Nhận thức của sinh viên về tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Kinh tế Quốc dân và trường Đại học Khoa họ155120 - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
o0o

HOÀNG THU HẰNG NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ TỆ NẠN
MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
QUỐC DÂN VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ
NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI) Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số : 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRỊNH VĂN TÙNG HÀ NỘI -2009
- 1 - MỤC LỤC


1.2.6 Khái niệm “Sinh viên” 32
1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 33
1.4 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 38
1.4.1 Về trường đại học khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội 38
1.4.2 Về trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội 39
1.5 Sơ lược về tình hình ma tuý trên địa bàn Hà Nội hiện nay 41
CHƢƠNG II: NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ TỆ NẠN MA TUÝ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43
2.1 Những kiến khái quát của sinh viên về ma tuý. 45
2.1.1 Những nhận biết chung của sinh viên về các chất ma tuý, về các hình
thức sử dụng ma túy và về khả năng tái nghiện 45
2.1.2 Những nhận biết của sinh viên về tác hại của ma tuý 50
2.1.3 Hiểu biết của sinh viên về luật phòng chống ma túy 52
2.2 Thái độ và tâm thế hành vi của sinh viên đối với các tình huống có
vấn đề liên quan đến ma túy 53
2.2.1Hành vi của sinh viên trong việc tìm kiếm, trao đổi các thông tin liên
quan đến ma tuý. 54
2.2.2 Suy nghĩ của sinh viên về những người nghiện ma tuý 57
2.2.3 Suy nghĩ của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến việc một số sinh viên sử
dụng ma tuý 60
2.2.4 Thái độ, hành vi của sinh viên khi bị lôi kéo, xúi giục thực hiện những
hành vi vi phạm pháp luật về ma tuý 63
- 3 - 2.2.5 Thái độ, hành vi của sinh viên khi phát hiện bạn bè, người thân có
những hành vi vi phạm pháp luật về ma tuý. 64
Chƣơng III: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI NHẬN THỨC CỦA
SINH VIÊN VỀ MA TUÝ 67

quốc tế về kiểm soát ma tuý của Liên hiệp quốc (Công ước thống nhất về các
chất gây nghiện năm 1961, Công ước về các chất hướng thần năm 1971 và
Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất gây nghiện và các chất
hướng thần năm 1988) thể hiện sự đồng tâm nhất trí của cộng đồng quốc tế
trong việc phòng, chống lại hiểm hoạ ma tuý. Tháng 4 năm 2000, lần đầu tiên
vấn đề ma tuý được đưa vào trong chương trình nghị sự của Hội đồng bảo an
Liên hợp quốc. Điều đó cho thấy rằng, thế giới ngày nay coi tệ nạn ma tuý là
một trong những mối đe doạ lớn đối với an ninh nhân loại.
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà
nước ta lãnh đạo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong tất cả
các lĩnh vực. Sự tăng trưởng kinh tế hội nhập với thế giới, tiếp cận nền kinh tế
tri thức đã làm thay đổi toàn bộ đời sống của nhân dân. Bên cạnh những thành
tựu mà nền kinh tế thị trường đem lại, là hàng loạt những vấn đề xã hội nảy
sinh. Một trong những vấn đề xã hội nảy sinh mà chúng ta cần quan tâm đó là
tệ nạn ma tuý. Đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý những năm qua đã được
Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo thực hiện. Từ năm 1993, Chính phủ đã
ban hành Nghị quyết 06/CP về tăng cường công tác phòng chống và kiểm
soát ma tuý. Ngày 01/09/1997, Chủ tịch nước ra quyết định về việc Việt Nam
tham gia ba Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý của Liên hiệp quốc. Các
- 2 - chương trình hành động phòng chống ma tuý giai đoạn 1998 - 2000 và giai
đoạn 2001 - 2005 liên tục được xây dựng và triển khai thực hiện. Luật phòng
chống ma tuý được Quốc hội khoá X thông qua và có hiệu lực từ ngày
01/06/2001 đã tạo cơ sở pháp lý để hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và đấu
tranh với ma tuý đạt được hiệu quả cao hơn. Trong luật phòng chống ma tuý
đã chỉ rõ: "Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức
khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia
đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh

Nghiên cứu nhằm vận dụng những phạm trù, khái niệm, phương pháp
nghiên cứu và các lý thuyết Xã hội học vào việc mô tả, giải thích về thực
trạng nhận biết, kiến thức, hiểu biết và tâm thế hành vi đối với ma tuý của
sinh viên hiện nay.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu “Nhận thức của sinh viên về tệ nạn ma tuý trên địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay” còn có một ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng.
Trên cơ sở phân tích một cách nhìn khoa học, chúng tôi mong muốn nắm bắt
kịp thời những nhận biết, kiến thức, hiểu biết và tâm thế hành vi đúng đắn/sai
lệch về ma tuý của sinh viên và những nhu cầu của họ trong việc nâng cao
nhận thức về ma tuý. Qua đó, nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị, giải
pháp thiết thực cho việc nâng cao hiểu biết của sinh viên các trường Đại học
về ma tuý
3 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức (nhận biết, kiến thức, hiểu biết và tâm thế
hành vi) của sinh viên về ma túy
- Đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm giúp sinh viên có những nhận
thức đầy đủ và đúng đắn hơn đối với tệ nạn ma tuý cũng như đối với cuộc đấu
tranh phòng chống ma tuý
- 4 - 4 Đối tƣợng nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên về tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố Hà
Nội hiện nay.
5 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên hệ chính quy của các trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà
Nội và trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội.
6 Phạm vi nghiên cứu

hay hình ảnh của nhóm mình về nhận thức của sinh viên về tệ nạn ma tuý,
chúng tôi tiến hành 16 phỏng vấn sâu với cơ cấu như sau: 10 sinh viên (05
sinh viên/trường, 02 nhà quản lí cấp trường (01 nhà quản lí/trường) và 04 đại
diện tổ chức đoàn thể xã hội gần gũi với sinh viên và gia đình).
7.4. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Kết hợp với việc đọc tài liệu ban đầu cũng như các kết quả phỏng vấn, chúng
tôi xây dựng bảng hỏi bán cấu trúc nhằm thu thập thông tin trên diện rộng về
nhận thức của sinh viên đối với ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đặc
biệt, những kết quả nghiên cứu định lượng sẽ được xử lí trên phần mềm SPSS
15.0 để khẳng định hay bác bỏ các giả thuyết được đưa ra sau khi phỏng vấn.
Giới thiệu mẫu nghiên cứu
- Phƣơng pháp chọn mẫu
- 6 - Mẫu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống vì khi đo nhận
thức của một lượng khách thể lớn, chúng tôi tin rằng, phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên hệ thống không loại trừ cơ hội của bất kì chủ thể nào trong nhóm
lớn. Hay nói cách khác, phương pháp này đảm bảo rằng, không sinh viên nào
bị mất cơ hội có thể được lựa chọn vào mẫu.
- Kết quả chọn mẫu và cơ cấu mẫu
Cuộc khảo sát xã hội học được tiến hành chọn mẫu trên cơ sở danh sách sinh
viên của hai trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội và Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, 201 sinh viên được chọn ngẫu
nhiên ngẫu nhiên hệ thống bao gồm 95 nam sinh viên và 106 nữ sinh viên,
đảm bảo điều kiện các sinh viên này là sinh viên học hệ chính quy để phỏng
vấn. Vì thế 201 sinh viên này có tính chất đại diện cao cho sinh viên của hai
đơn vị đào tạo trên và thông tin thu được có tính chất khách quan.
Cơ cấu mẫu:
Tiêu chí

hiện tại
Nội trú 80
40
Biểu 2: Cơ cấu theo nơi ở hiện tại
Ngoại trú
60%
Nội trú
40%

