MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG LAO ĐỘNG..................................................................................1
1.1. Một số khái niệm....................................................................................................1
1.1.1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiêp (SCR).......................................................1
1.1.2. An toàn,vệ sinh lao động......................................................................................2
1.2. Vai trò của thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp....................................2
1.3. Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn vệ sinh lao động. 4
1.4. Nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề an toàn vệ sinh lao
động............................................................................................................................... 5
1.5. Hệ thống quản lý trách nhiệm xã hội-tiêu chuẩn SA8000.......................................5
PHẦN 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY..................................................................7
2.1. Giới thiệu chung về thành phố Hà Nội (TP.HN).....................................................7
2.2. Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, vệ sinh lao động
của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay....................................7
2.2.1. Trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động......................8
2.2.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp đảm bảo sức khỏe người lao động....................15
2.2.3. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động bị tai nạn, bệnh nghề
nghiệp.......................................................................................................................... 19
2.3. Đánh giá chung việc thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, sức khỏe lao
động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay...........................22
2.3.1. Mặt đạt được......................................................................................................22
2.3.2. Mặt hạn chế........................................................................................................22
PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG GIÚP NÂNG CAO THỰC HIỆN
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ VẪN ĐỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI......................23
3.1. Đối với nhà nước..................................................................................................23
3.2. Đối với các doanh nghiệp.....................................................................................24
: bệnh nghề nghiệp
8.TNLĐ
: tai nạn lao động
9.TNHH
: trách nhiệm hữu hạn
10.LĐ-TB&XH: Lao động-Thương binh và Xã hội
LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề TNXHDN đang ngày càng cần
sự quan tâm hơn, đặc biệt trong bối cảnh nước ta gia nhập sâu rộng hơn vào nền kinh
tế thế giới, phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế trong cạnh tranh. Các công ty
không chỉ cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng sản phẩm mà còn phải cạnh tranh bằng
những cam kết về chăm lo đời sống, môi trường làm việc cho nhân viên. Mặc dù
TNXHDN là khái niệm khá mới mẻ đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhưng nó
đã thật sự là một đòi hỏi của thực tiễn. Trong ngành dệt may Việt Nam, các doanh
nghiệp chịu áp lực rất lớn từ phía các đối tác nước ngoài trong việc tuân thủ các quy
định về TNXHDN vì hầu hết các doanh nghiệp dệt may đều đang sản xuất theo hình
thức gia công xuất khẩu. Vì vậy, các doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến vấn đề thực
thi trách nhiệm xã hội đối với không chỉ cán bộ công nhân viên mà cả đối với khách
hàng và các bên hữu quan khác. Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nên em xin chọn đề tài “ Thực trạng thực hiện trách
nhiệm xã hội về an toàn sức, sức khỏe lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay”
pháp luật hiện hành; thực hiện các ứng xử trong quan hệ lao động nhằm kết hợp hài
hòa lợi ích của doanh nghiệp, người lao động, cộng đồng, xã hội, người tiêu dùng và
đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
1
1.1.2. An toàn,vệ sinh lao động
An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm
nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao
động.
Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh
tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.
Nguồn : luật an toàn vệ sinh lao động 84/2015/QH13 ngày 25/6/2015
An toàn vệ sinh lao động( AT-VSLĐ) là tổng hợp các quy định của nhà nước về
các biện pháp bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp và khắc phục những hậu quả của tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, cải thiện điều kiện lao động cho người lao động
1.2. Vai trò của thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
* Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp
Việc triển khai thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ có tác dụng tích cực về nhiều
mặt đối với doanh nghiệp.
- Việc thực hiện trác nhiệm xã hội sẽ góp phần quảng bá và phát triển thương
hiệu cho doanh nghiệp;
- Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp luôn gắn với việc đảm
bảo chế độ lương bổng, đảm bảo an toàn lao động, tăng cường sự tự do hiệp hội,
…,qua đó có tác dụng kích thích tính sáng tạo của người lao động, thúc đấy việc cải
tiến liên tục trong quản lý và trong việc nâng cao năng suất, chất lượng lao động, cải
tiến mẫu mã hàng hóa, qua đó nâng cao hiệu quả công việc trong toàn doanh nghiệp,
tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Khi thực hiện trách nhiệm xã hội, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được khách
- Thỏa mãn những yêu cầu cơ bản mà họ đặt ra với doanh nghiệp.
