Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Với xu thế hiện nay của quá trình đô thị hóa nhanh và sự phát triển
ngày một cao của nền công nghiệp trong mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi
toàn thế giới, nhiều vấn đề môi trường nảy sinh và đã trở thành nỗi lo của
toàn nhân loại. Đô thị hóa và công nghiệp hóa sẽ gây áp lực mạnh mẽ đối với
môi trường và tài nguyên thiên nhiên, làm mất sự cân bằng sinh thái, suy
giảm chất lượng môi trường.
Ở nước ta, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức
khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có những bước biến đổi tích cực. Bức tranh về
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang mở ra những tương lai tốt đẹp, hứa hẹn
một sự phát triển đầy triển vọng. Tuy nhiên, đồng thời với sự phát triển đó,
tình trạng xuống cấp về môi trường đang ngày càng rõ nét. Tại các thành phố
lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh môi trường đang xấu đi rất nhanh.
Các áp lực của đô thị như tài nguyên đất bị khai thác triệt để, để xây dựng đô
thị, diện tích cây xanh và mặt nước giảm, nhu cầu nước sạch phục vụ sinh
hoạt, dịch vụ và sản xuất tăng, bùng nổ các phương tiện giao thông cơ giới,
tăng nhu cầu năng lượng và nhiên liệu, ... ngày càng gia tăng, vượt quá khả
năng đáp ứng của đô thị. Từ đó, môi trường đô thị ngày càng bị ô nhiễm, đô
thị phát triển sẽ không bền vững nếu không có biện pháp kiểm soát, quản lý,
giải quyết các áp lực trên. Từ thực tế đó, đề tài "Bước đầu xác định thiệt hại
kinh tế do hoạt động giao thông đối với môi trường thành phố Hà Nội" xem
xét ảnh hưởng do hoạt động giao thông đối với môi trường dưới góc độ kinh
tế để tìm ra một số giải pháp phục vụ cho quá trình quản lý môi trường đô thị
hiện nay.
Trong nội dung đề tài, đối tượng nghiên cứu là các tác động tới môi
trường của hoạt động giao thông trong phạm vi thành phố Hà Nội được xem
xét dưới góc độ kinh tế và từ thực trạng các tác động đó đưa ra một số kiến
- 1 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghị và giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng môi trường đô thị nhằm
DO GIAO THÔNG
1.1. Môi trường
Theo nghĩa rộng thì môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có
ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Như vậy, bất cứ một vật thể, sự
kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường. Nhưng khái niệm
môi trường sử dụng trong đề tài này được hiểu là tổng hợp các điều kiện sống
của con người. Theo điều 1 Luật môi trường được quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993, "Môi trường bao gồm các yếu tố tự
nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và thiên nhiên."
Mọi hoạt động của con người đều có mối quan hệ mật thiết với môi
trường. Các hoạt động phát triển của con người đều có hai mặt lợi và hại, môi
trường cũng vậy, một mặt nó cung cấp nguồn tài nguyên và phúc lợi cho con
người, mặt khác đó cũng là nguồn thiên tai thảm họa đối với sản xuất và đời
sống con người. Hiện nay, do tác động mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, con
người ngày càng sử dụng nhiều hơn các yếu tố tự nhiên của môi trường để
phục vụ sự phát triển của mình nên môi trường tự nhiên ngày càng bị tác động
nghiêm trọng. Đặc biệt là tình trạng nguồn nguyên liệu và năng lượng được
- 4 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiêu thụ quá mức đã làm cho môi trường thiên nhiên bị đe dọa, đồng thời cũng
tạo ra nhiều ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của chính con người.
