cho đánh bắt và nuôi trồng thủy
sản, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản hiện nay. Lu thông hàng hóa là một
trong những nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sản xuất hàng hóa "Trớc
khi trao đổi những vật A và B cha phải là hàng hóa và chỉ có nhờ sự trao đổi
thì chúng mới trở thành hàng hóa" [29, 119]. Nền sản xuất hàng hóa càng
phát triển cao thị trờng lu thông hàng hóa càng đóng vai trò quan trọng.
Trong nền kinh tế hàng hóa thị trờng là "bàn bay vô hình" điều tiết và kích
24
thích sản xuất, tiêu dùng thông qua tác động của giá cả và quan hệ cung cầu
hàng hóa ở thị trờng. Vì vậy tìm kiếm thị trờng tiêu thụ sản phẩm hết sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status