Ngoại trú
121
60 Trường
Đại học

Khoa học
Xã hội và
Nhân văn 101 50
Biểu 3: Cơ cấu theo trường


Điều kiện kinh tế xã
hội
Đặc điểm cá nhân
Kênh cung cấp thông
tin
Nhận thức
của sinh viên
về vấn đề ma
tuý: nhận
biết, kiến
thức, hiểu

chúng ta có thể tạm chia thành hai loại định nghĩa:
Loại thứ nhất, ít đề cập đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình thu
nhận kinh nghiệm xã hội. Các cá nhân dường như bị khép vào các chuẩn mực
khuôn mẫu mà không cưỡng lại được.
Loại thứ hai, khẳng định tính tích cực sáng tạo của cá nhân trong quá trình xã
hội hoá. Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham
gia vào quá trình tái tạo ra các kinh nghiệm xã hội.
- 10 - Dù có những quan điểm khác nhau nhưng các nhà khoa học đều thống nhất tại
một điểm: xã hội hoá là một quá trình: có khởi đầu, diễn biến và có kết thúc.
Neil Smelser, nhà xã hội học Mỹ đã viết: “Xã hội hoá là quá trình mà trong đó
cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình để phục vụ
tốt nhất cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai
trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình”. Theo nghĩa này, vai trò của
cá nhân trong quá trình xã hội hoá chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh
nghiệm, giá trị, chuẩn mực. Định nghĩa này chưa đề cập tới khả năng cá nhân
có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực để xã hội theo đuổi. Như
vậy, theo định nghĩa này thì dường như cá tính của con người bị tan biến vào
những đặc điểm xã hội mà cá nhân tiếp thu được.
Một nhà xã hội học khác của Mỹ có tên: Fichter đã xem xét: “xã hội hoá là
một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp
nhận những khuôn mẫu hành động, và thích nghi với những khuôn mẫu hành
động đó”. Như vậy, Fichter đã chú ý hơn tới tính tích cực của cá nhân trong
quá trình xã hội hoá đó là cá nhân không chỉ chấp nhận mà họ còn có thể
thích nghi được với những giá trị, kinh nghiệm mà anh ta tiếp thu được trong
quá trình tương tác với người khác.
Định nghĩa về xã hội hoá của của nhà khoa học người Nga G.Andreeva đã
nêu được cả hai mặt của quá trình xã hội hoá. Mặt thứ nhất của quá trình là cá

thành viên trong gia đình, từ cha mẹ, ông bà, anh chị
Quá trình xã hội hoá không chỉ diễn ra trong các gia đình cùng chung
sống với cha mẹ, tức là nơi họ được sinh ra và lớn lên, mà còn trong cuộc
sống gia đình vợ chồng. Để có cuộc sống hạnh phúc, các cặp vợ chồng cần
thích ứng các giá trị của họ với nhau. Tức là phải có sự tiếp nhận, học hỏi các
giá trị mới hay các khuôn mẫu hành động mới. Nói cách khác, phải tiếp tục
quá trình xã hội hoá của cả hai vợ chồng.
- 12 - Nhà trường nói chung, nhà trẻ, trường mầm non nói riêng là những
nơi trẻ em thực hiện hoạt động vui chơi và học tập bước đầu của mình. Thông
qua hoạt động này, trẻ em chủ yếu nhận những kiến thức ban đầu về tự nhiên
và xã hội. Những trò chơi, những mối quan hệ được hình thành tại đây giúp
trẻ em hoà nhập dần vào đời sống xã hội. Các cô giáo, thầy giáo hay bảo mẫu
là những người hướng dẫn, khuyến khích những hành vi đúng hoặc điều
chỉnh những hành vi sai lệch.
Trong các trường học, hoạt động chủ đạo của cá nhân là học tập. Đây
là nơi cá nhân bắt đầu được tiếp xúc với tính đa dạng xã hội. Ở trường, cá
nhân được tương tác với những thành viên không phải trong gia đình mình,
được dạy dỗ những điều khác với gia đình theo từng cấp độ khác nhau. Cá
nhân thu nhận kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên và xã hội, các kiến thức
văn hoá chủ yếu làm nền tảng cho cuộc sống sau này. Những kiến thức đó sẽ
phục vụ đắc lực cho việc thực hiện những vai trò mà cá nhân cần phải đóng
trong tương lai.
Về truyền thông đại chúng, trong vài thập niên gần đây, chúng ta đã
chứng kiến những bước tiến mạnh mẽ chưa từng thấy của các phương tiện
này. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực in ấn, xuất bản, truyền
hình, internet… giúp cho truyền thông đại chúng xâm nhập vào tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Truyền thông ngày nay đã vượt ra khỏi khuôn khổ là