1.2. Ô nhiễm môi trường - tiêu chuẩn môi trường
1.2.1. Ô nhiễm môi trường
Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam 1993, ô nhiễm môi trường là sự
làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường. Như
vậy, xét trên phương diện pháp lý một tác động đến môi truờng chỉ bị coi là
gây ô nhiễm môi trường khi:
. Làm thay đổi tính chất môi trường
trường mà con người có thể chấp nhận được không gây ảnh hưởng gì đến sức
khỏe con người và môi trường hiện tại cũng như tương lai. Chẳng hạn, tiêu
chuẩn môi trường của Việt Nam về chất lượng không khí - khí thải phương
tiện giao thông đường bộ - giới hạn tối đa cho phép như sau :
Bảng 1: Giới hạn tối đa cho phép của thành phần ô nhiễm trong khí thải
Thành
phần ô
nhiễm
trong khí
thải
Phương tiện đang sử dụng
Phương tiện đăng ký
lần đầu
Phương tiện
động cơ xăng
Phương tiện
động cơ điezen
Phươ
ng
tiện
động
cơ
xăng
Phương tiện
động cơ
điezen
Mức
1
Mức
2
giá của các nhà khoa học tác động đến môi trường của các loại hình vận tải
khác nhau sẽ gây ra những tác động riêng đặc thù của từng hình thức phụ
thuộc vào loại phương tiện, nhiên liệu tiêu thụ, ... Dưới đây là những tác động
tới môi trường của một số loại hình vận tải đã được đánh giá:
Bảng 2: Tác động môi trường của một số loại hình vận tải
(Chapman and Hall 1991)
Môi
trường
không
khí
Môi
trường
nước
Môi
trường
đất
Chất
thải
rắn
Tiếng
ồn
Tai
nạn
Các tác
động
khác
Đường
bộ
Ô
nhiễm
ồn và
chấn
động
do các
phương
tiện
giao
Thiệt
hại về
tính
mạng,
thương
tật, tài
sản do
tai nạn
Chia
cắt
hoặc
phá
hoại
các khu
vực lân
- 7 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xăng),
ô
nhiễm
toàn
cầu
(CO
chuyển
các
chất
độc hại
cận
đồng
ruộng
hoặc
nơi cư
trú của
loài
hoang
dại; ách
tắc giao
thông
Đường
thủy
Thải
nước
đáy,
thải
dầu
làm
thay
đổi hệ
dòng
chảy do
xây
dựng
cảng,
Đường Mất đất Các Tiếng Các tàu Chia
- 8 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sắt
để xây
dựng
hệ
thống
đường
ga, kho
tàng để
po, các
phương
tiện cũ
tuyến
đường,
thiết bị
và
phương
tiện bị
vứt bỏ
ồn và
chấn
động
tại khu
vực ga
và
tuyến
đường
chở
tầng
cao,
gây
hiệu
ứng
nhà
kính và
suy
giảm
tầng
ôzôn
Do xây
dựng
sân bay
làm
thay
đổi
dòng
chảy,
tầng
nước
ngầm
Mất đất
để xây
dựng
cơ sở
hạ tầng,
các
phương
tiện cũ
bộ còn
ít hơn
- 9 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn Chapman and Hall - 1991
Hoạt động của các phương tiện vận tải:
Tác động của các loại phương tiện vận tải đối với môi trường đã được
nêu ở phần trên nhưng dưới đây là một số vấn đề đáng chú ý khác.
Nói chung, các phương tiện giao thông vận tải chiếm phần khá quan
trọng trong việc gây ô nhiễm không khí nhất là các đô thị và khu công nghiệp.
Tỷ trọng ô nhiễm không khí do các phương tiện giao thông gây nên so với
toàn bộ các nguồn phát thải tại một số thành phố lớn như Niu Đêli 57%, tại
Bắc Kinh 75%, Manila 70%, Kuala Lampua 86% (WRI 1994).
Về phương diện chiếm dụng mặt đường và phát thải của các phương
tiện có ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá lựa chọn các phương án nhất là trong
tổ chức giao thông đô thị. Trung bình để chuyên chở một hành khách thì xe
điện cần 0,9 m
2
, xe ô tô con cần 2 m
2
và xe buýt cần 1,1 m
2
.
Ngoài ra, sự hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải còn ảnh
hưởng tới ô nhiễm không khí toàn cầu. Các phương tiện vận tải cơ giới phát
thải khoảng 14% tổng lượng khí CO
2
trên toàn thế giới. Ngay ngành hàng
không cũng gây ô nhiễm đáng quan tâm, không những vì khối lượng phát thải
mà còn vì vị trí phát thải nữa. Theo cơ quan năng lượng quốc tế, năm 1990,
phân đoạn của các hidrocacbon có nhiệt độ sôi cao hơn.
