LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ
SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC
DOANH NGHIỆPVIỆT NAM
HIỆN NAY
LÊ MINH BÍCH
1
LÊ MINH BÍCH
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC AN TOÀN – VỆ SINH LAO ĐỘNG 1
1. Một số thuật ngữ chính 1
2. Mục đích và ý nghĩa của công tác An toàn – vệ sinh lao động 1
3. Nội dung công tác An toàn – vệ sinh lao động 3
Lao động là yếu tố quan trọng nhất trong mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Trong thời đại bùng nổ công nghệ hiện nay, các máy móc không ngừng được sáng
tạo và phát triển nhằm nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, dù máy móc có hiện
đại đến đâu thì cũng không thể thay thế được con người trong mọi lĩnh vực sản xuất.
Chính vì thế, việc bảo vệ người lao động trước những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến
sức khoẻ và tính mạng của họ trong quá trình lao động là vấn đề được đặt lên hàng
đầu. Muốn làm được điều đó thì công tác An toàn- vệ sinh lao động trong các doanh
nghiệp phải được thực hiện một cách nghiêm túc và đồng bộ. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy, công tác vệ sinh - an toàn lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay còn tồn tại nhiều bất cập cần phải giải quyết một cách triệt để và có hiệu quả
hơn.
Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề: Thực trạng công tác an toàn-
vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam trong tình hình hiện nay, tìm
ra những hạn chế tồn tại và những nguyên nhân của vấn đề, từ đó đề xuất các khuyến
nghị và giải pháp khắc phục những hạn chế đó.
Nội dung đề tài gồm 3 phần:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề An toàn- vệ sinh lao
Chương 2: Thực trạng công tác An toàn- vệ sinh lao động trong các doanh
nghiệp Việt Nam trong tình hình hiện nay.
Chương 3: Một số khuyến nghị và đề xuất nâng cao hiệu quả công tác An toàn
- vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp Việt Nâm hiện nay.
Đề tài này không tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự giúp đỡ và
đóng góp của các thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn !
1
LÊ MINH BÍCH
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC AN TOÀN – VỆ
SINH LAO ĐỘNG
1. Một số thuật ngữ chính
Bảo hộ lao động (an toàn- vệ sinh lao động) là tổng hợp tất cả các hoạt động
2
LÊ MINH BÍCH
- Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho
người lao động.
2.2. Ý nghĩa
- Ý nghĩa chính trị
Bảo hộ lao động thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa là
mục tiêu của sự phát triển. Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, người lao
động khỏe mạnh, không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luôn luôn coi con người
là vốn quý nhất, sức lao động, lực lượng lao động luôn được bảo vệ và phát triển.
Công tác bảo hộ lao động làm tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe, tính
mạng và đời sống người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý
trọng con người của Đảng và Nhà nước, vai trò của con người trong xã hội được tôn
trọng.
Ngược lại, nếu công tác bảo hộ lao động không tốt, điều kiện lao động không
được cải thiện, để xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ,
uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút.
- Ý nghĩa xã hội
Bảo hộ lao động là chăm lo đời sống, hạnh phúc của người lao động. Bảo hộ
lao động là yêu cầu thiết thực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời là
yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động. Các thành viên trong mỗi
gia đình ai cũng mong muốn khỏe mạnh, trình độ văn hóa, nghề nghiệp được nâng
cao để cùng chăm lo hạnh phúc gia đình và góp phần vào công cuộc xây dựng xã
hội ngày càng phồn vinh và phát triển.
Bảo hộ lao động đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao
động khỏe mạnh, làm việc có hiệu quả và có vị trí xứng đáng trong xã hội, làm chủ
xã hội, tự nhiên và khoa học kỹ thuật.
Khi tai nạn lao động không xảy ra thì Nhà nước và xã hội sẽ giảm bớt được
những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tập trung đầu tư cho các công trình
phúc lợi xã hội.
giảm thiểu những tai nạn xảy ra đối với người lao động. Từ đó sẽ giúp tăng hiệu quả
lao động, giúp người lao động làm việc tích cực và gắn bó hơn với tổ chức. Ngoài
ra, việc thực hiện tốt công tác ATVSLĐ còn giúp doanh nghiệp tăng được tính cạnh
tranh trên thị trường.