- Được mua các sản phẩm có độ an toàn cao.
- Được sống trong môi trường sống an toàn.
- Được sống trong xã hội có tính nhân văn cao hơn
* Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng xã hội
Với cộng đồng và xã hội, việc thực hiện trách nhiệm xã hội giúp cho:
- cộng đồng và xẫ hội được sống trong một môi trường không ô nhiễm, hạn chế
được tối đa các bệnh tật do sự ô nhiễm môi trường gây ra.
- Cộng đồng và xã hội sẽ được sống trong môi trường mà trong đó không tồn tại
các tệ nạn xã hội, không có sự kỳ thị, đảm bảo công bằng và dân chủ,đảm bảo cho sự
phát triển bền vững.
- Cộng đồng và xã hội sẽ được hưởng lợi từ các hoạt động nhân đạo, từ thiện
3
của cac doanh nghiệp, ví dụ như ủng hộ quỹ cứu trợ người tàn tật, quỹ nạn nhân chất
độc màu da cam…, giúp cho những đối tượng yếu thế trong xã hội hòa nhập với cộng
đồng
1.3. Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn vệ sinh lao
động
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp về vấn đề an toàn vệ sinh
lao động là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp.
- Nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm.
Vấn đề an toàn vệ sinh lao động ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng,
hiệu quả.
Thực tế cho thấy, khi tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra,người lao động
và thân nhân của họ không những bị mất mát về con người, suy giảm sức khỏe mà khả
năng làm việc, thu nhập cũng bị giảm sút dẫn đến đói nghèo và những đau đớn về thể
xác, tinh thần.
1.5. Hệ thống quản lý trách nhiệm xã hội-tiêu chuẩn SA8000
SA8000 là tiêu chuẩn đưa ra các yêu cầu về quản trị trách nhiệm xã hội do Hội
đồng công nhận Quyền ưu tiên Kinh tế được ban hành năm 1997. Đây là một tiêu
chuẩn quốc tế được xây dựng nhằm cải thiện điều kiện làm việc trên toàn cầu, Tiêu
chuẩn này được xây dựng trên các Công ước của tổ chức lao động Quốc tế, Công ước
của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em và Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền, tiêu
chuẩn này có thể áp dụng cho các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, có
thể áp dụng cho các Công ty lớn và các Công ty có quy mô nhỏ.
-T iêu chuẩn SA8000 được xây dựng dựa trên các công ước và khuyến nghị của
ILO, xây dựng nên 8 yêu cầu về: Lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khỏe và
an toàn, quyền tự do hiệp hội và tỏa ước tập thể, phân biệt đối xử, kỷ luật, thời gian
làm việc, bồi thường. Trong đó nội dung chính về yêu cầu sức khỏe và an toàn là :
+ Công ty phải phổ biến kiến thức về ngành công nghiệp và các mối nguy đặc
thù và phải đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, phải có các biện
pháp thích hợp để ngăn ngừa tai nạn và tổn hại đến sức khỏe liên quan trong quá trình
làm việc, bằng cách hạn chế đến mức có thể các nguyên nhân của mối nguy có trong
môi trường làm việc.
+ công ty phải chỉ định một thành viên trong ban lãnh đạo có trách nhiệm đam
bảo an toàn và sức khỏe của mọi thành viên, và chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu
về sức khỏe và an toàn của tiêu chuẩn này.
+ Công ty phải thiết lập hệ thống để phát hiện, phòng tránh hoặc đối phó với
các nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng tới sức khỏe và an toàn của các nhân viên.
5
+ Công ty phải cung cấp phòng tắm sạch sẽ, nước sạch cho việc sử dụng của
mọi thành viên, và nếu có thể là các trang thiết bị hợp vệ sinh cho việc lưu trữ thực
phẩm.
