Đề án Kinh tế Môi trường “Xác định thiệt hại ô nhiễm môi trường ở làng nghề Hạ Thái – Thường Tín – Hà Nội” potx - Pdf 11

Đề án Kinh tế Môi trường

“Xác định thiệt hại ô nhiễm môi
trường ở làng nghề Hạ Thái –
Thường Tín – Hà Nội”
SVTT: Đỗ Thị Bích
- 1 -
Mục lục
Lời mở đầu 4
Phần I: Cơ sở lựa chọn đề tài 5
1.1. Sự cần thiết phải xác định thiệt hại ô nhiễm môi trường ở làng nghề 5
1.2.Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 5
1.2.1. Địa điểm vị trí địa lý của làng nghề sơn mài Hạ Thái 5
1.2.2. Tình hình làng nghề sơn mài – Hạ Thái 6
1.2.3 . Lí do chọn điều tra tại làng nghề này 7
Phần II: Giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường 8
Phần III: Các phương pháp nghiên cứu 9
2.1.Phương pháp chi phí thay thế 9
2.2.Phương pháp đáp ứng liều lượng 10
2.3.Phương pháp chi phí sức khỏe 10
2.4.Phương pháp tính toán chi phí trực tiếp 10
Phần IV: Quy trình tính toán thiệt hại ô nhiễm môi trưòng ở làng nghề 11
3.1.Quy trình sản xuất sơn mài gây ô nhiễm 11
3.2.Các nguồn gây tác động 11
3.3.Đánh giá các thiệt hại 11
3.3.1.Thiệt hại sức khỏe 11
3.3.2.Thiệt hại gây ra cho hệ sinh thái 12
Phần V: Kiến nghị và những giải pháp khắc phục 14
5.1.Kiến nghị 14
5.2.Các giải pháp khắc phục 14
Kết luận 15

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thế Chinh và Ths. Đinh
Đức Trường đã giúp tôi hoàn thành đề án này !- 3 -
Phần I : Cơ sở lựa chọn đề tài :
1.Làng nghề và sự cần thiết phải xác định thiệt hại ô nhiễm môi trường ở
làng nghề:
- Làng nghề: Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau:
+ Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề;
+ Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu
nhập của làng.
- Theo thống kê cả nước hiện có khoảng 1450 làng nghề tập chung chủ yếu ở
vùng đồng bằng sông Hồng (57,9 %). Các nghề có vai trò rất quan trọng tạo
việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo trong nông thôn
Việt Nam.Nó không những góp phần lưu giữ bản sắc dân tộc, giá trị truyền
thống mà còn đóng góp một tỷ lệ lớn tổng thu nhập quốc dân.
- Trong quá trình hội nhập kinh tế, các sản phẩm của các làng nghề ngày càng
được ưa chuộng, quy mô làng nghề ngày càng được mở rộng, nhiều phương
thức sản xuất mới được áp dụng vì vậy đời sống của người dân làng nghề
ngày càng khá giả hơn. Tuy nhiên, khi quy mô càng được mở rộng thì ô
nhiễm càng tăng.
- Đồng thời việc phát triển làng nghề mang tính tự phát, công nghệ lạc hậu
chắp vá, nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường còn kém dẫn đến tình
trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
 Vì vậy, cần phải có tính toán về thiệt hại ô nhiễm tại các làng nghề
để người dân và chính quyền có thể nhận thức được mức nguy hại của ô
nhiễm môi trường và có các phương pháp để giảm thiểu và khắc phục.
2.Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu:
2.1.Địa điểm vị trí địa lý của làng nghề sơn mài Hạ Thái - Thường Tín:

phải sống trong không khí ô nhiễm vì các xưởng sản xuất đều nằm xen dân
cư. Qua nghiên cứu cho thấy: ”Nồng độ hơi xăng và dung môi hữu cơ được
đo tại 1 xưởng sản xuất cao hơn 10 đến 15 lần quy động trong tiêu chuẩn Việt
Nam”, nồng độ các chất thải rắn lơ lửng, chất hữu cơ trong nước thải của cơ
sở này cùng cao hơn mức bình thường. Trong thành phần các dung môi pha
sơn bị phát tán ra không khí đều có thành phần những oxit sắt (tạo màu đỏ),
crom kẽm(tạo màu vàng), crom chì(vàng cam) và những hợp chất dễ bay
hơi như xylen, toluen, axeton,butinaxetat. Những chất này khi xâm nhập vào
cơ thể tích tụ dần có thể gây ung thư, giảm trí nhớ, giảm thị lực, đặc biệt là
các bệnh liên quan đến đường hô hấp, viêm họng, viêm phế quản.
- Cuối năm 2002, hệ thống xử lý bụi sơn và hơi dung môi đầu tiên được đề tài
“Nghiên cứu đề xuất các mô hình quản lý và cải thiện môi trường các làng
nghề đồng bằng Bắc Bộ” lắp đặt tại Xưởng sơn mài Mỹ Thái, chỉ sau 1 tuần
sử dụng đã ngừng hoạt động. Sau khi hệ thống này ngừng, toàn bộ việc giảm
thiểu chất thải khí độc cho cả làng chỉ trông vào vài chục cái ống khói thủ
- 5 -
công. Nhưng những ống khói cao nhất (8m) cũng không thể phát tán hơi dung
môi độc hại ra khỏi bán kính 4 km làng Hạ Thái. Hơi sơn độc hại vẫn lẩn
quẩn trong làng, bám vào mọi người, mọi nhà.
2.3.Lý do chọn điều tra tại làng nghề này.
- Vì làng nghề này là một làng nghề điển hình, nó mang đầy đủ các tính chất
về một làng nghề của Việt Nam:
+ Mang giá trị truyền thống, lâu đời, làng nghề sơn mài Hạ Thái đã có thời
gian tồn tại và phát triển hơn 100 năm.
+ Hiện nay nghề sơn mài đang rất được ưa chuộng nên quy mô và phương
thức sản xuất ngày càng được mở rộng.
+ Sự phát triển là do tự phát, cách sản xuất còn thiếu đồng bộ nên gây ra ô
nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cảu người dân và hệ sinh thái
xung quanh.
+ Làng nghề này đem lại thu nhập lớn cho người dân, đóng góp 75% giá trị