4
LÊ MINH BÍCH
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN TOÀN – VỆ SINH LAO ĐỘNG
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH
HIỆN NAY.
I. Thực trạng công tác an toàn – vệ sinh lao động tại các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay
Trong những năm vừa qua, công tác ATVSLĐ đã có những chuyển biến tích
cực nhưng số vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn không ngừng gia tăng.
1. Tình hình tai nạn lao động
1.1. Tình hình chung
1.1.1. Số vụ tai nạn lao động (TNLĐ)
Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, năm 2013 trên
toàn quốc đã xảy ra 6695 vụ TNLĐ làm 6887 người bị nạn trong đó:
- Số vụ TNLĐ chết người: 562 vụ
- Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 113 vụ
- Số người chết: 627 người
+21 (3,5%)
5
LÊ MINH BÍCH
5
Số người bị thương nặng
1470
1506
+36 (2,5 %)
6
Số lao động nữ
1842
2308
+466 (25,3%)
7
Số vụ có 2 người bị
nạn trở lên
95
113
+18(19%)
Bảng 1: So sánh tình hình TNLĐ năm 2013 và năm 2012
1.1.3. Tình hình TNLĐ ở các địa phương
Những địa phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người trong năm
2013
TT
Địa phương
Số vụ
Số người
bị nạn
Số vụ
chết
Bình Dương
621
621
27
27
28
5
Đồng Nai
1.690
1.691
26
26
215
6
Thanh Hoá
44
52
17
21
31
7
Hà Tĩnh
59
64
16
16
34
8
Bắc Giang
109
T
T
Địa phương
Số vụ
Số vụ chết người
Số người chết
2012
2013
Tăng/
giảm
2012
2013
Tăng/
giảm
2012
2013
Tăng/
giảm
1
TP. Hồ Chí
Minh
1568
822
-746
98
90
-8
106
92
-14
33
27
-6
5
Đồng Nai
1624
1.690
+66
25
26
+1
27
26
-1
6
Thanh Hoá
77
44
-33
23
17
-6
23
21
-2
7
Hà Tĩnh
89
59
-30
1
10
Nghệ An
48
33
-15
12
13
+1
13
13
0
Bảng 3: So sánh tình hình TNLĐ năm 2013 với năm 2012 của 10 địa
phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người nhất
1.1.4. Một số vụ TNLĐ nghiêm trọng năm 2013
- Vụ tai nạn do sập dàn giáo xảy ra vào 23g00 ngày 11/01/2013 làm 03 người
chết tại công trình cầu Sông Tranh, thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương;
- Vụ tai nạn do ngã vào hồ xử lý chất thải xảy ra vào 10g20 ngày 24/4/2013
làm 03 người chết tại Công ty Hoà Dương, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, thành phố
Hồ Chí Minh;
- Vụ tai nạn do sập đá xảy ra vào 8g30 ngày 05/5/2013 làm 02 người chết tại
mỏ đá Lèn Rỏi, thuộc công ty TNHH Kiều Phương, xã Kỳ Tân, huyện Tân Kỳ, Nghệ
An;
- Vụ tai nạn do sự cố vận thăng xảy ra vào 6g30 phút ngày 18/5/2013 làm chết
03 người, tại công trình xây dựng khu đô thị Đại Thanh, Thanh Trì, Hà Nội do doanh
nghiệp xây dựng tư nhân số 1 - Công ty cổ phần đầu tư Hải Phát làm chủ đầu tư;
- Vụ tai nạn do sạt lở mỏ đá xảy ra vào 6g00 ngày 07/6/2013 làm chết 03
người và 01 người bị thương nặng tại mỏ đá xã Đông Quang, Đông Sơn, Thanh Hoá
thuộc Công ty TNHH một thành viên Sông Mã;
- Vụ tai nạn do ngạt khí xảy ra ngày 31/7/2013 làm 03 người chết tại vỉa than
vụ tai nạn và 2,1% số người chết.
