MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU:
B.NỘI DUNG:
1. Cơ sở lý luận :
1.1. Một số khái niệm:
1.1.1. Trách nhiệm xã hội:
1.1.2. An toàn ,vệ sinh lao động:
1.2. Vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe
lao động:
1.3. Nội dung thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn ,sức khỏe lao động:
2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn ,sức khỏe lao động trong các
doanh nghiệp ở Việt Nam :
2.1. Giới thiệu về doanh nghiệp Việt Nam:
2.2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn ,sức khỏe lao động trong
các doanh nghiệp Việt Nam:
2.2.1. Thực hiện trách nhiệm xã hội về tiêu chuẩn an toàn, sức khỏe lao động trong
các doanh nghiệp:
2.2.2. Thực hiện trách nhiệm xã hội về đảm bảo sức khỏe lao động :
2.2.3. Thực hiện trách nhiệm xã hội về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:
3.Giải pháp:
3.1.Đối với Nhà nước:
3.2. Đối với doanh nghiệp:
C.KẾT LUẬN:
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Người lao động: NLĐ
A.MỞ ĐẦU:
Bảo đảm điều kiện an toàn ,vệ sinh ,bảo vệ sức khỏe ,ngăn ngừa tai nạn lao động
,bệnh nghề nghiệp cho người lao động là một trong các yếu tố quan trọng để doanh
nghiệp ổn định sản xuất ,tăng năng suất lao động . Trong những năm qua , công tác an
lao động là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm:
Vấn đề an toàn sức khỏe lao động ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, hiệu
quả. Thực tế cho thấy, khi tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra, người lao động và
thân nhân của họ không những bị mất mát về con người, suy giảm sức khỏe mà khả năng
làm việc, thu nhập cũng bị giảm sút, dẫn đến đói nghèo và những đau đớn về thể xác, tinh
thần. Đối với người sử dụng lao động, khi tai nạn lao động xảy ra sẽ gây thiệt hại về chi
phí sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà xưởng; chi phí về y tế, giám định thương tật, bệnh
nghề nghiệp và bồi thường, trợ cấp cho người bị tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và
thân nhân của họ, uy tín của doanh nghiệp bị ảnh hưởng .Hoạt động sản xuất bị gián đoạn
do phải ngừng việc để khắc phục hậu quả, điều tra nguyên nhân gây tai nạn, gây tâm lý lo
lắng. Việc thực hiện trách nhiệm về an toàn vệ sinh lao động, từng bước cải thiện môi
trường làm việc, đảm bảo an toàn sức khỏe lao động là nâng cao năng suất lao động, khi
vấn đề an toàn tại nơi làm việc được cải thiện, sự thiệt hại về nguyên vật liệu và các sự cố
cũng như tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp giảm xuống thì khối lượng sản phẩm tăng
lên và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao ,bền vững.
Khẳng định thương hiệu, vị thế của doanh nghiệp, tạo sự phát triển:
Trong thời buổi mà thương hiệu mạnh được nhìn nhận như một công cụ cạnh tranh
đặc thù của doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn sức khỏe lao động
nhằm thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao, chất lượng tốt, tăng khả năng cạnh
tranh xây dựng thương hiệu trên thị trường cho doanh nghiệp, ngoài ra tạo ra lòng trung
thành, cam kết của người lao động đối với doanh nghiệp, góp phần phát triển bền vững
cho doanh nghiệp.
1.3. Nội dung thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn ,sức khỏe lao động:
Doanh nghiệp phải đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh để
phòng ngừa những tai nạn và thương tích có hại đến sức khỏe của người lao động .
Doanh nghiệp phải đào tạo cán bộ công nhân viên về an toàn lao động trong sản
xuất ,có những biện pháp và hệ thống quản lý thích hợp đảm bảo an toàn cho cán
Theo báo cáo của Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong
năm 2015, cả nước có 94.754 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký
là 601.519 tỷ đồng, tăng 26,6% về số doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so
với cùng kỳ năm trước. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế là 1.452.543 tỷ
đồng, bao gồm: tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 601.519
tỷ đồng và tổng số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn là
851.024 tỷ đồng. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt 6,3 tỷ đồng,
tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các
doanh nghiệp thành lập mới là 1.471,92 nghìn lao động, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm
trước.