giảng trên lớp của các thầy giáo, cô giáo, sách báo, thì môi trường xã hội phi
chính thức bao gồm toàn bộ sự dạy dỗ của xã hội đến cá nhân thông qua mọi
loại tương tác xã hội. Cá nhân thu nhận những kinh nghiệm xã hội, các giá trị
chuẩn mực của các tiểu văn hoá trong các tương tác phi chính thức.
Theo lý thuyết về xã hội hoá của nhà xã hội học và tâm lý học xã hội người
Nga – G. Andreeva, thanh niên – sinh viên là những người đang trong giai
đoạn bước đệm giữa giai đoạn trước lao động và giai đoạn lao động. Đặc thù
- 14 - của độ tuổi này là tính năng động, dễ thích ứng với cái mới nhưng cũng rất
bấp bênh, dễ đổ vỡ. Xét về mặt định hướng giá trị, hệ giá trị của nhóm thanh
niên – sinh viên đang trong giai đoạn định hình cũng dễ bị thay đổi [24,tr.51].
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng lý thuyết xã hội hoá để tìm hiểu và
lý giải những yếu tố môi trường sống xung quanh tác động như thế nào đến
quá trình hình thành và phát triển nhận thức của sinh viên về vấn đề ma tuý .
1.1.2 Lý thuyết về ý thức tập thể, ý thức xã hội và ý thức cá nhân của Émile
Durkheim.
Khái niệm ý thức tập thể hay khái niệm ý thức xã hội đóng vai trò
trung tâm trong sự nghiệp xã hội học của Durkheim. Theo Durkheim, ý thức
tập thể là biểu thị sự tồn tại của một tập hợp giá trị chung trong cùng một
nhóm tác nhân. Đây chính là tập hợp những niềm tin, những cảm giác chung
cho những thành viên của cùng một xã hội. Tất cả những tập hợp đó tạo thành
một hệ thống có giá trị riêng. Chính vì thế, nó được cả xã hội thừa nhận và có
tính cưỡng chế, áp đặt đối với hành vi của mỗi cá nhân. Hơn thế, nó còn đóng
vai trò quan trọng trong việc hình thành các giá trị chuẩn mực hay quy định
hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội.
Về vấn đề ma tuý, nhận thức được mức độ nguy hiểm của ma tuý đối
với xã hội như gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá
con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật

một xã hội không ma tuý. Hệ giá trị này quy định những hành động của cá
nhân về vấn đề ma tuý như: không hút ma tuý, không tham gia buôn bán, vận
chuyển, tổ chức, lôi kéo xúi giục người khác sử dụng ma tuý
Theo Durkheim, “Khi đo nhận thức của xã hội thì không phải là phép
cộng các ý thức các nhân lại mà là xem xét cá nhân đó đã xã hội hoá được bao
- 16 - nhiêu trong những giá trị chuẩn mực của xã hội” [21,tr.106-107]. Cá nhân,
nếu muốn tồn tại và phát triển trong xã hội thì phải thừa nhận và tuân theo hệ
giá trị mà xã hội đó đang mang trong mình nó. Hệ giá trị này mang tính khách
quan: nó như là những tập tục tồn tại ở bên ngoài cá nhân. Với tư cách là
thành viên của xã hội, cá nhân không còn cách nào khác là phải tham gia vào
quá trình xã hội hoá để có thể nhận thức được hệ thống giá trị này. Vì thế,
muốn đo nhận thức của sinh viên về ma tuý, chúng tôi vận dụng lý thuyết này
nhằm xem xét các hệ giá trị của xã hội về vấn đề ma tuý có ảnh hưởng như
thế nào đến nhận thức của sinh viên và sinh viên đó đã nhận thức như thế nào
về các nội dung liên quan đến ma tuý. Từ chỗ có nhận thức đúng về ma tuý
mới có thể giúp họ có mô hình hành vi thích hợp với mong đợi của xã hội.
1.1.3 Lý thuyết hành động xã hội
Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội có nguồn gốc từ V. Pareto.
M. Weber, F. Znaniecki, G. Mead, T. Parsons và nhiều nhà xã hội học khác.
Những lý thuyết này đều coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa
con người và xã hội, là đối tượng nghiên của của xã hội học, đồng thời là cơ
sở của đời sống xã hội loài người.
Lý thuyết hành động xã hội ra đời nhằm phản ứng lại quan điểm của
các nhà hành vi luận (Behaviorism) về hành động của con người. Hệ quan
điểm này cho rằng, không thể nghiên cứu được những yếu tố bên trong quy
định hành vi của các cá nhân, mà chỉ có thể biết đến những phản ứng bên
ngoài.

Dấu hiệu thứ ba mà Parsons dùng để phân biệt hành động xã hội với
hành động vật lý - bản năng sinh học là tính duy lý của hành động xã hội.
Tính duy lý này thể hiện ở chỗ, chúng ta có những độc lập nhất định khi hành
động một cách chủ quan. Tính duy lý còn thể hiện rõ ở chỗ chúng ta căn cứ
- 18 - vào hệ giá trị, chuẩn mực chính thống của xã hội và các cơ chế điều chỉnh
khác mà chúng ta tiếp nhận được một cách chủ quan.
Khởi điểm của hành động xã hội là nhu cầu, là lợi ích của cá nhân, cái
mà M. Weber gọi là động cơ thúc đẩy hành động.
- Những thành tố đầu tiên trong cấu trúc của hành động xã hội là động
cơ và mục đích của hành động. Nhu cầu của chủ thể tạo ra động cơ thúc
đẩy hành động để thoả mãn nó. Động cơ này sẽ tạo ra tính tích cực của chủ
thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động.
Các động cơ này cũng hướng các hành động xã hội đến việc đạt được
những mục đích (theo nghĩa rộng) nhất định hay đến những điều kiện sống
và làm việc, điều kiện hoạt động nói chung. Các động cơ của chủ thể hành
động không chỉ liên quan đến các nhu cầu vật chất, mà xét rộng ra các giá
trị, lợi ích, lý tưởng trong xã hội đã được các chủ thể tiếp nhận đều có thể
là nguồn gốc tạo ra các động cơ hành động. Tóm lại, mọi hành động xã hội
đều được các động cơ thúc đẩy, dẫn dắt, tạo ra các định hướng nhất định
để đạt được mục đích là kết quả đã được hình dung trước.
- Thành tố thứ hai trong cấu trúc của hành động xã hội là chủ thể hành
động. Chủ thể hành động có thể là các cá nhân, các nhóm, cộng đồng xã
hội hay toàn thể xã hội. Để có một hành động xã hội cần phải có tối thiểu
là một tác nhân (actor).
- Thành tố thứ ba trong cấu trúc của hành động xã hội là hoàn cảnh hoặc
môi trường của hành động. Đó chính là những điều kiện về thời gian,
không gian vật chất và tinh thần của hành động. Tuỳ theo hoàn cảnh hành

