quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp ở khu công nghiệp phú tài tỉnh bình định - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ BÍCH DIỆU

QUẢN LÝ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở KHU CÔNG NGHIỆP
PHÚ TÀI TỈNH BÌNH ĐỊNH Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số : 60.31.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2014

Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

của sự phát triển kinh tế bền vững và đủ sức cạnh tranh trong nền
kinh tế toàn cầu hóa.
Xuất phát từ thực tế việc tổ chức thực hiện quản lý còn nhiều vấn
đề bất cập, thiếu đồng bộ, cho nên đòi hỏi phải có các chính sách, giải
pháp phù hợp để tiếp tục tác động vào cuộc sống một cách thiết thực,
thực sự trở thành hoạt động hữu ích nhằm bù đắp những thiệt thòi đối
với các đối tượng yếu thế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tiến tới sự
công bằng về mọi mặt trong đời sống xã hội.
Vì vậy việc nghiên cứu, phân tích tìm ra những nguyên nhân ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý an toàn vệ sinh lao động từ đó
đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý về ATVSLĐ tại các
doanh nghiệp ở khu công nghiệp Phú Tài tỉnh Bình Định là đòi hỏi
khách quan và cần thiết. Do đó tôi chọn đề tài “Quản lý an toàn vệ
sinh lao động tại các doanh nghiệp ở khu công nghiệp Phú Tài
tỉnh Bình Định” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
+ Làm rõ được lý luận về quản lý ATVSLĐ trong doanh nghiệp.
+ Tình hình quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp ở khu
công nghiệp Phú Tài tỉnh Bình Định.
+ Kiến nghị được các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
2
ATVSLĐ tại các doanh nghiệp ở khu công nghiệp Phú Tài tỉnh Bình Định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến
công tác quản lý; các biện pháp thực thi của các chủ thể có liên quan.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu vấn đề quản lý an toàn vệ sinh
lao động tại các doanh nghiệp.
- Về không gian: Các nội dung trên được nghiên cứu trên địa bàn

động và Xã hội đã tiến hành triển khai thí điểm hệ thống quản lý ATVSLĐ
tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực có nguy cơ cao như khai
thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng tại hai tỉnh Hà Nam (60 doanh nghiệp),
Quảng Ninh (60 doanh nghiệp) và khu vực làng nghề.
Theo Dietmar Elsler (2012), “Cách tạo ra các biện pháp
khuyến khích kinh tế trong công tác an toàn vệ sinh lao động”, Tạp
chí Asian-Pacefic Newsletter on OSH, Vol.19, No. 2, October 2012.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN VỆ SINH
LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN VỆ
SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1. Một số khái niệm
An toàn vệ sinh lao động: là các hoạt động đồng bộ trên các
mặt pháp luật, tổ chức quản lý, KTXH, KHCN nhằm cải thiện điều
kiện lao động, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng và sức khỏe
4
cho con người trong lao động [18, tr. 12].
1.1.2. Vài trò và tính chất của quản lý an toàn vệ sinh lao
động
a. Vai trò của quản lý an toàn vệ sinh lao động
b. Tính chất của quản lý an toàn vệ sinh lao động
Có 3 tính chất chủ yếu là: pháp lý, khoa học kỹ thuật và tính
quần chúng. Chúng có liên quan mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau.
1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ QUẢN LÝ AN TOÀN VỆ SINH
LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1. Ban hành và quản lý thống nhất các quy định của
pháp luật về an toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp

- Tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp đã được tuyên truyền
về quy trình ATVSLĐ.
1.2.3. Tổ chức đào tạo và tập huấn về quản lý an toàn vệ
sinh lao động trong doanh nghiệp
Tổ chức đào tạo tập huấn về quản lý ATVSLĐ này có 2 mảng
kiến thức:
- Các quy định của pháp luật về ATVSLĐ
- Tổ chức quản lý công tác ATVSLĐ trong doanh nghiệp.
Cơ quan tổ chức sẽ bao gồm: Sở lao động và thương binh xã
hội với chức năng quản lý nhà nước về công tác này. Các cơ quan
phối hợp bao gồm công đoàn, hiệp hội doanh nghiệp…
Tiêu chí:
- Số lượng các đợt tập huấn về ATVSLĐ cho các đối tượng;
- Tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia đào tạo về quản lý
ATVSLĐ.