Cũng theo số liệu của Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh, trong năm 2015, doanh
nghiệp đăng ký thành lập tăng ở tất cả các ngành, lĩnh vực so với cùng kỳ năm 2014. Một
số ngành có tỷ lệ tăng cao trên 50%, gồm có: kinh doanh bất động sản tăng 86,2%; nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 62,3%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 59,3%.
Trong năm 2016, cả nước có 21.506 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 39,5%
so với năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất,
kinh doanh trong năm là 9.467 doanh nghiệp, giảm 0,4% so với năm trước. Xét theo quy
mô vốn, trong năm 2015 số lượng doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng phần lớn
là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký nhỏ dưới 10 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 93,5%
trên tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng (cùng kỳ năm 2014 tỷ lệ này là
92,8%).
2.2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn ,sức khỏe lao động trong
các doanh nghiệp Việt Nam:
2.2.1. Thực hiện trách nhiệm xã hội về tiêu chuẩn an toàn, sức khỏe lao động trong
các doanh nghiệp:
Thực hiện trách nhiệm này các doanh nghiệp cần thực hiện các tiêu chuẩn về pháp
luật, khoa học, kĩ thuật kinh tế nhằm ngăn ngừa các nguy cơ xảy ra sự cố làm chấn
thương và đe dọa tính mạng của người lao động, hạn chế các yếu tố có hại cho sức khỏe
công tác an toàn, vệ sinh lao động; không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ các
phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động; việc tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh
cho người lao động sơ sài, hình thức, thậm chí nhiều nơi không tổ chức huấn luyện;
không có sổ sách theo dõi, thống kê đầy đủ tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
và thực hiện không nghiêm túc chế độ khai báo khi xảy ra tai nạn lao động; công tác quản
lý an toàn của các cấp đối với khu vực này gần như đang bị bỏ ngỏ… Trong khi đó, chế
độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ quỹ bảo hiểm xã hội chỉ áp dụng cho lao
động có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, còn hầu hết lao động phi chính thức không tiếp
cận được. Còn chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do người sử dụng lao động rất
khó thực hiện. Kết quả điều tra 1.665 cơ sở sản xuất cá thể năm 2015 cho thấy, chỉ có
5,47% cơ sở phi chính thức quy định bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp.
Điều này có thể thấy môi trường, điều kiện làm việc của người lao động tại các doanh
nghiệp cũng như việc cấp phát vật bảo hộ lao động cho người lao động chưa được các
chủ doanh nghiệp tuân thủ theo đúng Luật Lao động quy định về bảo hộ lao động , an
toàn vệ sinh lao động. Chưa có sự đầu tư cũng như mối quan tâm của các chủ doanh
nghiệp về điều kiện làm việc cho người lao động một cách thỏa đáng. Điều này ảnh
hưởng lớn đến vấn đề an toàn lao động, sức khoẻ của người lao động tại doanh nghiệp. Ý
thức của các chủ doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện làm việc tốt , thực hiện đúng đủ
trong việc cấp phát vật dụng bảo hộ cho người lao động do mình quản lý không phụ
thuộc vào quy mô phát triển của doanh nghiệp hay nguồn lực tài chính đầu tư cho doanh
nghiệp (100% vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh với nước ngoài, 100% vốn trong nước).
2.2.2.Thực hiện trách nhiệm xã hội về đảm bảo sức khỏe lao động :
Thực hiện trách nhiệm này, các doanh nghiệp cần tổ chức huấn luyện, hướng dẫn
thông báo cho người lao động quy định, biện pháp làm việc an toàn; cung cấp đầy đủ
phương tiện bảo vệ cá nhân; chăm lo sức khỏe người lao động, khám sức khỏe khi tuyển
dụng, khám sức khỏe định kì, quan tâm bố trí công việc phù hợp sức khỏe người lao
động, nhất là đối với lao động nữ. Tại các doanh nghiệp hiện nay qua tìm hiểu khi kiểm
tra công tác an toàn-vệ sinh lao động tại một số đơn vị của nhiều đoàn kiểm tra các cấp,
được phát khẩu trang bảo hộ lao động với tỉ lệ 70,66%. Có khoảng 50% công nhân được
hỏi cho biết họ được phát giầy dép bảo hộ lao động và găng tay bảo hộ lao động , trong
khi đó chỉ có 22,72% công nhân được hỏi cho biết họ được phát kính bảo hộ lao động.