1.2.2. Những lĩnh vực sản xuất kinh doanh xảy ra nhiều tai nạn lao động
chết người (Phân tích từ 175 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người)
- Lĩnh vực xây dựng chiếm 28,6% tổng số vụ tai nạn và 26,5% tổng số người
chết;
- Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 15,4% tổng số vụ và 14,3% tổng số
người chết;
- Lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện chiếm 6,3% tổng số vụ và 5,8% tổng số
người chết;
- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 5,1 % tổng số vụ và 4,8% tổng số người chết.
1.2.3. Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất (Phân
tích từ 175 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người)
- Ngã từ trên cao chiếm 26,9% tổng số vụ và 24,9% tổng số người chết;
- Điện giật chiếm 21,7% tổng số vụ và 20,1% tổng số người chết;
9
LÊ MINH BÍCH
- Máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 14,6% tổng số vụ và 13,6% tổng số người
chết;
- Vật rơi, đổ sập chiếm 14,3% tổng số vụ và 13,2% tổng số người chết;
- Tai nạn giao thông chiếm 11% tổng số vụ và 10,1% tổng số người chết;
- Vật văng bắn chiếm 4% tổng số vụ và 3,7% tổng số người chết.
1.2.4. Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người (Phân
tích từ 175 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người)
* Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 59%, cụ thể:
- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 22% tổng số vụ;
- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an
toàn chiếm 18% tổng số vụ;
- Người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động cho người lao
động chiếm 10% tổng số vụ;
- Do tổ chức lao động chiếm 6% tổng số vụ; người sử dụng lao động không
nặng trở lên và số nạn nhân là lao động nữ tăng lần lượt là 55,8% và 19% (chi tiết
tại Bảng 1 nêu trên). Thành phố Hồ Chí Minh có số vụ tai nạn lao động năm 2013
giảm 47,5% so với năm 2012.
1.3.2. Tình hình điều tra tai nạn lao động
Nhìn chung các vụ tai nạn lao động có khai báo đã được điều tra đúng quy
định tại Thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 21/5/2012 của
Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Y tế. Tuy nhiên nhiều địa
phương còn chậm gửi biên bản điều tra về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
số biên bản nhận được chỉ chiếm 31% tổng số vụ TNLĐ chết người. Do sự phối hợp
chưa tốt trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người theo hướng dẫn tại
Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC ngày
12/01/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an và Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao nên tiến độ điều tra các vụ TNLĐ chết người vẫn còn rất chậm
so với quy định. Còn nhiều vụ tai nạn xảy ra trong khai thác khoáng sản của tư nhân,
trong các công trình xây dựng nhà ở của dân chưa được tiến hành điều tra, thống kê
và báo cáo.
Trong năm 2013, một số địa phương đã tiến hành điều tra tai nạn lao động và
báo cáo về Bộ khẩn trương, kịp thời như: Quảng Ninh, Hà Nội, Bình Dương, thành
phố Hồ Chí Minh; trong đó tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hà Nội là những địa phương
thực hiện tốt nhất chế độ báo cáo nhanh các vụ tai nạn lao động chết người về Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội.
1.3.3. Chất lượng báo cáo tai nạn lao động năm 2013
11
LÊ MINH BÍCH
Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc báo cáo tình hình tai nạn lao động theo
đúng mẫu và thời gian quy định tại Thông tư liên tịch 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-
BYT ngày 21/5/2012 của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Y tế.
Nhiều địa phương không có “Báo cáo TNLĐ theo loại hình doanh nghiệp, nghề
nghiệp” hoặc số liệu báo cáo không đầy đủ, không đúng biểu mẫu quy định. Đặc
biệt tỷ lệ báo cáo của các doanh nghiệp về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
LÊ MINH BÍCH
Giới, ILO cho biết mặc dù số người chết vì bệnh nghề nghiệp cao gấp sáu lần tai nạn
lao động nhưng vấn đề bệnh nghề nghiệp lại không được chú trọng bằng.