+ Công ty phải đảm bảo rằng, nếu cung cấp chỗ ở cho nhân viên thì công ty
và của Hà Nội, thể hiện niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp với chính quyền, đồng
thời ghi dấu vai trò quan trọng của khối doanh nghiệp địa phương
2.2. Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, vệ sinh lao
động của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay
7
2.2.1. Trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động
Thực hiện trách nhiệm này các doanh nghiệp cần thực hiện các tiêu chuẩn về
pháp luật, khoa học, kỹ thuật , kinh tế nhằm ngăn ngừa các nguy cơ xảy ra sự cố làm
chấn thương và đe dọa tính mạng của người lao động, hạn chế các yếu tố có hại cho
sức khỏe người lao động trong quá trình lao động. Thực hiện triệt để trách nhiệm này
chính là doanh nghiệp thiết lập môi trường lao động thuận lợi, ngăn ngừa tai nạn lao
động và bệnh nghế nghiệp.
Về công tác đo đạc các yếu tố có hại trong doanh nghiệp:
Nhà nước đòi hỏi người sử dụng lao động phải đảm bảo nơi làm việc đạt tiêu
chuẩn về không gian, thời gian và độ thoáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi,
hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng ẩm, rung và các yếu tố có hại khác. Các
yếu tố phải được định kỳ kiểm tra đo lường.
Bộ luật Lao động quy định, người sử dụng lao động phải bảo đảm nơi làm
việc đạt tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng khí, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho
phép về bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố
có hại khác. Các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường. Người sử dụng lao
động phải tổ chức đánh giá, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc
để đề ra các biện pháp kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe cho
người lao động.
Đo lường các yếu tố độc hại ít nhất mỗi năm một lần. Việc đo môi trường lao
động là để phát hiện và đánh giá mức độ độc hại của môi trường lao động đến người
lao động làm căn cứ cải thiện điều kiện làm việc và giải quyết các chế độ độc hại cho
trưởng Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường (Bộ Y tế) Tiến sĩ Bác sĩ Nguyễn
Văn Sơn cho biết, có rất nhiều doanh nghiệp coi nhẹ môi trường, điều kiện lao động,
thiếu các biện pháp bảo vệ sức khỏe người lao động.
Đánh giá của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) cũng cho thấy, chỉ có từ 5
đến 10% số doanh nghiệp, cơ sở lao động hoạt động có đăng ký trên địa bàn thành phố
Hà Nội được giám sát môi trường lao động. Kết quả đo, kiểm tra môi trường lao động
ở những doanh nghiệp có giám sát đã xác định được nhiều mẫu vượt tiêu chuẩn cho
phép như: phóng xạ, từ trường, hơi khí độc, tiếng ồn, bụi, ánh sáng, độ rung… Trước
thực trạng môi trường lao động như vậy, thông qua các đợt khám sức khỏe định kỳ,
khám bệnh nghề nghiệp (BNN), đã phát hiện hàng nghìn người lao động mắc BNN.
Trong khi hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở lao động “phớt lờ” việc thực hiện quy định
của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động thì công tác kiểm tra, giám sát gần như bị bỏ
ngỏ,không được doanh nghiệp quan tâm.
Một số doanh nghiệp không trực tiếp sản xuất mà hoạt động kinh doanh tiếp
9
thị, bán sản phẩm nên cho rằng công việc của người lao động cũng như hoạt động của
doanh nghiệp không liên quan nhiều đến an toàn, vệ sinh lao động, do vậy không cần
phải tuyên truyền và đo đạc. Việc doanh nghiệp không thực hiện đo đạc môi trường lao
đọng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động từ đó làm giảm năng suất lao
động của doanh nghiệp. Đây là một điều mà doanh nghiệp chưa tính đến. Bản thân
gười lao động sẽ không được hưởng kịp thời chế đọ bồi dưỡng sau khi làm những
công việc nặng nhọc, độc hại
Về điều kiện làm việc của người lao động và việc trang cấp thiết bị bảo hộ lao
động cho người lao động
Theo quy định của Bộ luật lao động, đối với doanh nghiệp có lao động hiện
làm việc nặng nhọc, độ chại, nguy hiểm, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm
trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật, y tế và trang bị bảo hộ thích hợp, phải cung cấp
bệnh hay những chất độc hại qua đường hô hấp, khói, khí bụi bẩn từ môi trường sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe như viêm phổi, viêm họng…
- Trang bị bảo hộ lao động phần thân: Bao gồm quần áo bảo hộ lao động,
chống hóa chất, quần áo phòng sạch để bảo vệ người lao động tránh được những chất
độc hại, những hóa chất gây nguy hiểm đến tính mạng của người lao động , hạn chế tối
đa tai nạn trong nghề.