Doanh nghiệp muốn tiết kiệm chi phí nên đã cắt giảm các khâu mua sắm trang thiết bị
bảo hộ cho người lao động. Hầu hết các doanh nghiệp khi bị thanh tra đều mắc phải các
lỗi như: Người lao động làm việc trong môi trường ô nhiễm lại không được trang bị mặt
nạ chống độc, không thắt dây an toàn, không đội mũ bảo hộ, không khám sức khỏe định
kỳ cho công nhân… Đặc biệt trong việc sử dụng lao động thiếu chuyên môn trong lĩnh
vực về điện, hàn.
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe người lao động
(NLĐ) cũng đạt được một số thành tựu nhất định. Hệ thống tổ chức thực hiện công tác vệ
sinh lao động, chăm sóc sức khỏe NLĐ được xây dựng từ trung ương đến cơ sở lao động.
Sức khỏe NLĐ được từng bước nâng cao thông qua việc giám sát môi trường lao động,
giám sát sức khỏe NLĐ, bố trí việc làm phù hợp với sức khỏe NLĐ, cải thiện điều kiện
lao động, nâng cao sức khỏe và huấn luyện cho NLĐ để bảo vệ sức khỏe, phòng chống
BNN. Tuy nhiên chỉ có khoảng 10-15% số doanh nghiệp lao động thực hiện đầy đủ các
quy định liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe NLĐ tại nơi làm việc và
kinh phí đầu tư cho ngành y tế chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng đối với công
tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe NLĐ khỏi các yếu tố có hại ở nơi làm việc đặc biệt là
hàng triệu NLĐ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, NLĐ trong các ngành nông, lâm,
ngư nghiệp và lao động tự do.
Hiện nay, nhân thức của người sử dụng lao động, NLĐ về an toàn sức khỏe lao động,
phòng chống bệnh nghề nghiệp còn hạn chế; Việc thanh kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu.
Không có thanh tra chuyên ngành vệ sinh lao động, vì vậy việc phát hiện, xử lý các cơ sở
lao động không chấp hành pháp luật về vệ sinh lao động gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt
là các cơ sở lao động có yếu tố nguy cơ cao.Việc đầu tư cho hệ thống y tế lao động tuy đã
có nhưng còn hạn chế.
Ví dụ: Thực tiễn tại quy trình điều tra vấn đề an toàn vệ sinh lao động tại các doanh
đồng, đó là chưa kể doanh nghiệp lựa chọn cơ sở y tế chưa đạt chuẩn nhưng vì chi phí
thấp nên sẵn sàng đăng kí khám chữa bệnh tại đó, hoặc chỉ làm thủ tục hồ sơ và khám thể
lực chung, các bệnh ngoài da, không phát hiện các bênh nghề nghiệp,... là xem như hoàn
thành nhiệm vụ.
2.2.3. Thực hiện trách nhiệm xã hội về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:
Thực hiện trách nhiệm này doanh nghiệp phải trả đủ lương, toàn bộ các chi phí y tế,
bố trí công việc phù hợp với mức suy giảm khả năng lao động của người lao động; phải
có bồi thường trợ cấp cho người lao động; đóng các loại bảo hiểm bắt buộc cho người lao
động; khi xảy ra tai nạn lao động doanh nghiệp phải lập biên bản, điều tra có sự tham gia
ban chấp hành công đoàn cơ sở, định kì khai báo về tất cả các trường hợp bị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp. Các doanh nghiệp đã và đang thực hiện đầy đủ các chính sách
bảo hiểm xã hội cho người lao động, bồi thường thiệt hại khi có tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, tuy nhiên mức độ bồi thường nhiều khi chưa được thỏa đáng, chưa bảo vệ
quyền lợi cho người lao động. Trách nhiệm lập biên bản giải quyết, báo cáo tình hình tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp lên các cơ quan chức năng chưa được thực hiên triệt để.
Nhiều địa phương báo cáo không đúng quy định, chưa thống kê đầy đủ các ngành nghề,
số lao động trên địa bàn, số doanh nghiệp, nên cơ quan quản lí rất khó đánh giá tình hình
tai nạn lao động trên toàn quốc.