Theo thống kê của Bộ Y tế, tại Việt Nam trong năm 2012, gần 2 triệu người
lao động – tức chỉ khoảng chưa đầy 4% lực lượng lao động có việc làm cả nước –
được khám bệnh. Trong số đó, 7% có sức khỏe loại yếu. Ngoài ra, từ năm 2007, với
chương trình phòng chống bệnh nghề nghiệp, bên cạnh việc quan tâm hơn đến công
tác nghiên cứu, bổ sung các bệnh nghề nghiệp mới, Bộ Y tế tiếp tục đầu tư kinh phí
cho nghiên cứu, xây dựng các kỹ thuật xác định nồng độ các chất độc hại trong môi
trường lao động cũng như cách đánh giá điều kiện làm việc của người lao động, xét
nghiệm cận lâm sàng khác phục vụ chẩn đoán bệnh nghề nghiệp. Lực lượng cán bộ
làm công tác sức khỏe nghề nghiệp cũng được tăng cường cả về số lượng và chất
lượng.
Hiện,môi trường lao động ở Việt Nam vẫn còn nhiều ô nhiễm. Theo thống kê
của Cục Quản lý Môi trường Y tế, trong giai đoạn 2006 – 2011, vẫn còn 14,26% số
mẫu đo môi trường vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (giai đoạn 2001 – 2005 tỷ lệ
này là 19,6%). Các yếu tố có tỷ lệ mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép cao nhất là ồn
(22,16%), phóng xạ (20%) và ánh sáng (15,28%), bụi (11,3%).
Trước thực trạng môi trường lao động như vậy, thông qua các đợt khám sức
khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp, đã phát hiện hàng ngàn trường hợp người lao
động mắc bệnh nghề nghiệp. Năm 2012, theo báo cáo của các tỉnh, thành phố và đơn
vị, 5.171 trường hợp nghi mắc bệnh nghề nghiệp đã được phát hiện, tập trung vào 7
bệnh bụi phổi silic, bụi phổi bông, viêm phế quản mãn tính, nhiễm độc benzen, bệnh
do quang tuyến X và các chất phóng xạ, điếc do tiếng ồn, sạm da nghề nghiệp, viêm
gan virus. Trong số này, đã giám định được 1.338 trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp
với 107 trường hợp được hưởng trợ cấp một lần và 175 trường hợp được nhận trợ
cấp thường xuyên. Tổng số cộng dồn bệnh nghề nghiệp đến tháng 12/2012 là 27.515
trường hợp.
II. Đánh giá thực trạng công tác an toàn - vệ sinh lao động trong các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
suất lao động, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Việc tổ chức khám bệnh, kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho công nhân đã được
các doanh nghiệp quan tâm và thực hiện một cách nghiêm túc. Đó là vì ngày càng
nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn
- vệ sinh lao động, hay trước hết là do họ nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng của
người lao động đối với kết quả sản xuất kinh doanh. Việc làm này là rất đúng đắn vì
nó hợp với nguyện vọng của công nhân, đặc biệt là công nhân làm việc trong các
lĩnh vực nguy hiểm. Từ đó, người lao động sẽ hăng say tích cực lao động đóng góp
vào xây dựng doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã chú trọng hơn đến việc cung cấp các
phương tiện bảo hộ lao động cho công nhân của mình. Điều này giúp họ tránh hoặc
hạn chế những yếu tố độc hại, nguy hiểm, góp phần giảm thiểu tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp.
14
LÊ MINH BÍCH
Việc tuyên truyền, giáo dục người lao động nâng cao ý thức trong việc thực
hiện các quy định về an toàn – vệ sinh lao động cũng đã được các doanh nghiệp thực
hiện đầy đủ và nghiêm túc.