- Trang bị bảo hộ lao động phần tay: bao gồm các loại găng tay bảo hộ, giữ cho
tay sạch sẽ khi tiếp xúc với chất bẩn mà nó còn bảo vệ đôi tay khỏi những tác nhân
xấu có thể ăn mòn, phá hủy tay bạn tránh được những va chạm bên ngoài, tránh khỏi
vết thương, đau đớn khi bê vác vật nặng hoặc cầm những vật sắc, nhọn như kim loại,
gạch cứng...
- Trang bị bảo hộ lao động phần chân: Bao gồm tất cả các loại giày bảo hộ lao
động, dép, hay ủng bảo hộ….giúp bảo vệ bàn chân của người lao động, tránh gặp phải
những vật nhọn, sắc, cứng đâm vào chân, chất axit, chất lỏng ảnh hưởng đến da, ngăn
ngừa một số bệnh về da, đảm bảo an toàn đến sức khỏe của người lao động, để đạt
được kết quả tốt trong khi làm việc, hiệu quả công việc sẽ được nâng cao.
Một số tình huống công việc và các khâu sản xuất khác nhau mà người lao
động được đòi hỏi trang bị những phụ kiện kèm theo quần áo bảo hộ lao động khác
nhau:
+ Công nhân thực hiện các công tác tháo lắp, sửa chữa về điện sẽ được trang bị
gần như đầy đủ nhất cả về quần áo, găng tay và giày chống dẫn điện, nón bảo hộ….
+ Công nhân trong nhà máy sản xuất sản phẩm nhiều bụi như xi măng, hóa
chất…sẽ yêu cầu cao về việc sử dụng khẩu trang than hoạt tính, găng tay và quần áo
báo hộ.
11
+ Công nhân sản xuất cơ khí: yêu cầu cao trong sử dụng giày và găng tay dày
chống dẫn nhiệt, mắt kính bảo vệ mắt trước các tia lửa của máy hàn cơ khí, nón bảo
12
ATVSLĐ; 7 doanh nghiệp được hỗ trợ huấn luyện cho cán bộ làm công tác ATLĐ và
người lao động làm các nghề nặng nhọc, độc hại; gần 15 nghìn lao động được huấn
luyện định kỳ về công tác an toàn lao động, sơ cấp cứu người bị tai nạn lao động…
Tại các lớp huấn luyện, các học viên được quán triệt mục đích, ý nghĩa công tác
ATLĐ, VSLĐ; những quy định của pháp luật về ATVSLĐ như quyền, nghĩa vụ của
người sử dụng lao động và người lao động trong việc chấp hành quy định về
ATVSLĐ; chính sách, chế độ bảo hộ lao động đối với người lao động; huấn luyện xây
dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ trong các doanh nghiệp; phương pháp xây dựng, triển
khai kế hoạch, biện pháp ATVSLĐ, xây dựng nội quy ATLĐ; các yếu tố nguy hiểm, có
hại gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các biện pháp cải thiện điều kiện lao
động; những kiến thức cơ bản về kỹ thuật ATLĐ, VSLĐ; phương pháp tự kiểm tra
ATVSLĐ, khắc phục những thiếu sót, hạn chế, các nguy cơ mất ATVSLĐ tại cơ sở;
cách xử lý tình huống và các phương pháp sơ cứu người bị tai nạn lao động… Qua đó,
giúp các doanh nghiệp cũng như người lao động nâng cao nhận thức về vấn đề này.