ảnh đủ lớn để chụp hết các góc độ của nó. Do vậy, chủ thuyết này tập trung
xây dựng các dữ liệu mang tính đại diện (có quy luật) để từ đó tìm ra các quan
hệ thống kê (Pierre Bourdieu : 1980, trang 87). Từ đó, người ta tập trung
nghiên cứu định lượng thông qua lấy mẫu xã hội và bảng hỏi cấu trúc hay
- 20 - bảng hỏi có định hướng (questionnary). Các lí thuyết cơ cấu thuộc dòng chủ
thuyết khách quan giả định rằng, cá nhân bị “quyết định” bởi các mối quan
hệ đã được cấu trúc hóa. Cá nhân sống trong cấu trúc nào dường như bị chi
phối bởi cấu trúc đó vì cấu trúc có “quyền lực cưỡng chế” , áp đặt lên cá
nhân. Do vậy, người ta thường nghiên cứu xã hội theo phương pháp luận tự
nhiên, logic hình thức và thực nghiệm xã hội. Hành động của cá nhân bị “xác
định” bởi cấu trúc mà cá nhân sống trong đó. Có thể nói một cách đơn giản
như sau : “cấu trúc nào sinh ra cá nhân đó”. Vì vậy, ngôn ngữ thể hiện các
quan hệ xã hội là ngôn ngữ tự nhiên hay ngôn ngữ công thức (formula).
Ngược lại, chủ thuyết chủ quan tập trung giải nghĩa xã hội từ kinh nghiệm cá
nhân. Các lí thuyết cá nhân thuộc chủ thuyết này tìm hiểu và diễn giải kinh
nghiệm cá nhân mà không đặt câu hỏi về những đặc thù xã hội (đặc thù cấu
trúc) trong hành động xã hội của các cá nhân ấy.
Trong lịch sử xã hội học, các tranh cãi giữa hai chủ thuyết này là vô tận : đặc
biệt được thể hiện rõ về mặt phương pháp luận (định lượng và định tính). Do
vậy, thuật ngữ habitus của Pierre Bourdieu ra đời nhằm dung hòa hai dòng
chủ thuyết này. Habitus đã tạo ra một định hướng cơ bản để giải quyết sự mâu
thuẫn giữa dòng thuyết khách quan (cấu trúc) và dòng thuyết chủ quan (cá
nhân). Pierre Bourdieu định nghĩa như sau : “Habitus là toàn thể các tâm thế
hành vi được học hoặc thẩm thấu vào cá nhân. Cá nhân có xu hướng tái tạo
các tâm thế hành vi ấy bằng cách kích hoạt các khung hành vi và thích ứng
chúng với các điều kiện hay hoàn cảnh mà họ sống trong đó” [21,tr.253] .
1.1.4.2. Ba sắc thái ngữ nghĩa của thói quen “habitus” theo định nghĩa của

tâm thế hành vi ra sao nhằm lý giải cho những hành vi của sinh viên đối với
các tình huống có vấn đề liên quan đến ma túy. Nếu như những thói quen của
sinh viên đã trở thành vô thức, thì khả năng bộc lộ những thói quen ấy ra
ngoài trong những tình huống có vấn đề thường rất dễ ràng. Đây chính là cơ
sở để đo nhận thức của sinh viên về ma túy một cách khách quan và chân thực
nhất. Đồng thời, nó cũng làm nền tảng phương pháp luận để giúp nhà nghiên

Trích đoạn Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Về trường đại học khoa học xã hội và nhân văn Đại học Quốc gia Hà Về trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sơ lược về tình hình ma tuý trên địa bàn Hà Nội hiện nay Những nhận biết chung của sinh viên về các chất ma tuý, về các hình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status