Về phía người lao động
Ý thức chấp hành các nội quy, quy định về an toàn – vệ sinh lao động của
người lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ngày càng được nâng cao
do họ đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện VSATLĐ trong lao động
và sản xuất. Việc thực hiện tốt những điều này trước hết sẽ giúp người lao động đảm
bảo được sức khoẻ và khả năng lao động của mình, giúp họ tránh được những nguy
cơ đáng tiếc về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tránh được gánh nặng cho gia
đình và cho xã hội. Tiếp theo sẽ giúp tăng năng suất và chất lượng lao động.
2. Những hạn chế, tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện công tác ATVSLĐ còn tồn
tại những bất cập không nhỏ.
- Hệ thống pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động còn chồng
động, phòng chống bệnh nghề nghiệp, vì vậy gây khó khăn trong việc tổ chức thực
hiện công tác này; việc nghiên cứu, bổ sung bệnh nghề nghiệp mới vào trong danh
mục bệnh nghề nghiệp được nhà nước bảo hiểm còn chậm, thủ tục rườm rà, khó
khăn do đó cũng gây ảnh hưởng đến chế độ chính sách cho người lao động; các vụ
tai nạn lao động chết người hầu hết đều xử lý hành chính nội bộ, số vụ truy cứu trách
nhiệm hình sự chỉ chiếm khoảng 2% nên không có tác dụng giáo dục, phòng ngừa
việc tái diễn và thiếu các giải pháp hữu hiệu để giảm tai nạn lao động.
- Việc tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động của phần
lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa nghiêm, nhiều doanh nghiệp thực hiện các quy
định có tính chất chống đối sự kiểm tra của cơ quan quản lí Nhà nước.
Tại hội nghị tổng kết 18 năm thi hành pháp luật ATVSLĐ và định hướng triển
khai đến năm 2020 được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức mới đấy đã
chỉ ra việc tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay
còn rất yếu kém, đặc biệt ở các khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ; khu vực sản xuất
nông nghiệp, làng nghề. Mặt khác, người sử dụng lao động chỉ quan tâm đến những
quy định chung trong Bộ luật Lao động để tránh những sai phạm mắc phải, còn các
văn bản hướng dẫn thực hiện lại chưa được quan tâm thực hiện đầy đủ hoặc thực
hiện chỉ mang tính chất đối phó sự kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước.
Báo cáo của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội cho thấy, trong khi tại các
doanh nghiệp Nhà nước thực hiện pháp luật về ATVSLĐ đã được chú trọng thì trong
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tư nhân, bình quân mỗi năm chỉ có khoảng 13,8% chủ
sử dụng lao động tham gia các lớp huấn luyện ATVSLĐ. Chính vì vậy, việc cập nhật
thông tin, kiến thức và các văn bản quy phạm pháp luật là hạn chế, người sử dụng
lao động, cán bộ quản lý chưa hiểu biết được đầy đủ về các nghĩa vụ của họ trong
công tác bảo hộ lao động, ATVSLĐ mà pháp luật đã quy định, dẫn tới việc ý thức
thực hiện các quy định về chính sách, chế độ ATVSLĐ chưa cao.
Thực tế, tại đa số các công trình xây dựng, việc tổ chức khám sức khoẻ, tuyên
truyền huấn luyện về ATVSLĐ cho người lao động hầu như không được thực hiện.
Do đó, tỷ lệ tai nạn lao động tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực xây dựng (36%).
16
quả. Phần lớn nông dân lao động trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chưa được
thông tin, huấn luyện về cách phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Tác phong công nghiệp và nhân thức của người lao động chưa cao
Có một thực tế tồn tại là hầu hết các công nhân xây dựng không sử dụng đồ
bảo hộ lao động: không đội mũ, không đeo gang tay, thậm chí còn nhiều người đi
chân đất làm việc. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn lao
động.