Bảng 3: Thành phần khí thải của ô tô theo loại động cơ
ST
T
Thành phần khí
thải
Nồng độ % thể tích của khí thải
Động cơ xăng Động cơ điêzen
1 N2 74 - 77 76 - 78
2 O2 0,3 - 8,0 2 - 18
3 Hơi nước 3,0 - 5,5 0,5 - 4,0
4 CO2 5,0 - 12,0 1,0 - 10,0
5 CO 0,5 - 12,0 0,01 - 0,5
6 Nox 0,0 - 0,8 0,002 - 0,5
7 CxHy 0,2 - 3,0 0,009 - 0,5
8 Aldehyt 0,0 - 0,2 0,001 - 0,009
9 Muội 0,0 - 4 g / m3 0,01 - 1,1 g / m3
10 Bendơpiren
10 - 20 µg/m3 < 10 µg/m3
1.3.3. Con đường xâm nhập vào cơ thể người và động vật của các chất
ô nhiễm
Cơ thể con người được ngăn cách với môi trường xung quanh bởi 3 loại
màng chính :
+ Da.
+ Biểu mô của hệ tiêu hóa.
+ Biểu mô của hệ hô hấp
Để xâm nhập vào máu, một chất độc hại phải vượt qua các màng này
trước khi tấn công lên một vị trí xác định. Sự xâm nhập của một chất độc qua
- 11 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- 12 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- "Đáp ứng chia cấp bậc" : miêu tả sự ứng đáp của cá thể trên một
khoảng các liều lượng của một hóa chất và được đặc trưng bởi sự tăng liên
quan tới liều lượng trong tính khốc liệt của ứng đáp.
- "Ứng đáp định lượng" : miêu tả sự phân phối của các ứng đáp đối với
các liều khác nhau trong một quần thể của cá thể.
Có rất nhiều loại đáp ứng xuất hiện sau khi xảy ra tương tác giữa hóa
chất và cơ thể. Chúng bao gồm sự thay đổi hình thái, mức độ lớn và nhỏ, thay
đổi các chức năng sinh lý và sinh học. Một số yếu tố ảnh hưởng tới đáp ứng là
: đặc tính lý hóa, độ bền, độ tinh khiết của hóa chất, tiếp xúc nhiều hay ít, lâu
hay chóng, bằng con đường nào, tính trạng di truyền, loài, giống, giới tính,
tuổi, trọng lượng cơ thể, tình hình sức khỏe của đối tượng khi tiếp xúc, sự có
mặt của các hóa chất khác, điều kiện môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, ánh
sáng,..), khả năng đáp ứng hoặc chống chịu, độ nhạy cảm.
1.3.4. Tác động của các chất gây ô nhiễm không khí tới con người và
hệ sinh thái
Các chất ô nhiễm trong khí quyển gây nên vô số hậu quả tai hại không
những chỉ đối với các sinh vật, trong đó kể cả con người, mà còn đối với cả
các hệ sinh thái bằng cách làm rối loạn các chu trình sinh địa hóa.
Khí SO
2
là một trong những chất ô nhiễm khí quyển mà tác động của
nó lên các sinh vật là đáng lo ngại nhất hiện nay. Theo đánh giá năm 1982,
tổng lượng khí SO
2
đã được thải vào khí quyển bởi tất cả các nguồn là gần
200 triệu tấn. Khí này nhanh chóng chuyển thành axit sunfuric, một chất rất
háo nước và do đó nó đóng vai trò chủ yếu trong sự tạo thành khói mù axit,
một thứ sương mù đặc trưng cho các thành phố và khu công nghiệp, gây nên
rừng của cộng đồng kinh tế châu Âu bị đe dọa phá hủy bởi tác động tổng hợp
của khí SO
2
và mưa axit. Người và động vật cũng bị tác động bởi sự ô nhiễm
không khí do SO
2
. Tác hại của nó đối với động vật có vú thể hiện ở sự giảm
tính nhạy cảm của phổi ở nồng độ thấp hơn 1 ppm, còn ở nồng độ cao hơn thì
có sự tăng tiết tĩnh mạch phế quản. Khí SO
2
tác dụng hợp đồng với khói thuốc
lá gây nên bệnh viêm phế quản mãn tính ở người.