6
1.2.4. Tổ chức thanh kiểm tra về thực hiện an toàn vệ sinh
lao động tại doanh nghiệp
Điều kiện và môi trường lao động phải luôn được thanh tra
kiểm tra thường xuyên của các cơ quan quản lý với mục tiêu chủ yếu
để nắm bắt tình hình, nhắc nhở và chấn chỉnh những sai phạm. Đi
cùng với thanh kiểm tra cần đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các
biện pháp vệ sinh an toàn trong sản xuất.
Tiêu chí:
- Số lượng các doanh nghiệp được thanh tra thường xuyên và
đột xuất;
- Tỷ lệ doanh nghiệp đủ điều kiện và chấp hành tốt/tổng số
doanh nghiệp được thanh kiểm tra;
- Tỷ lệ doanh nghiệp không đủ điều kiện và chấp hành tốt/tổng

tới an toàn vệ sinh lao động.
Trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng là nhân tố tác động
mạnh tới quản lý an toàn vệ sinh lao động.
1.3.2. Quản lý Nhà nước
Các cơ quan chính có chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
về ATVSLĐ trong các doanh nghiệp bao gồm:
- Chức năng thanh tra về ATVSLĐ
- Chức năng kiểm tra về ATVSLĐ
- Chức năng giám sát ATVSLĐ
1.3.3. Nhân tố người sử dụng lao động, người quản lý
Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo môi trường làm
việc an toàn cho người lao động; Người sử dụng lao động có nghĩa
vụ phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn vệ sinh lao động và cải thiện
điều kiện lao động; Người sử dụng lao động có quyền: buộc người
8
lao động phải tuân thủ các quy định, và khen thưởng người chấp
hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện ATVSLĐ;
khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quyết định của
thanh tra viên ATVSLĐ, nhưng vẫn phải chấp hành các quyết định
đó khi chưa có quyết định mới.
Người cán bộ công đoàn cơ sở: nắm được những quy định
pháp luật về ATVSLĐ để phối hợp tổ chức thực hiện và vận động
NSDLĐ, NLĐ thực hiện.
1.3.4. Nhân tố người lao động tại doanh nghiệp
Người lao động là người hoạt động trong môi trường lao động
và chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố trong đó.
Người lao động có nghĩa vụ chấp hành các quy định, nội quy về an
toàn vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.
Người lao động có quyền được yêu cầu người sử dụng lao động
đảm bảo điều kiện làm việc an toàn vệ sinh, cải thiện điều kiện lao

nhỏ.
Ý thức chấp hành pháp luật, chấp hành nội quy về an toàn vệ
sinh lao động của người lao động trong khu công nghiệp còn yếu do
phần lớn đội ngũ công nhân trong khu công nghiệp chủ yếu xuất thân
từ nông thôn, trên 55% chưa qua đào tạo nghề ở các trường chuyên
nghiệp, hiểu biết pháp luật thấp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong
công nghiệp của công nhân chưa cao.
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ AT VSLĐ TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP Ở KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ TÀI TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.2.1. Thực trạng ban hành và quản lý thống nhất các quy định
của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
Với chủ trương quan tâm chăm lo bảo đảm sức khỏe, tính
10
mạng người lao động của Đảng và Nhà nước; thời gian qua Sở lao
động thương binh & xã hội tỉnh Bình Định, tổ chức công đoàn,
phòng quản lý doanh nghiệp Ban quản lý khu kinh tế tỉnh có nhiệm
vụ tham mưu trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
về lao động; hệ thống hóa các văn bản pháp quy đã ban hành và còn
hiệu lực có liên quan tương đối đầy đủ triển khai chỉ đạo, hướng dẫn
đến các doanh nghiệp.
Qua các năm đến nay, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh triển khai
phổ biến các văn bản pháp quy liên quan đến công tác vệ sinh lao động.
Tại các doanh nghiệp, công tác ATVSLĐ chủ yếu được thực
hiện thông qua việc tổ chức bộ phận, bố trí cán bộ phụ trách, ban hành
các văn bản quy định chung như nội quy an toàn lao động, đây là
những biện pháp mang tính chất “tĩnh”. Tuy nhiên, các đơn vị rất hạn
chế các công tác thường xuyên về ATVSLĐ, chỉ một số ít đơn vị có kế
hoạch ATLĐ hằng năm, có ban hành văn bản chỉ đạo điều hành công
tác ATVSLĐ; ngay cả việc tổ chức mạng lưới ATVS viên, là một yêu
cầu theo quy định phải làm thì cũng chỉ có rất ít đơn vị thực hiện. Hầu

14/TT-LT, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh mở các lớp đào tạo, tập
huấn VSLĐ cho cán bộ y tế cơ sở, cán bộ công đoàn và các đối
tượng công nhân lao động, cán bộ quản lý, an toàn vệ sinh viên của
các cơ sở sản xuất song song với khám sức khỏe định kỳ cho người
lao động trong các ngành, nghề sản xuất. Hằng năm Sở lao động
TB&XH tỉnh tổ chức từ 1đến 2 lớp tập huấn ATVSLĐ cho các đối
tượng tại cơ sở doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp hưởng ứng tạo điều
kiện cho các đối tượng này tham gia. Số lượng các doanh nghiệp
tham gia có chiều hướng tăng qua các năm.

12
Bảng 2.8. Huấn luyện về công tác ATVSLĐ
TT Năm Số lớp đào tạo
Số cơ sở tham
gia
Tổng số học
viên
1 2010 01 30 723

2 2011 02 55 1.018

3 2012 01 41 639

Nguồn: xử lý thống kê từ số liệu Sở lao động TB&XH tỉnh
2.2.4. Tổ chức thanh kiểm tra về thực hiện an toàn vệ sinh
lao động tại các doanh nghiệp
Thanh tra Nhà nước, đoàn kiểm tra phối hợp liên ngành tiến
hành kiểm tra định kỳ và không định kỳ, phối hợp thanh tra, kiểm tra
khoảng 15 doanh nghiệp hàng năm tại khu công nghiệp về việc thực
hiện chính sách lao động và các quy định về an toàn lao động và đề

chế độ bù đắp về vật chất, để có thể bù lại phần nào sự thiệt hại của
họ về thu nhập từ tiền công lao động do bị bệnh nghề nghiệp làm mất
đi một phần sức lao động. Phải giúp họ khôi phục sức khoẻ và chức
năng nếu có thể.
Bảng 2.12. Số cơ sở sản xuất có khám sức khỏe định kỳ
TT Nội dung 2010 2011 2012
1
Tổng số cơ sở SX 101

99

104

2
TS lao động của các cơ sở sản xuất

20.519

14.427

12.833

3
Số cơ sở khám SKĐK 54

60

55

4


Tổng số CN mắc
bệnh
Công nhân 2.997

2.156

1.815

Tỷ lệ CN mắc bệnh % 14,6 14,9 14,1
Nguồn: thống kê từ số liệu Sở lao động TB&XH tỉnh
Tuy nhiên, qua công tác kiểm tra giám sát thực tế có khoảng
65% số cơ sở có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp nhưng chỉ có 38%
đơn vị tổ chức khám bệnh cho người lao động tiếp xúc với nguy cơ.
Kết quả bệnh bụi phổi silic ở công nhân lao động ngành khai thác,
chế biến đá granite, vật liệu xây dựng; bệnh viêm phế quản mãn tính
nghề nghiệp, bệnh lao nghề nghiệp, viêm gan viruts, nhiễm xạ nghề
nghiệp. Như vậy vẫn còn nhiều bệnh nghề nghiệp chưa được phát
hiện ở các cơ sở nhất là cơ sở vừa và nhỏ. Hiện nay nhiều doanh
nghiệp chỉ khám qua loa, hình thức, chủ yếu là đối phó với các quy
định của pháp luật về lao động. Do đó, việc thực hiện khám, chữa
bệnh cho người lao động cần phải thực hiện nghiêm túc.
Người lao động làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại
15
hoặc vận hành các máy móc thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về
ATLĐ cũng chỉ được khám sức khỏe 1 lần còn khám phát hiện BNN
vẫn còn là chuyện chưa được tính đến trong kế hoạch BHLĐ hằng
năm mặc dù thông tư số 01/2011 về thực hiện công tác ATVSLĐ
trong các cơ sở lao động đã ban hành hơn 2 năm nhưng nhiều đơn vị
không ban hành quy chế hoạt động và chưa được hưởng phụ cấp

dựng Tuy nhiên việc thực hịên các quy định đó ở nhiều đơn vị, cơ
sở khai thác chưa nghiêm, nhất là các đơn vị khai thác với khối
lượng nhỏ (dưới 100.000m3¬/ năm) và thời gian khai thác ngắn
(dưới 10 năm). Hiện tượng vi phạm phổ biến là: khai thác không có
giấy phép; công nghệ khai thác, tổ chức và biện pháp khai thác
thường không tuân thủ các qui định về kỹ thuật và ATVSLĐ.
Cán bộ quản lý về ATVSLĐ tại các doanh nghiệp đa số đều
kiêm nhiệm và phần lớn chưa được đào tạo, hướng dẫn chuyên môn
nghiệp vụ. Do đó, việc nắm bắt các quy định của phát luật lao động
còn nhiều hạn chế, không tham mưu kịp thời cho lãnh đạo chủ doanh
nghiệp thực hiện theo đúng các quy định. Kết quả là các doanh
nghiệp được kiểm tra đều vi phạm quy định của pháp luật lao động.
Một số chế độ chính sách về an toàn lao động và vệ sinh lao động đối
với người lao động bị vi phạm nhiều như chế độ bồi thường, trợ cấp
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BNN).
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 17
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ AN TOÀN
VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
Ở KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ TÀI TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG QUẢN LÝ ATVSLĐ TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP Ở KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ TÀI TỈNH
BÌNH ĐỊNH

công tác ATVSLĐ ở doanh nghiệp.
Cần có cơ chế để bảo đảm sự tham gia của các ngành, địa
phương, cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội vào hoạt
động ATVSLĐ.
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an toàn lao
động, vệ sinh lao động.
Các doanh nghiệp cần đầu tư đổi mới công nghệ, nhằm khắc
phục ảnh hưởng không tốt đến môi trường và sức khỏe công nhân.
3.2.2. Tổ chức tốt việc tuyên truyền quy định của pháp luật
về an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
Cần sử dụng nhiều phương pháp và phương tiện phong phú, có
hiệu quả để tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, huấn luyện, phổ
biến kiến thức.
Cần xây dựng một đội ngũ chuyên gia giỏi, các thầy giáo có
trình độ để làm nhiệm vụ giảng dạy, huấn luyện ATVSLĐ.
Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền về công tác bảo
hộ lao động với nhiều hình thức, nội dung phong phú cho cán bộ
quản lý, công nhân lao động.
Công đoàn cơ sở tuyên truyền hướng dẫn luật pháp và các chính
19
sách chế độ BHLĐ cho NLĐ.
Để hạn chế tối đa những tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng,
những tai nạn cụ thể của từng ngành nghề, nên được phổ biến đến
người lao động ở lĩnh vực, công việc đó để họ dễ hình dung, phòng
tránh hơn là cách thức thông tin chung chung hiện nay.
3.2.3. Tổ chức tốt việc đào tạo và tập huấn về quản lý an
toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
Công đoàn cơ sở chủ động trao đổi với các bộ phận chuyên môn
để tham mưu với lãnh đạo đầu tư cải tạo môi trường làm việc, tập
huấn phòng ngừa rủi ro. Công đoàn cơ sở phối hợp với người sử

hạn chế, sự quyết tâm của chủ doanh nghiệp trong công tác đảm bảo
an toàn vệ sinh lao động ở nhiều doanh nghiệp còn kém hiệu quả, thì
chính những người lao động cần phải biết tự bảo vệ mình khỏi những
nguy cơ tai nạn.
3.2.5. Cải thiện việc công tác điều tra, thống kê tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp
Tham gia điều tra xử lý các vụ tai nạn lao động
Khi có TNLĐ xảy ra ở doanh nghiệp, công đoàn cơ sở phải thể
hiện vai trò là chỗ dựa của người lao động.
Khi xảy ra TNLĐ, người sử dụng lao động phải tổ chức điều tra
điều tra lập biên bản, có sự tham gia của đại diện Ban Chấp hành công
đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành công đoàn lâm thời. Biên bản điều tra
TNLĐ của cơ sở phải có chữ ký của đại diện công đoàn cơ sở.
Phải lưu giữ hồ sơ TNLĐ tới lúc người lao động về hưu; nếu là
TNLĐ chết người thì hồ sơ phải lưu giữ tới 15 năm.
Khi tham gia điều tra, xử lý các vụ tai nạn lao động, công đoàn
cơ sở cần có chính kiến rõ ràng, tránh khuynh hướng đổ hết lỗi cho
21
người lao động.
Người sử dụng lao động phải thường xuyên quan tâm hơn nữa
đến công tác cải thiện điều kiện lao động; thực hiện đầy đủ các quy
định về an toàn lao động, vệ sinh lao động; trang bị, tuân thủ đầy đủ
việc thực hiện trang bị bảo hộ lao động.
Xây dựng quỹ dự phòng tai nạn lao động
Các doanh nghiệp ở khu công nghiệp nói riêng cũng có thể lập
quỹ phòng ngừa TNLĐ, hình thành từ các nguồn tài chính hoặc có thể
đặt trong Quỹ TNLĐ-BNN, quỹ có tác dụng đầu tư trở lại cho đơn vị,
doanh nghiệp để trang bị thêm cơ sở vật chất phục vụ cho mục tiêu an
toàn lao động; khen thưởng kịp thời cho cá nhân, tập thể có nhiều
thành tích trong công tác an toàn lao động; chi phí ban đầu cho người

- Mặt bằng kho bãi được hợp lý hoá, giải quyết được nhu cầu xuất
nhập.
- Công nhân có ý thức khi thực hiện công việc.
3.3.2. Phương pháp WISE (Work Improvement in Small
enterprises)
Ø Nội dung kỹ thuật Wise trong sắp xếp và vận chuyển vật
liệu: Sắp xếp và vận chuyển vật liệu và sản phẩm là một phần quan
trọng của quy trình sản xuất.
Ø Nội dung kỹ thuật Wise trong an toàn máy móc và thiết bị
Ø Nội dung kỹ thuật WISE trong thiết kế nơi làm việc
Ø Nội dung kỹ thuật trong WISE trong tổ chức công việc:
Lập kế hoạch và tổ chức cách thức sản xuất phù hợp có thể tác động
lớn đến năng suất lao động, làm cho công việc tiến hành có hiệu quả
và thuận lợi hơn, chất lượng sản phẩm cao hơn…
23
Ø Nội dung kỹ thuật WISE trong chiếu sáng:
Ø Nội dung kỹ thuật WISE tại nơi làm việc:
Ø Nội dung kỹ thuật WISE trong kiểm soát các chất độc hại:.
Ø Nội dung kỹ thuật WISE trong các dịch vụ và phúc lợi tại
nơi làm việc: Các phương tiện phúc lợi là một phần thiết yếu trong bất
kỳ một doanh nghiệp nào. Các dịch vụ và phúc lợi xã hội là điều kiện
cơ bản để tăng sức khoẻ, tinh thần, động lực và sự hài lòng của người
lao động; thể hiện văn minh, đạo đức và động lực của doanh nghiệp.
Tổ chức thực hiện cải thiện điều kiện lao động trong doanh
nghiệp theo phương pháp WISE:
1- Xây dựng những giải pháp hoàn thiện
2- Huy động những đóng góp của người lao động
3- Để cải thiện bền vững
4- Thay đổi quản lý
5- Giám sát chặt chẽ việc cải thiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status