Công tác huấn luện An toàn – Vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay - Pdf 39

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC HUẨN LUYỆN AN
TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1.

Khái niệm chung

An toàn - Vệ sinh lao động (AT-VSLĐ): Là tổng thể hệ thống pháp luật
(PL) và các giải pháp tương ứng về tổ chức hành chính, Kinh tế - Xã hội (KTXH), Khoa học công nghệ (KHCN) nhằm cải thiện hoạt động lao động (LĐ),
góp phần hạn chế hoặc loại bỏ tai nạn lao động (TNLĐ), tình trạng bệnh nghề
nghiệp (BNN), bảo vệ sức khỏe người lao động (NLĐ).
Vệ sinh lao động (VSLĐ) là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố
có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình LĐ.
Huấn luyện là một trong những hoạt động đào tạo, nhằm nâng cao kiến thức,
kỹ năng và năng lực của người thụ huấn, giúp họ có thể chủ động xử lý những
tình huống, vấn đề gặp phải trong thực tiễn.
Huấn luyện An toàn - vệ sinh lao động là:
……………………………………………………………………………………
……………………………
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng
nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn
liền với thực hiện công việc, nhiệm vụ LĐ.
Đối tượng huấn luyện
- Người làm công tác quản lý bao gồm:
+ Giám đốc, phó giám đốc các DN; người đứng đầu và cấp phó các chi
nhánh trực thuộc DN; người phụ trách công tác hành chính, nhân sự; quản đốc
phân xưởng hoặc tương đương;
+ Chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã; chủ hộ kinh doanh cá thể; chủ
hộ gia đình có sử dụng LĐ theo hợp đồng LĐ;
+ Thủ trưởng và cấp phó: các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; các đơn vị
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức chính

hợp đồng thuê, liên kết hợp pháp với cơ sở để có máy, thiết bị, hóa chất, phòng,
xưởng, khu thực hành tương ứng với quy mô, đối tượng huấn luyện và còn thời
hạn ít nhất 5 năm kể từ ngày nộp đơn xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt


động dịch vụ huấn luyện; trong đó diện tích phòng, xưởng thực hành ít nhất là
40 m2 trở lên và bảo đảm diện tích ít nhất là 1,5 m 2/01 học viên; Có chương
trình, giáo trình huấn luyện chuyên ngành được xây dựng theo Chương trình
khung huấn luyện do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành;
Có đủ số lượng giảng viên huấn luyện chuyên ngành về lý thuyết và thực
hành tương ứng với quy mô huấn luyện; trong đó có ít nhất 5 giảng viên cơ hữu
huấn luyện chuyên ngành, thực hành.
Nguyên tắc huấn luyện
1.2.

Cơ sở pháp lý.

Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH
Điều 150 Bộ luật Lao Động ban hành ngày 18 tháng 06 năm 2013
Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2013
1.3.

Mục đích, tầm quan trọng và vai trò của công tác huấn luyện An
toàn – Vệ sinh Lao Động

1.3.1. Mục đích
Huấn luyện AT-VSLĐ là một trong những nội dung bắt buộc của công tác
AT-VSLĐ nhằm cung cấp kiến thức, rèn luyện các kỹ năng, giúp NSDLĐ chủ
động xây dựng, triển khai kế hoạch, biện pháp AT-VSLĐ và NLĐ biết cách
thực hành AT-VSLĐ, xử lý những tình huống trong quá trình sản xuất.



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN AN
TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.Tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp tại các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay
2.1.1. Tình hình tai nạn lao động
2.1.1.1 Tình hình chung
Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, năm 2015
trên toàn quốc đã xảy ra 7.620 vụ TNLĐ làm 7.785 người bị nạn trong đó:
- Số vụ TNLĐ chết người: 629 vụ
- Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 79 vụ
- Số người chết: 666 người
- Số người bị thương nặng: 1.704 người
- Nạn nhân là lao động nữ: 2.432 người
2.1.1.2. So sánh tình hình TNLĐ năm 2015 với năm 2014
Qua các số liệu thống kê về tình hình TNLĐ năm 2015 so với năm 2014
cụ thể như sau:
TT

Chỉ tiêu thống kê

Năm 2014

Năm 2015

Tăng/giảm

1


Số người chết

630

666

+36 (5,7%)

5

Số người bị thương nặng

1.544

1.704

+160 (10,4 %)

6

Số lao động nữ

2.136

2.432

+296 (13,9%)

7

Số
người bị
nạn

Số người bị
thương nặng

1

TP. Hồ Chí
Minh

108

105

1.525

1.547

420

2

Quảng Ninh

33

29


134

2

5

Đồng Nai

29

29

2.230

2.240

168

6

Hải Dương

27

27

113

113


9

Thái Nguyên

19

18

82

83

26

17

16

40

44

27

10 Thanh Hóa

Bảng 2:10 địa phương có số người chết vì tai nạn lao động nhiều trong
năm 2015
Các địa phương trên có tổng số người chết vì TNLĐ chiếm 51,6% tổng số
người chết vì TNLĐ trên toàn quốc.