Các ôxit của N
2
cho dù chỉ độc đối với động vật và thực vật ở nồng độ
lớn nhưng cũng tạo thành một loại chất ô nhiễm không khí rất nguy hiểm, đặc
biệt là do tác dụng gián tiếp của chúng. Trong khí quyển thành phố bị ô nhiễm
và nhiều nắng, chúng chuyển thành các hợp chất PAN (PAN: ôzôn và
peroxiaxetyl nitrat) rất độc và là tác nhân thuận lợi cho sự tạo thành khói mù
quang hóa, là nơi xảy ra nhiều phản ứng khác nhau dẫn đến tạo thành ôzôn,
chất này đến lượt nó lại tác động lên các chất ô nhiễm khác như CxHy chưa
cháy để tạo thành PAN, những sản phẩm rất độc hại cho cả động vật lẫn thực
vật. Thực tế cho thấy rằng 15 ppb PAN đủ để gây ra bệnh bỏng là ở các cây
có hoa, còn ở nồng độ hàng chục ppb thì gây ra sự kích thích mạnh màng
- 14 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhầy của mắt và phế quản của động vật có vú, trong khi ở một số thành phố
thỉnh thoảng người ta vẫn đo được nồng độ đến 150 ppb.
Các hydrocacbua chưa cháy là các cấu tử chiếm ưu thế trong khí quyển
bị ô nhiễm, đặc biệt là ở các khu công nghiệp và các thành phố lớn, trong đó
khí hậu trên toàn bộ hành tinh. Khí CO
2
hấp thụ các tia hồng ngoại và giữ
nhiệt lại cho Trái đất, hiện tượng này được gọi là hiệu ứng nhà kính. Khi nồng
- 15 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
độ khí này ở mức cân bằng tự nhiên, hiệu ứng nhà kính giữ nhiệt cho Trái đất
làm cho nó không bị nguội lạnh đi. Thế nhưng sự tăng quá đáng nồng độ CO
2
kéo theo sự gia tăng nhiệt độ của các lớp dưới của tầng đối lưu. Sự gia tăng
này dẫn đến sự tan băng ở hai địa cực, làm tăng mực nước biển và do đó có
thể nhấn chìm các vùng đất thấp. Mặt khác, sự tăng nhiệt độ sẽ kéo theo sự
giảm lượng mưa và lượng băng tuyết rơi và làm đảo lộn chu trình sinh địa hóa
trong sinh quyển. Như vậy, sự tăng nồng độ của CO
2
trong khí quyển có nguy
cơ dẫn đến thảm họa sinh thái.
Các phân tử rắn được phân loại theo kích thước của chúng. Các phần tử
bé nhất được gọi là các phần tử không sa lắng vì chúng không thể rơi xuống
mặt đất dưới tác dụng của trọng trường. Các phần tử này có đường kính nhỏ
hơn 0,1 àm. Chúng là các phần tử nguy hiểm đối với sức khỏe của co người vì
có khả năng xâm nhập vào các phế nang. Mặt khác chúng làm ô nhiễm các
lớp trên khí quyển và gây ra sự ô nhiễm toàn cầu. Có hai loại phần tử gây nên
những vấn đề vệ sinh công cộng đáng lo ngại ở các đô thị đó là các dẫn xuất
của chì và sợi amiăng. Những nguồn chủ yếu gây ô nhiễm về bụi là ngành xi
măng, nhiệt điện, luyện kim, vật liệu xây dựng và hoạt động giao thông vận
tải. Từ năm 2001 trở về trước Việt Nam vẫn thường sử dụng xăng pha chì mà
tác hại của chúng đối với con người là rất lớn nhưng sau 2001 khi có quy định
cấm sử dụng xăng pha chì thì tình hình môi trường khả quan hơn.