Thực tế cho thấy, đa số các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã chủ động
huấn luyện an toàn cho người lao động; duy trì việc tuyên truyền kiến thức về ATLĐ
nói riêng, pháp luật lao động nói chung cho người lao động thông qua “góc an toàn”,
“phòng truyền thông về an toàn” .Hay việc tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh nội
bộ, bảng tin trong doanh nghiệp.
Một số DN rất quan tâm đến việc huấn luyện AT-VSLĐ cho người lao động: huấn
luyện theo định kỳ 6 tháng 1 lần.
Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nghiệp làm tốt công tác ATVSLĐ vẫn còn
một bộ phận doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa nghiêm túc thực hiện các quy định
pháp luật về ATVSLĐ. Điều 102 Bộ luật Lao động quy định: trước khi nhận việc,
người lao động, kể cả người học nghề phải được hướng dẫn, huấn luyện ATVSLĐ và
được huấn luyện định kỳ ít nhất mỗi năm một lần, thời gian huấn luyện ít nhất 2 ngày;
người lao động làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ phải được
động. Biểu hiện là việc phân công các bộ làm công tác này còn được ít doanh nghiệp
thực hiện( tuy nhiên ở các doanh nghiệp đã có sự phân công cán bộ làm công tác an
toàn lao động thì người lao động lại chấp hành tốt các quy định). Từ đó dẫn đến hệ quả
là người lao động dù được trang bị phương tiện cá nhân nhưng không hề sử dụng trong
khi làm việc do có ý thức kỷ luật kém lại không có bộ phận theo dõi, giám sát trong
doanh nghiệp. Trong thực tế đã có nhiều người lao động không sử dụng phương tiện bảo
vệ các nhân trong khi làm việc do nhiều nguyên nhân: thứ nhất, họ không nhận thức
được tầm quan trọng của các phương tiện bảo vệ cá nhân nên cho rằng sử dụng hay
không cũng không ảnh hưởng; thứ hai, khi sử dụng có thể gây khó khăn cho một số thao
14
tác khiến tiến độ thực hiện công việc bị chậm và năng suất lao động không cao.
Nhìn chung, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố chưa thực hiện tốt các
chỉ tiêu cơ bản về quy định đảm bảo an toàn vệ sinh lao độn, tỉ lệ các doanh nghiệp
không đạt tiêu chuẩn còn quá cao. Các doanh nghiệp thờ ơ, chủ quan trong vấn đề an
toàn lao động, vi phạm chủ yếu về vấn đề đo đạc môi trường làm việc, không huấn
luyện an toàn vệ sinh lao động, không kiểm tra tu sử máy móc định kỳ , không kiểm
tra nghiêm các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động trước khi đưa vào
sử dụng. Môi trường lao động trong một số doanh nghiệp vẫn còn bị ô nhiễm, chưa
đáp ứng được yêu cầu về an toàn nhất là một số doanh nghiệp nhỏ chưa đảm bảo được
các tiêu chuẩn về không gian,
độ thoáng, độ sáng, chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc,
phóng xạ, điện từ, nóng, ẩm, ồn, rung…
2.2.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp đảm bảo sức khỏe người lao động
Để thực hiện trách nhiệm này,các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HN cần tổ
chức huấn luyện, hướng dẫn thông báo cho người lao động quy định, biện pháp làm
việc an toàn; cung cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân; chăm lo sức khỏe người lao
động, khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏ định kỳ, quan tâm bố trí công việc
laoddoongj nhiều lời chưa được đảm bảo.
Về vấn đề khám sức khỏe định kỳ cho người người lao động:
Luật an toàn vệ sinh lao động quy định về khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề
nghiệp cho người lao động:
- Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần
cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người
khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức
khỏe ít nhất 06 tháng một lần.
Chi phí cho hoạt động khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều
trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả
-
Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ
cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám
chuyên khoa phụ sản, người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là
người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được
khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.”