17
LÊ MINH BÍCH
Mặc dù biết mức độ nguy hiểm nhưng nhiều người sử dụng các thiết bị vẫn
không tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn. Hiện nay, tất cả các thiết bị áp lực, từ các
bình gas, bình chứa khí nén cho tới các lò hơi hiện đại trong các nhà máy nhiệt điện
đều đã có các tiêu chuẩn an toàn trong tất cả các khâu từ sản xuất, vận chuyển, tàng
trữ, sử dụng… nhưng người sử dụng vẫn vi phạm các tiêu chuẩn an toàn này. Số vụ
tai nạn lao động do người lao động không chấp hành việc thực hiện các quy định về
an toàn và VSLĐ chiếm tới 23,9%, không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm
2,5% số vụ TNLĐ.
Nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động bao gồm cả những yếu tố chủ quan và
khách quan của chủ sử dụng lao động, người lao động cũng như sự thiếu sót trong
công tác quản lý của Nhà nước về bảo hộ lao động và ATVSLĐ.
- Các ngành chức năng ở Trung ương cũng như địa phương, chưa nhận
thức đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác bảo hộ lao động, an toàn lao
động, vệ sinh lao động, cũng như chưa thấy hết được tác hại và hậu quả xã hội
nghiêm trọng do điều kiện lao động xấu, gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho
người lao động.
- Nhiều nội dung quan trọng về an toàn lao động, vệ sinh lao động chưa
được quy định hoặc không thể quy định rõ trong trong Bộ luật Lao động, mà cần
phải có quy định chi tiết mới thể hiện được.
- Hệ thống tổ chức các cơ quan Nhà nước có chức năng giúp Chính phủ
thi hành Pháp luật an toàn lao động, vệ sinh lao động, trước hết là hệ thống tổ chức
động trong cả nước là 3.750.000 doanh nghiệp. Như vậy, tính bình quân, một thanh
tra viên phải quản lý trên 1.300 doanh nghiệp. Ông Hà Tất Thắng – Cục trưởng cục
An toàn lao động lược tính: “Căn cứ theo phương thức thanh tra theo đoàn thì bình
quân một thanh tra viên chỉ đi được khoảng 30 doanh nghiệp/năm. Để thanh tra hết
số doanh nghiệp mà mình phụ trách như đã tính ở trên thì phải mất khoảng 40 năm”.
Cũng theo ông Thắng, không chỉ thiếu, nguồn thanh tra còn yếu kém về trình độ. Có
tới 30- 50% cán bộ mới ra trường hoặc chuyển công tác. 25% cán bộ có trình độ cao
đẳng, trung cấp. Thực tế, thanh tra các sở Lao động Thương binh và Xã hội ở các
tỉnh chư đáp ứng được nhiệm vụ thanh, kiểm tra ở các doanh nghiệp trên địa bà của
mình. Thời gian chủ yếu là làm việc và giải quyết đơn thư, phần lớn các Sở chưa
thanh tra theo kế hoạch.
- Chế tài xử lý vi phạm luật ATVSLĐ chưa nghiêm .
Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền, tập huấn triển khai, phổ biến chế
độ chính sách, thông tin về VSATLĐ đến người lao động và người sử dụng lao động
của các cấp công đoàn đã được thực hiện nhưng chưa thường xuyên, nội dung huấn
luyện lại chưa sát cới công việc, nghề nghiệp cụ thể của người lao động; công tác
tham gia xây dựng các chế độ chính sách pháp luật về ATVSLĐ còn chưa hiệu quả
dẫn đến một số văn bản trong lĩnh vực ATVSLĐ còn có sự chồng chéo, không nhất
quán nên khó thực hiện.
Trong khi đó, các vụ tai nạn lao động chết người hầu như đều xử lý hành chính
nội bộ, số vụ truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ chiếm khoảng 2% nên không có tác
dụng giáo dục, phòng ngừa ngăn chặn các vụ tai nạn lao động.
19
LÊ MINH BÍCH
CHƯƠNG 3.