1.3.5. Vấn đề ách tắc giao thông và tai nạn giao thông
hại bao gồm cả các chất độc hại và không độc hại, có thể ảnh hưởng tới đất,
không khí, nước. Những ảnh hưởng đối với con người bao gồm cả việc làm
giảm sức khỏe, giảm giá trị thẩm mỹ, giảm những giá trị kích thích mẫn cảm
và thời gian. Những thiệt hại về môi trường cũng có thể dẫn đến làm tuyệt
chủng các loài động vật, thực vật, cũng như phá hoại tài nguyên thiên nhiên
vĩnh viễn.
- 17 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về nguyên tắc, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường có thể xác định
theo tuần tự công việc:
- Đánh giá tác động môi trường chi tiết nhằm xác định phạm vi tác
động và yếu tố môi trường bị tác động do ô nhiễm.
- Sàng lọc các đối tượng và yếu tố môi trường bị tác động chính.
- Đo đạc, phân tích, so sánh các yếu tố môi trường bị tác động trong
phạm vi chịu tác động.
- Ước lượng bằng tiền các tổn thất tài nguyên môi trường khu vực bị
tác động bằng cách tính tổng thiệt hại về tài nguyên, các chi phí y tế, sức
khỏe, thiệt hại về kinh tế xã hội gián tiếp.
Trong thực tế, thật khó để trả lời chính xác mức phải trả cho các thiệt
hại kinh tế do ô nhiễm môi trường tuy rằng đã có một số nghiên cứu tìm ra
cách ước lượng chúng. Để ước lượng bằng tiền các thiệt hại do ô nhiễm môi
trường có thể sử dụng các phương pháp:
2.1.1. Phương pháp liều lượng đáp ứng
Phương pháp này đòi hỏi các số liệu kết hợp các phản ứng sinh lý của
con người, thực vật, động vật đối với áp lực ô nhiễm. Chẳng hạn như nếu có
một mức độ ô nhiễm nào đó làm thay đổi sản lượng thì sản lượng có thể đánh
giá bằng giá thị trường hoặc giá ẩn, đối với những tình huống có liên quan tới
sức khỏe con người, các nhà phân tích cần tìm cách đánh giá mức rủi ro gia
tăng của bệnh tật hoặc tử vong.
2.1.2. Phương pháp đánh giá hưởng thụ
các biện pháp làm sạch, phục hồi môi trường, giải quyết các mâu thuẫn của
cộng đồng đối với các dự án, cho thuê các tài sản và đánh giá thuế công bằng
hơn.
2.2.2. Nhật Bản
Một trong những cơ sở để đánh giá thiệt hại ở Nhật Bản là căn cứ vào
số liệu thực tế đền bù trong thời gian đã qua, tức là căn cứ vào số tiền thực tế
- 19 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đã đền bù, số kinh phí thực sự đã dùng để làm sạch môi trường do sự cố, đã bị
thiệt hại do ô nhiễm. Tổng những chi phí đó được coi là đại diện cho toàn bộ
thiệt hại về tài chính, do đó đây chỉ là một phần của thiệt hại do ô nhiễm.
Trong trường hợp các hộ hay đơn vị gây ô nhiễm không có biện pháp
ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm hoặc có nhưng chưa đạt yêu cầu quy định thì phải
nộp phí ô nhiễm để phục vụ cho việc đầu tư vận hành thiết bị, công trình xử lý
ô nhiễm tập trung.
2.2.3. Nga
Thiệt hại về mặt môi trường trong trường hợp tính toán thông qua chi
phí để bảo vệ sức khỏe do bệnh về môi trường gây ra theo Viện hàn lâm khoa
học Nga được tính toán theo một số công thức sau:
Chi phí kinh tế phát sinh do không ngăn chặn những thiệt hại của
sản phẩm thuần túy trong thời gian ốm đau của người lao động làm việc
trong khu vực sản xuất vật chất.
C
d
= P
t
.B.(P
2
- P
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B
d
: Số dân nhận tiền trợ cấp ốm đau do trạng thái môi trường suy
giảm trong 1 năm
V
t
: Mức trợ cấp trung bình cho tạm thời mất khả năng lao động tính
theo 1 ngày nghỉ ốm.