201
4

Tăng
/
giảm

201
5

201
4

Tăng/
giảm

1

TP. Hồ
Chí
Minh

1.52
5

1171

+354

105

36

-3

3

Bình
Dương

474

428

+46

31

31

0

32

33

-1

4

TP. Hà


+768

29

20

+9

29

20

+9

6

Hải
Dương

113

105

+8

27

23



8

Long
An

201

166

+35

20

17

+3

20

17

+3

9

Thái
Nguyên

82

21

-5

17

17

0

Bảng 3: So sánh tình hình TNLĐ năm 2015 với năm 2014 của 10 địa
phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người nhất


2.1.1.5. Những lĩnh vực sản xuất kinh doanh xảy ra nhiều tai nạn lao
động chết người
- Lĩnh vực xây dựng chiếm 35,2% tổng số vụ tai nạn chết người và 37,9%
tổng số người chết;
- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 8,8 % tổng số vụ chết người và 8,1% tổng
số người chết;
- Lĩnh vực dịch vụ chiếm 7,1% tổng số vụ chết người và 6,8% tổng số
người chết;
- Lĩnh vực dịch vụ vận tải và bốc xếp hàng hóa chiếm 5,9% tổng số vụ chết
người và 6,1% tổng số người chết;
- Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 6,9%
tổng số người chết;
- Lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 5% tổng
số người chết.
2.1.2. Tình hình bệnh nghề nghiệp
Theo bộ Y tế, Bệnh nghề nghiệp ở nước ta cũng không ngừng tăng lên,

Về phía doanh nghiệp:
Công tác huấn luyện AT-VSLĐ được nhiều đơn vị, doanh nghiệp quan
tâm thực hiện và có những chuyển biến tích cực chất, lượng huấn luyện ngày
càng được nâng cao. Các DN đã đưa công tác huấn luyện AT-VSLĐ vào kế
hoạch hoạt động của mình. Nhiều DN đã bắt đầu lấy chuẩn AT-VSLĐ là thước
đo, thương hiệu của DN mình. Đây là dấu hiệu tốt vì như vậy DN sẽ quan tâm
cải thiện môi trường LĐ trong tất cả các khâu của hoạt động sản xuất kinh
doanh, quan tâm giáo dục, huấn luyện đội ngũ công nhân viên thực hiện tốt các
tiêu chuẩn về AT-VSLĐ.
Nhiều DN đã đầu tư những máy móc, trang thiết bị hiện đại, có độ an toàn
cao hơn. Điều này giúp tăng tính an toàn trong lao động và góp phần tăng
NSLĐ, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận cho DN. Việc quản lý máy, thiết bị có
yêu cầu nghiêm ngặt về AT-VSLĐ được các DN quản lý chặt chẽ hơn và dần đi
vào nền nếp.
Công tác đo kiểm môi trường LĐ, việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng
hiện vật cho NLĐ làm các công việc độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm, được các DN quan tâm, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ và


chăm sóc sức khỏe cho NLD. Việc tổ chức khám bệnh, kiểm tra sức khoẻ định
kỳ cho NLĐ đã được các DN quan tâm hơn.
Các DN hiện nay đã chú trọng hơn đến việc cung cấp các phương tiện bảo
hộ lao động cho công nhân của mình. Điều này giúp họ tránh hoặc hạn chế
những yếu tố độc hại, nguy hiểm, góp phần giảm thiểu TNLĐ và BNN.
Về phía người lao động
Ý thức chấp hành các nội quy, quy định về AT-VSLĐ của NLĐ ngày
càng được nâng cao do họ đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện
AT-VSLĐ trong LĐ và sản xuất. Việc thực hiện tốt những điều này trước hết sẽ
giúp NLĐ đảm bảo được sức khoẻ và khả năng LĐ của mình, giúp họ tránh
được những nguy cơ đáng tiếc về TNLĐ và BNN, tránh được gánh nặng cho gia

có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ
sở sản xuất làng nghề…
Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước nói chung còn rất thiếu và
yếu, bất cập giữa chức năng, nhiệm vụ với tổ chức bộ máy, biên chế và trình độ
cán bộ. Tổ chức bộ máy của Thanh tra AT-VSLĐ của Nhà nước trong những
năm qua chưa ổn định. Đội ngũ cán bộ Thanh tra vừa thiếu về số lượng lại vừa
yếu về chất lượng; thanh tra AT-VSLĐ nằm trong Thanh tra chung nên còn
nhiều bất cập, hạn chế; nguồn lực cho công tác thanh tra về AT-VSLD, lực
lượng thanh tra lao động có chuyên môn kỹ thuật ngày càng ít, có địa phương
không có
Việc quản lý môi trường LĐ, quản lý sức khỏe NLĐ tại các cơ sở LĐ còn
rất hạn chế, chưa có chế tài để xử phạt đối với NSDLĐ, NLĐ không chấp hành
pháp luật về AT-VSLĐ vì vậy gây khó khăn trong việc tổ chức thực hiện công
tác này. Các vụ TNLĐ chết người hầu hết đều xử lý hành chính nội bộ, số vụ
truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ chiếm khoảng 2% nên không có tác dụng giáo
dục, phòng ngừa việc tái diễn và thiếu các giải pháp hữu hiệu để giảm TNLĐ
Việc tuân thủ pháp luật về AT-VSLĐ của phần lớn các DN hiện nay chưa
nghiêm, nhiều DN thực hiện các quy định có tính chất chống đối sự kiểm tra của
cơ quan quản lí Nhà nước đặc biệt ở các khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ; khu
vực sản xuất nông nghiệp, làng nghề. Mặt khác, NSDLĐ chỉ quan tâm đến


những quy định chung trong Bộ luật Lao động để tránh những sai phạm mắc
phải, còn các văn bản hướng dẫn thực hiện lại chưa được quan tâm thực hiện
đầy đủ hoặc thực hiện chỉ mang tính chất đối phó sự kiểm tra của các cơ quan
quản lý nhà nước.
Chính vì vậy, việc cập nhật thông tin, kiến thức và các văn bản quy phạm
pháp luật là hạn chế, người sử dụng lao động, cán bộ quản lý chưa hiểu biết
được đầy đủ về các nghĩa vụ của họ trong công tác bảo hộ lao động, ATVSLĐ
mà pháp luật đã quy định, dẫn tới việc ý thức thực hiện các quy định về chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status