này khó có thể sử dụng giá thị trường do đó đòi hỏi các nhà kinh tế môi
trường phải có cách tiếp cận phù hợp.
• Giá trị tùy chọn(OV): phụ thuộc vào đặc trưng của từng hệ sinh thái do
đó nó cũng có thể dễ lượng hóa hoặc dễ lượng hóa.
• Giá trị tùy thuộc(BV): OV và BV có những nét tương đồng tuy nhiên
BV khó lượng hóa hơn do nó còn tùy thuộc vào giá trị của người sử
dụng.
• Giá trị tồn tại(EXV): phản ánh khả năng tồn tại và buộc phải tồn tại
của giống loài hay hệ sinh thái đó và nếu nó không còn cũng có nghĩa
hệ sinh thái đó bị phá vỡ và là nguy cơ dẫn đến nhiều khủng hoảng môi
trường
- 7 -
Phần III : Các phương pháp nghiên cứu :
Tại làng nghề sơn mài Hạ Thái ô nhiễm chính chủ yếu khuếch tán trong
không khí. Trong các công đoạn sản xuất thợ thủ công sử dụng sơn, chất dung
môi bả, sấy không đảm bảo qui trình sử lý ô nhiễm đã bay vào không trung
gây mùi khó chịu gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng chủ yếu là các bệnh
liên quan đến hô hấp như viêm họng, viêm phế quản ngoài ra còn có khả năng
mắc nhiều bệnh nguy hiểm khác ( giảm trí nhớ, giảm thị lực, ung thư, ).
Tiếp đó là gây ảnh hưởng tới môi trường nước ( cá trong ao làng bị nhiễm độc
không ăn được ), môi trường đất, Để tính toán những thiệt hại ô nhiễm môi
trường ta có thể sử dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp chi phí thay thế:
- Đây là phương pháp dựa trên cơ sở tính toán xem xét các chi phí để khôi
phục hoặc phục hồi môi trường bị thiệt hại đưa về mức nguyên trạng của nó.
Tổng giá trị chi phí này có thể coi là giá trị của chất lượng môi trường.
- Để thực hiện tính toán chi phí thay thế được coi là giá trị chi phí môi trường
trước hết ta phải xác định được loại chi phí nào là chi phí cho môi trường như
chi phí để ngăn chặn ô nhiễm tiếng ồn, chi phí ngăn bụi, lọc nước, chống
nhiệt độ tăng. Cần thực hiện:

bỏ sót do đó xét về mặt dài hạn thì những thiệt hại này vẫn tiềm ẩn
những nguy cơ mà trong bản thân tính toán thiệt hại môi trường hay chi
phí thay thế không thể liệt kê được đầy đủ.
2. Phương pháp đáp ứng liều lượng:Đây là phương pháp dựa trên nguyên lý
về sức chịu tải của môi trường(carring capacity) và mức độ tăng lên của
những tác động tới môi trường thì có 1 phản ứng của hệ sinh thái và nếu vượt
qua ngưỡng cho phép của sức chịu tải thì người ta nói môi trường bị ô
nhiễm.Trên cơ sở nguyên lý đó người ta xây dựng mô hình trong mối quan hệ
giữa lượng thải ra môi trường của hoạt động sản xuất (tiêu dùng) sẽ có 1 thiệt
hại có thể tính được bằng giá trị.
3.Phương pháp chi phí sức khỏe: là phương pháp tính toán thiệt hại dựa trên
những ảnh hưởng mà ô nhiễm gây ra cho sức khỏe.
4.Phương pháp tính toán chi phí trực tiếp: tính toán trực tiếp được thiệt hại ô
nhiễm dựa trên giá cả thị trường.