Bệnh nghề nghiệp:
Theo số liệu của Bộ LĐTB&XH mới đưa ra, hàng năm, 80% người lao động làm
việc tại các cơ sở có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp được khám, phát hiện bệnh. Tuy
nhiên, vẫn có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa quan tâm đến điều kiện lao động. Các
hóa chất độc hại, môi trường làm việc không an toàn… đang là gánh nặng đè lên đời
sống, bào mòn sức khỏe của người lao động. Trong khi đó, người lao động rất "mù mờ"
về vấn đề này hoặc nếu yêu cầu khám chữa bệnh lại sợ ảnh hưởng đến việc làm, nên
không có kiến nghị gì với chủ doanh nghiệp, vô hình chung làm mất đi quyền lợi chính
đáng của mình.
Phó Cục trưởng An toàn Lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Bùi Đức
Nhưỡng cho biết, qua công tác thanh tra, kiểm tra của ngành chức năng cho thấy, hầu hết
nghề nghiệp mãn tính tích tụ lâu năm và rất nguy hiểm với sức khỏe sau này. Thời gian bị
bệnh thường kéo dài nên việc thống kê báo cáo thường gặp khó khăn. Công tác phòng,
chống bệnh liên quan đến nghề nghiệp cũng ít được quan tâm hơn so với phòng, chống
tai nạn lao động do thời gian đánh giá hiệu quả dự phòng chậm”.Đánh giá của Cục An
toàn lao động cho thấy, hàng năm chỉ có khoảng 6.000 cơ sở đo môi trường lao động và
chỉ có khoảng 5% lực lượng lao động trong cả nước đi kiểm tra bệnh nghề nghiệp. Những
người đến khám bệnh thường khi đã có xuất hiện những triệu chứng của bệnh . Còn theo
Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), hiện chỉ có khoảng trên 15% cơ sở lao động trong
toàn quốc được giám sát môi trường lao động, khám sức khỏe định kỳ. Theo thống kê,
bệnh bụi phổi là phổ biến nhất và nguy hiểm nhất (chiếm 74%), kế đến là điếc do tiếng
ồn (17%), rồi các bệnh khác như nhiễm độc benzen; bệnh do tia X; sạm da nghề nghiệp,
viêm da…
Tại Hà Nội, Trung tâm Sức khỏe và bệnh nghề nghiệp (Sở Y tế) đã khám và phát hiện
249 công nhân mắc bệnh nghề nghiệp. Tuy nhiên, số liệu thống kê này chưa phản ánh
đúng thực tế bệnh nghề nghiệp cũng như những tổn thất về sức khỏe, tính mạng, tài sản,
vật chất mà người lao động, các doanh nghiệp và xã hội phải gánh chịu. Bởi theo lãnh
đạo Cục Y tế dự phòng và Môi trường (Bộ Y tế), số công nhân bị bệnh nghề nghiệp trên
thực tế cao gấp 8 - 10 lần số báo cáo. Rất nhiều ngành mà lao động luôn bị ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp với các loại bệnh khá nguy hiểm, song không có trong danh mục
quy định của Bộ Y tế, gây thiệt thòi cho người lao động.
Trong năm 2012, cũng có 30.000 cơ sở sản xuất được đo kiểm tra môi trường lao
động, với gần 500.000 mẫu đo. Trong đó, có 11% số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh
cho phép, phần lớn là các yếu tố bụi, rung và điện trường. Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ
thuật bảo hộ lao động cũng đã thực hiện đánh giá về tình hình ô nhiễm môi trường lao
động tại 1.000 cơ sở sản xuất và cho thấy, có tới 68% phân xưởng sản xuất bị ô nhiễm
nhiệt, 20% ô nhiễm bụi, 17% ô nhiễm hơi khí độc hại… và rất nhiều phân xưởng bị ô
nhiễm đồng thời từ 2 yếu tố trở lên. Các bệnh có liên quan đến tình trạng ô nhiễm môi
trường chiếm tỷ lệ khá cao như viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi
số vụ); vật rơi, đổ sập (chiếm 18,5% tổng); điện giật (chiếm 13% tổng số vụ); còn lại là
do các yếu tố khác như máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn...