Như vậy, tổ chức khám sức khỏe cho người lao động là hoạt động bắt buộc đối
với người sử dụng lao động. Chi phí cho hoạt động này do người sử dụng lao động chi
trả và sẽ được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo
16
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Nếu người sử dụng lao động không tổ chức khám
sức khỏe định kỳ cho người lao động thì có thể sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định
Khám sức khỏe định kỳ cho người lao động là việc làm rất quan trọng nhằm
đảm bảo quyền lợi cũng như sự an toàn trong lao động cho công nhân. Bởi khi làm
khỏe, còn sau đó thì không thấy ai nhắc đến nữa. Cũng thắc mắc nhưng không dám
kiến nghị với chủ doanh nghiệp, bởi đây là vấn đề tế nhị”. Hầu hết công nhân chỉ quan
tâm đến công việc đang làm, còn các doanh nghiệp lại không chủ động trong việc tổ
chức khám sức khỏe định kỳ cho công nhân. Người lao động lại “mù mờ” về điều này
hoặc nếu yêu cầu thì sợ ảnh hưởng đến việc làm nên không có kiến nghị gì với chủ
doanh nghiệp, vô hình trung đã làm mất đi quyền lợi chính đáng của mình.
Tuy nhiên ở phần lớn các doanh nghiệp còn lại trên địa bàn thành phố thì vấn
đề khám súc khỏe định kỳ cho người lao động lại rất được chú trọng và thực hiện rất
tiến bộ, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn.
Thực tế, những doanh nghiệp làm ăn chân chính, uy tín luôn thực hiện tốt nghĩa
vụ này. Điển hình như Công ty TNHH May Minh Tâm với đội ngũ lao động luôn trên
1.000 người, nhưng tất cả đều được khám sức khỏe định kỳ mỗi năm 2 lần. Theo bà
Phạm Nọc Thu, Trưởng phòng Tổ chức nhân sự công ty cho biết: “Công ty xác định
được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với người lao động. Trên hết, bảo vệ sức
khỏe người lao động chính là bảo vệ lợi ích, quyền lợi cho doanh nghiệp. Bởi doanh
nghiệp thực hiện đúng pháp luật quy định, người lao động được khám sức khỏe định
kỳ sẽ an tâm công tác, mang lại năng suất, và chính doanh nghiệp có lợi nhuận cao”.
Hay điển hình như Tổng công ty May 10, hoạt động chăm sóc sức khỏe người
lao động, khám sức khỏe cho người lao động diễn ra rất định kỳ:
Đặc thù của ngành may mặc là môi trường làm việc chịu nhiều tác động của
các yếu tố như bụi vải, tiếng ồn, ánh sáng và tư thế làm việc dẫn đến một số bệnh mãn
tính như: bụi phổi, viêm xoang, viêm mũi dị ứng, viêm phế quản, các bệnh về tai, mắt,
xương khớp và thoái hóa cột sống… Chính vì vậy, cứ 6 tháng một lần, Tổng công ty
May 10 tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, đặc biệt là nhóm lao động
làm việc theo danh mục công việc nặng nhọc độc hại. Kế hoạch khám sức khỏe định
kỳ được Trung tâm Y tế môi trường lao động xây dựng và phối hợp cùng phòng khám
Đa khoa Y Kao tổ chức khám sức khỏe cho toàn thể 12.000 người lao động tại tất cả
các đơn vị trong Tổng công ty.
Tại buổi khám sức khỏe định kỳ, cán bộ công nhân viên được khám tổng quát:
chuyển hóa cơ thể… và thực tế số ca mắc ngày càng nhiều. Qua các đợt khám sức
khỏe định kỳ cho gần 6.000 người lao động đã ghi nhận: 32,28% có sức khỏe thuộc
loại kém, 32,35% trung bình và gần 8% rất kém.
Bộ Y tế thừa nhận bệnh nghề nghiệp ở nước ta, đặc biệt là các bệnh liên quan
đến đường hô hấp và tiêu hóa, ngày càng gia tăng. Báo cáo mới nhất cho thấy đã có
gần 28.000 người lao động mới mắc bệnh nghề nghiệp. Tuy nhiên, con số thực tế có
thể cao gấp 10 lần. Trong tổng số 29 bệnh nghề nghiệp thì bệnh bụi phổi là phổ biến
19
nhất và nguy hiểm nhất (chiếm 74%), kế đến là đường hô hấp (32%) và điếc do tiếng
ồn (17%), chưa kể một loạt bệnh khác như nhiễm độc benzen; bệnh do tia X và các
chất phóng xạ; sạm da nghề nghiệp, viêm da… Tất cả các loại bệnh bụi phổi đều rất dễ
mắc và khi mắc lại khó chữa khiến người lao động mất khả năng lao động, thậm chí
một số bệnh có thể dẫn đến tử vong.