Chi phí kinh tế phát sinh do tăng các chi phí trong lĩnh vực bảo vệ
sức khỏe nhằm điều trị cho người lao động khỏi các bệnh do ô nhiễm môi
trường gây nên
C
d
= (Z
ng
B
ng
D
ng
) + (Z
n
B
n
D
n
)
Trong đó :
Z
ng
NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG
I. KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Vị trí địa lý và cơ cấu hành chính
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, trong phạm vi từ
20
o
53' đến 21
o
23' vĩ độ Bắc và từ 105
o
44' đến 106
o
02' kinh độ Đông. Phía Bắc
tiếp giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông với Bắc Ninh và Hưng Yên, phía Tây
với Vĩnh Phúc và Hà Tây ở phía Nam và Tây Nam. Với vị trí như vậy, Hà
Nội được coi là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia,
trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao lưu quốc tế.
Hà Nội có diện tích tự nhiên là 920,97 km
2
với số dân 2734,1 ngàn
người, mật độ dân số 2993 người/km
2
. Về đơn vị hành chính Hà Nội có 7
quận là Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Tây Hồ,
Cầu Giấy; 5 huyện, 102 phường, 8 thị trấn và 118 xã, chiếm 0,28% diện tích
tự nhiên và 3,5% dân số so với cả nước.
1.2. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
- 22 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.1. Về kinh tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đường phố nội đô Hà Nội có chiều dài 343 km với diện tích mặt đường
khoảng hơn 5,25 km
2
. Mật độ đường bình quân ở nội thành còn thấp 4,08 km
đường/km
2
và 0,19 km đường/1000 dân. Mạng lưới này còn phân bố không
đều như quận Hoàn Kiếm có 13,9 km đường/km
2
, trong khi quận Đống Đa
chỉ có 2,19 km đường/km
2
.
Mạng lưới đường nội đô có các đường trục chính là:
- Đường Giải Phóng - Lê Duẩn
- Đường Nguyễn Trãi - Nguyễn Lương Bằng - Tôn Đức Thắng
- Đường Cầu Giấy - Kim Mã - Nguyễn Thái Học - Tràng Thi
- Đường Đội Cấn - Lê Hồng Phong - Điện Biên Phủ
- Đường Hoàng Hoa Thám - Phan Đình Phùng
- Đường Trường Chinh - Bạch Mai - phố Huế
- Đường Nguyễn Văn Cừ - cầu Chương Dương
2.1.1.2. Các đường vành đai
Hiện tại Hà Nội có hệ thống đường vành đai thứ tự từ trong ra ngoài
với các tên gọi vành đai 1, vành đai 2, vành đai 3:
- Vành đai 1 có chiều dài 23 km, là một vành đai khép kín bắt đầu từ
đường Trần Khát Chân - Đại Cồ Việt - La Thành - đường Bưởi - Lạc Long
Quân - đường đê hữu sông Hồng - Trần Khát Chân.
- Vành đai 2 có chiều dài 38,4 km, cũng là một vành đai khép kín nối
từ dốc Minh Khai - Trường Chinh - Ngã Tư Vọng - Ngã Tư Sở - Đường Láng
Điển. Tuyến đường sắt xuyên tâm giao cắt đồng mức với đường bộ nên
thường xuyên gây ùn tắc trên các tuyến các tuyến giao thông liên hệ giữa
Đông và Tây thành phố.
Vành đai đường sắt phía Tây và phía Nam Hà Nội được xây dựng từ
những năm 80 có điểm đầu là Bắc Hồng, điểm cuối là ga Việt Hưng. Mặc dù
là đường sắt ở ngay thủ đô song cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ vẫn
trong tình trạng lạc hậu và nằm cách xa các khu dân cư nên hầu như chưa có
vai trò gì trong vận tải nội đô.
2.1.3. Đường sông
Đoạn sông Hồng chảy trên địa phận Hà Nội từ Thượng Cát, Từ Liêm
đến Vạn Phúc, Thanh Trì dài 47 km. Sông rộng bình quân 500 - 700 m, độ
- 25 -