- 9 -
Phần IV: Quy trình tính toán:
1. Quy trình sản xuất sơn mài gây ô nhiễm:
1.1 Bó hom vóc: Dùng đất phù sa (hoặc bột đá) trộn sơn cùng giấy bản rồi
hom, chít các vết rạn nứt của tấm gỗ .
1.2 Trang trí:Khi có được tấm vóc người sản xuất phải làm các công đoạn
gắn, dán các chất liệu tạo màu cho tác phẩm như: vỏ trứng, mảnh xà cừ, vàng,
bạc sau đó phủ sơn rồi lại mài phẳng, tiếp đến dùng màu.
1.3 Mài và đánh bóng: Có một số thứ để mài và đánh bóng như: than củi xoan
nghiền nhỏ, tóc rối, đá gan gà v.v
2.Các nguồn gây tác động:
• Bụi: phát sinh trong quá trình mài và phun sơn
• Nước thải: phát sinh trong quá trình làm đất phù sa, pha sơn.
• Chất hóa học: có trong dung môi,các chất liệu để tạo màu,các loại sơn
phát tán trong quá trình pha trộn,phun sơn.

50
10
50
51.000.000 đ
300.000.000 đ
3.000.000 đ
(số liệu: niên giám thống kê hà tây)
Tổng thiệt hại = ∑ (Chi phí chữa bệnh i x Chênh lệch số người mắc bệnh)
- Ngoài ra người dân còn phải chi thêm các chi phí để khắc phục ô nhiễm
như: chi phí mua khẩu trang,mua kính,làm cửa ngăn bụi,
3.2.Thiệt hại gây ra cho hệ sinh thái.
a.Thiệt hại đến việc nuôi cá: do nước sông ô nhiễm dẫn đến hiện tượng cá
chết hàng loạt, hoặc không nuôi được gây ra thiệt hại lớn về kinh tế.
Các bước đánh giá (Phương pháp chi phí thay thế):
Tiến hành điều tra sản lượng cá ở làng Hạ Thái và ở làng Chính Lý
Hạ Thái Chính Lý Giá
Sản lượng/năm 150 kg 1000 kg 20.000 đ/kg
∑Thiệt hại = giá x chênh lệch sản lượng.
- Chi phí khắc phục thiệt hại như: + Chi phí đào sâu ao
+ Chi phí mua hóa chất để lọc nước
+ Chi phí mua lại giống
- 11 -
b.Thiệt hại do ô nhiễm nước sinh hoạt: Do nguồn nước bị ô nhiễm nên các hộ
dân phải xây dựng thêm bể chứa nước,khoan giếng để lấy nước phục vụ sinh
hoạt. Tuy nhiên, có giếng khoan có hiện tượng nước bị tanh và có váng do
nước thải ngấm vào mạch nước giếng, giếng đào sâu tới 20m nhưng vẫn
không dùng được, nhiều hộ đào 2 giếng nhưng đều phải bỏ không vì vậy
người dân còn phải mất chi phí để đào thêm và sâu giếng ngoài ra còn phải
mua các dụng cụ lọc nước khác.
Chi phí cho nước sinh hoạt = chi phí xây thêm bể nước,khoan giếng + chi phí

- 12 -
ngặt nếu vi phạm qui định chung về môi trường,tuyên truyền về tác dụng của
những dụng cụ bảo vệ người lao động(gang tay,khẩu trang ), thu tiền để xây
dựng các công trình xử lý ô nhiễm chung
- Chính quyền địa phương chưa có những biện pháp xử lý thích đáng với
những hộ gây ô nhiễm chung .
- Nhà nước và chính quyền cần phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề ô nhiễm
của các làng nghề(giúp làng nghề đưa ra các biện pháp để khắc phục và giảm
thiểu hậu quả,đầu tư vốn để nâng cao công nghệ )
- Việc xử lý môi trường chưa thật thỏa đáng,đa số mới dừng lại ở mức độ
hành chính.
2.Một số giải pháp:
- Riêng đối với làng nghề sơn mài Hạ Thái:
+ Lắp đặt hệ thống xử lý bụi sơn và dung môi hữu cơ
+ Áp dụng một số biện pháp để hạn chế ô nhiễm như quy định thời gian phun
sơn, thu gom rác và lập dự án di dời các hộ sản xuất khỏi khu dân cư.
- Đối với làng nghề nói chung:
+ Cần phải lắp đặt những hệ thống xử lý ô nhiễm.
+ Nâng cao ý thức của người dân.
+ Cải tiến công nghệ, hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại.
+ Cần thành lập trung tâm lưu trữ, xử lý chất thải nguy hại cho từng khu vực.
+ Nâng cao việc quản lý(kiểm tra và xử lý hành vi gây ô nhiễm) của chính
quyền đối với các làng.
+ Đối với các làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng cần phải đưa những cơ sở
sản xuất ra khỏi khu dân cư.
+ Các hộ sản xuất phải có đăng ký kinh doanh và cam kết bảo vệ môi trường;
khi xây dựng cụm, điểm công nghiệp làng nghề cần chú trọng đến việc thu
gom, xử lý nước thải, chất thải rắn, nước sinh hoạt hợp vệ sinh; các ngành
chức năng tăng cường kiểm tra, xét nghiệm mẫu nước thải để cảnh báo và xử
lý vi phạm;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status