Hầu hết nguyên nhân các vụ tai nạn lao động xảy ra là do người sử dụng lao động ,
người lao động còn xem nhẹ việc chấp hành các quy định về an toàn sức khỏe lao động,
sự cẩu thả, thiếu kiểm tra, giám sát, thiếu trách nhiệm và không chấp hành đúng nội quy,
quy trình làm việc của cả người sử dụng lao động và người lao động là một trong nguyên
nhân chủ yếu gây ra các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng. Theo báo cáo 6 tháng đầu năm
2015 thì: Nguyên nhân để xảy ra tai nạn lao động ,chết người do người sử dụng lao động
chiếm hơn 55%, trong đó người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp
làm việc an toàn chiếm 26,1% tổng số vụ; người sử dụng lao động không huấn luyện an
toàn lao động cho người lao động chiếm 12%; thiết bị không đảm bảo an toàn lao động
chiếm 10,9% ; do tổ chức lao động chiếm 7,6%. Nguyên nhân từ phía người lao động
chiếm hơn 17 %, trong đó chủ yếu là do vi phạm quy trình, nội quy an toàn lao động
chiếm 13% tổng số vụ; không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,1% tổng số
vụ. Bên cạnh đó cũng có nguyên nhân từ phía các cơ quan quản lý nhà nước: Việc ban
hành các qui định, văn bản pháp luật từ luật, nghị định, thông tư đến các tiêu chuẩn, qui
chuẩn pháp luật về an toàn lao động hiện nay là tương đối đầy đủ nhưng còn chồng chéo,
phân tán, thiếu chi tiết trong các qui định về an toàn ,sức khỏe trong các chuyên ngành;
một số tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật đã cũ, lạc hậu không phù hợp với sự phát triển của
khoa học, công nghệ; công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý sai phạm của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời, nghiêm minh; cơ chế,
chế tài, các mức xử phạt vẫn còn nhẹ nên chưa đủ sức răn đe các chủ thể.
Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2016 trên toàn quốc đã
xảy ra 7.981 vụ tai nạn lao động làm 8.251 người bị nạn, 10 địa phương xảy ra nhiều tai
nạn lao động nhất là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Bình Dương, Quảng
Ninh, Hải Dương, Đồng Nai, Quảng Nam, Thái Bình, Quảng Trị. Cũng theo Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội, lĩnh vực xây dựng xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất, chiếm 23,8%
tổng số vụ tai nạn và 24,5% tổng số người chết.
thực hiện trách nhiệm xã hội đó.
Nghiên cứu cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nước để các doanh nghiệp vào cuộc
được thuận lợi, tổ chức giải thưởng để khích lệ tinh thần cho các doanh nghiệp
thực hiện tốt trách nhiệm xã hội.
3.2.Đối với doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp phải nghiêm túc chấp hành pháp luật của nhà nước, chính phủ, các
quy định về thực hiện trách nhiệm đối với an toàn ,sức khỏe lao động. Phải nhận thức rõ
thực hiện trách nhiệm là góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Đối
với trách nhiệm, cam kết về an toàn, sức khỏe lao động cần phải chú ý:
Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập
kế hoạch, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao
động. Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về
an toàn, sức khỏe lao động đối với người lao động, theo quy định của Nhà nước.
Cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biện pháp an toàn lao
động, vệ sin lao động trong doanh nghiệp; phối hợp với công đoàn cơ sở xây dựng
và duy trì sự hoạt động của mạng lưới an toàn và vệ sinh viên.
Xây dựng nội quy, quy trình an toàn ,sức khỏe lao động phù hợp với từng loại
máy, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy, thiết bị, vật tư và nơi làm
việc theo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước.
Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định, biện pháp an toàn, sức
khỏe lao động đối với người lao động.
Tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, theo tiêu chuẩn, chế độ quy
định. Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả tình hình thực hiện an
toàn lao động, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động với Sở Lao độngThương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động.Như vậy bảo đảm điều kiện
an toàn lao động, vệ sinh, bảo vệ sức khỏe, ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp cho người lao động là một trong các yếu tố quan trọng để doanh nghiệp ổn
định sản xuất, tăng năng suất lao động, phát triển bền vững. Song, do kinh phí tổ
chức đầu tư các hoạt động này còn quá lớn nên hầu hết doanh nghiệp vì lợi nhuận
thức tế trước mắt mà chưa thực hiện trách nhiệm, cam kết của mình với người lao
5.
o-218760.html.
http://bhxhlamdong.gov.vn/component/content/article/45-tin-2/7485-vit-nam-hinco-30000-ngi-lao-ng-mc-bnh-ngh-nghip-.html.
http://laodongthudo.vn/tren-55-vu-tai-nan-lao-dong-co-nguyen-nhan-tu-nguoi-sudung-lao-dong-25721.html.
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/13/4756/.
http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=25496.