Tại TP HN, khảo sát của trung tâm y tế dự phòng còn cho thấy gần 67% doanh
nghiệp có môi trường chứa yếu tố nguy cơ nhưng chỉ gần 25% doanh nghiệp tổ chức
khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Theo số liệu tổng hợp báo cáo về tình hình tai nạn lao động(TNLĐ) của bộ
LĐ-TB&XH cho thấy, riêng năm 2016 trên toàn quốc đã xảy ra 7.981 vụ TNLĐ làm
8.251 người bị nạn. Trong đó số vụ TNLĐ chết người là 799 vụ, số vụ TNLĐ có hai
người bị nạn trở lên là 106 vụ, số người chết là 862 người, số người bị thương nặng là
1.952 người, nạn nhân là lao động nữ là 2.371 người. Còn tại Hà Nội Số liệu thống kê
cho thấy, năm 2016, trên địa bàn thành phố vẫn xảy ra 225 vụ tai nạn lao động làm 49
người chết và 202 người bị thương, khiến Hà Nội vẫn là một trong số các địa phương
có số vụ tai nạn lao động cao của cả nước.
Xét theo loại hình doanh nghiệp, công ty TNHH có tỷ lệ xảy ra tai nạn lao động
cao nhất, chiếm 37,1% số vụ tai nạn chết người và 37% số người chết. Kế tiếp là loại
hình công ty cổ phần, chiếm 34,2% số vụ tai nạn chết người và 34,3% số người chết.
khu vực kinh tế nhà nước lần lượt 2,7 và 3,04 lần…
Điều này chứng tỏ rằng lợi ích của người lao động trong hầu hết các doanh
nghiệp đều chưa thực sự được bảo vệ.
Về trách nhiệm lập biên bản giải quyết, báo cáo tình hình tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp lên các cơ quan chức năng chưa được thực hiện triệt để. Nhiều
doanh nghiệp báo cáo không đúng quy định, chưa thống kê đầy đủ các ngành ngề, số
lao động trên địa bàn thành phố. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp lơ là, thiếu kiểm tra
giám sát, quản lý lỏng lẻo vấn đề vệ sinh an toàn lao động. Đặc biệt, hơn 90% doanh
nghiệp trên địa bàn thành phố không thực hiện báo cáo tình hình tai nạn lao động...
hiện chỉ có 6-7% doanh nghiệp có báo cáo, chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), còn lại hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa
không có báo cáo thống kê về TNLĐ, mặc dù đã có qui định phải có báo cáo về tình
hình TNLĐ. Điều này khiến cơ quan quản lý rất khó đánh giá tình hình tai nạn lao
độngtrên địa bàn thành phố Hà Nội. Và việc doanh nghiệp có thực hiện tốt trách nhiệm
của mình đối với người bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp chưa được minh bạch.
21
2.3. Đánh giá chung việc thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, sức khỏe
lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
2.3.1. Mặt đạt được
Nhìn chung, các doanh nghiệp có quy mô lớn thực hiện các quy định về an
toàn, vệ sinh lao động cho người lao động tốt hơn. Các doanh nghiệp nhỏ do không đủ
nguồn lực để chi phí cho việc đầu tư cải tạo trang thiết bị , hoặc chưa có nhận thức đầy
đủ, tình trạng máy móc trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, nhà xưởng chật hẹp, thiếu ánh
sáng vẫn tồn tại dẫn đến điều kiện lao động không được đảm bảo
Các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm của mình về an toàn, sức khỏe lao
độngt hì đã làm tốt các công việc như: đo kiểm môi trường lao động, thường xuyên tổ
chức huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động, Trang cấp trang thiết