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG Ở CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
1. Cần điều chỉnh một số nội dung của luật An toàn – vệ sinh lao
LÊ MINH BÍCH
động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động và kiểm tra chất lượng về ATVSLĐ đối
với các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; cần được thống
nhất, tránh mâu thuẫn, trùng lắp với các luật trên để đảm bảo sự đồng bộ của pháp
luật.
2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức ATVSLĐ
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về công tác ATVSLĐ để người lao
động cũng như người sử dụng lao động nâng cao nhận thức về các chế độ chính sách,
kiến thức, kinh nghiệm hoạt động, gương điển hình về công tác ATVSLĐ, thông
qua các hình thức như: Tổ chức tuần lễ quốc gia về ATVSLĐ, toạ đàm, hội thảo, hội
thi An toàn vệ sinh viên, góc Bảo hộ lao động ở các cơ sở, các tài liệu, tờ rơi, tranh
ảnh, đồng thời xây dựng và thực hiện chương trình huấn luyện về ATVSLĐ hàng
năm, kịp thời cập nhật thông tin, phổ biến luật pháp và hướng dẫn các biện pháp
ATVSLĐ đến người lao động cũng như chủ sử dụng lao động.
3. Tăng cường công tác thanh, kiểm tra về ATVSLĐ trong các
doanh nghiệp
Các cơ quan, ban ngành chức năng cần có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của nhà nước về ATVSLĐ ở tất cả
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Trong đó, đặc biệt tập trung thanh
tra, kiểm tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các lĩnh vực xây dựng, lắp đặt-
sửa chữa- sử dụng điện, khai thác đá và sử dụng vật liệu công nghiệp, sử dụng các
thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.
4. Cần có các chế tài mạnh hơn đối với các hành vi vi phạm luật
ATVSLĐ
Cần sớm đề nghị xây dựng và bạn hành luật ATVSLĐ đế nâng cao vị trí pháp
lý của công tác ATVSLĐ, đặc biệt cần quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của
các tổ chức công đoàn trong công tác ATVSLĐ. Đồng thời tăng mức xử phạt cũng
có các chế tài mạnh hơn đối với các hành vi vi phạm luật ATVSLĐ. Mặt khác, cần
quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về ATVSLĐ cho các bộ, ngành để khắc
phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp cũng có vai trò quan trọng trong việc xử lý
pháp luật về ATVSLĐ, yêu cầu người có trách nhiệm ngừng hoạt động ở những nơi
có nguy cơ gây tai nạn lao động
+ Công đoàn cơ sở kịp thời kiến nghị với người sử dụng lao động thực hiện
các biện pháp đảm bảo ATVSLĐ và phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
theo quy định của pháp luật. Chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch tham gia
với các cơ quan chức năng phối hợp cùng kiểm tra, giám sát thực hiện công tác
ATVSLĐ; coi trọng công tác tự kiểm tra là chính, đồng thời có biện pháp, giải pháp
cụ thể và kiên quyết trong phát hiện xử lý, kiến nghị xử lý đối với các Công ty, doanh
nghiệp cố tình vi phạm trong công tác ATVSLĐ;
- Đối với người sử dụng lao động
+ Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của xí nghiệp phải
lập kế hoạch, biện pháp ATLĐ, VSLĐ và cải thiện điều kiện lao động.
+ Trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân và thực hiện các chế độ khác
về BHLĐ đốivới người lao động theo quy định của Nhà nước.
22
LÊ MINH BÍCH
+ Cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội dung, biện pháp ATLĐ,
VSLĐ trong doanh nghiệp. Phối hợp với Công đoàn cơsở xây dựng và duy trì sựhoạt
động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên.
+ Xây dựng nội quy, quy trình ATLĐ, VSLĐ phù hợp với từng loại máy, thiết
bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ theo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước.
+ Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định biện pháp an toàn,
VSLĐ đối với người lao động.
+ Tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn, chế độ
quy định.
+ Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệpvà định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả, tình hình thực hiện
ATLĐ, VSLĐ, cải thiện điều kiện lao động với Sở LĐTBXH nơi doanh nghiệp hoạt
động.
- Đối với người lao động: