MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................................
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN..........................................................................1
1.1 Một số khái niệm cơ bản.............................................................................1
1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra lao động.................1
1.2.1 Vị trí, chức năng của Thanh tra lao động.............................................1
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra lao động......................................1
1.3 Mục đích của Thanh tra lao động................................................................1
1.4 Nguyên tắc của Thanh tra lao động.............................................................2
1.5 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra lao động.......................................................2
1.6 Hình thức Thanh tra lao động......................................................................2
1.7 Phương thức hoạt động................................................................................2
1.8 Nội dung Thanh tra lao động.......................................................................3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA VỀ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
FDI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.....................................................4
2.1 Giới thiệu sơ lược về thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp FDI............4
2.2 Phân tích thực trạng công tác thanh tra về thực hiện pháp luật an toàn, vệ
sinh lao động tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn Thành phố Hà Nội.........5
2.2.1 Cơ quan thực hiện chức năng Thanh tra:..............................................5
2.2.2 Lực lượng Thanh tra Lao động Thành phố Hà Nội..............................6
2.2.3 Hình thức Thanh tra lao động...............................................................7
2.2.4 Phương thức thanh tra..........................................................................7
2.2.5 Nội dung Thanh tra lao động tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn
thành phố Hà Nội..........................................................................................8
2.2.6 Kết quả thanh tra..................................................................................8
2.3 Đánh giá chung............................................................................................9
2.3.1 Kết quả đạt được:.................................................................................9
2.3.2 Hạn chế:................................................................................................9
2.3.3 Nguyên nhân.......................................................................................10
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
còn thiếu và yếu cả về chất lượng và số lượng.Đặc biệt, số cuộc thanh tra được
tiến hành ở các doanh nghiệp FDI còn ít, chưa phát hiện và xử lý hết các trường
hợp còn vi phạm, gây ra tổn thất về người và tài sản cho cả nhân, gia đình và xã
hội. Nhận thấy được vai trò và tầm quan trọng của công tác thanh tra về an toàn,
vệ sinh lao động ở các doanh nghiệp hiện nay nên em đã chọn đề tài : “Công tác
thanh tra về thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh
nghiệp FDI trên địa bàn Thành phố Hà Nội.” để có thể tìm hiểu rõ hơn về
vấn đề này.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Thanh tra, kiểm soát (thanh tra) là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực
hiện pháp luật của tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện
theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước,
bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu
công nghiệp và tổ chức, cá nhân khác.
- Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Thanh tra 2010: Thanh tra nhà nước là hoạt
động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao
gồm: Thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
- Thanh tra lao động là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong lĩnh vực lao động đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
hành pháp luật về lao động, quy định chuyên môn – kĩ thuật, quy tắc quản lý
thuộc lĩnh vực lao động.
1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra lao động.
1.2.1 Vị trí, chức năng của Thanh tra lao động
Theo Điều 238. Bộ Luật lao động 2012:
- Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động
tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan, công khai, dân
chủ và kịp thời.
- Hoạt động thanh tra hành chính được tiến hành theo Đoàn thanh tra; hoạt
động thanh tra chuyên ngành được tiến hành theo Đoàn thanh tra hoặc do Thanh
tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành tiến hành độc lập.
1.5 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra lao động
Theo Điều 5, Luật thanh tra 2010:
Các cơ quan thanh tra nhà nước:
+ Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
+ Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
Các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành:
+ Tổng cục Dạy nghề;
+ Cục Quản lý Lao động ngoài nước.
1.6 Hình thức Thanh tra lao động
Theo Điều 37, Luật Thanh tra 2010:
-Hoạt động thanh tra được thực hiện theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên
hoặc thanh tra đột xuất.
+ Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê
duyệt.
+ Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ
của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
+Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân
có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền giao.
1.7 Phương thức hoạt động
- Công tác thanh tra lao động tiến hành bằng phương thức thanh tra viên
phụ
trách vùng thông qua phiếu tự kiểm tra.
trợ giúp xã hội thuộc lĩnh vực quản lý của ngành Lao động - Thương binh và Xã
hội;
+Việc thực hiện các quy định của pháp luật về chính sách bảo vệ, chăm sóc
trẻ em trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của ngành Lao động - Thương
binh và Xã hội.
+Việc thực hiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới; việc thực
hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, các biện pháp bảo đảm
bình đẳng giới;
+ Việc thực hiện các quy định của pháp luật về chính sách, giải pháp phòng
ngừa tệ nạn mại dâm; cai nghiện ma túy; quản lý sau cai nghiện; hỗ trợ nạn nhân
bị mua bán; tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hội, cơ sở quản lý sau cai nghiện;
+Các nội dung khác liên quan đến lĩnh vực lao động, thương binh và xã
hội.
3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA VỀ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu sơ lược về thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp FDI
- Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội có trên 4000 doanh nghiệp FDI
-Báo cáo thống kê cho thấy, 9 tháng đầu năm 2017, kinh tế Hà Nội tăng
trưởng 8,1%, thu ngân sách đạt hơn 146 nghìn tỷ đồng tăng 16,2% so với cùng
kỳ, chi ngân sách đạt 41,7 nghìn tỷ đồng, bằng 53,6% dự toán.
- Cũng trong 9 tháng đầu năm 2017, Hà Nội thu hút 398 dự án FDI với số
vốn đăng ký 2,16 tỷ USD. Đồng thời, có 22 dự án đầu tư theo hình thức PPP với
tổng mức đầu tư khoảng 60 nghìn tỷ đồng. Thành phố cũng chấp thuận chủ
trương đầu tư cho 125 dự án ngoài ngân sách với tổng mức đầu tư khoảng 84
nghìn tỷ đồng.
nước ngoài.
-Những vi phạm an toàn, vệ sinh lao động các doanh nghiệp FDI mắc phải:
+ Dự án Hải Đăng City (HD Mon City, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ
Liêm) do doanh nghiệp Hoà Bình làm tổng thầu xây dựng đã bộc lộ một số tồn
tại như vấn đề không khai báo một số thiết bị chịu cường lực với Sở LĐTB&XH
và thiếu biển cảnh báo, biển chỉ dẫn tại công trình; vi phạm an toàn điện; không
có lối đi dành riêng cho công nhân trong công trường; công tác đào tạo, huấn
luyện ATVSLĐ đối với công nhân còn buông lỏng, trong đó sử dụng số lượng
lớn nguồn lao động thời vụ ngắn hạn..
+ Tại nhiều công trình, công tác thiết kế, lắp đặt và sử dụng giàn giáo
không đảm bảo an toàn như giàn giáo không được tính toán, thiết kế theo quy
định, vật liệu chế tạo giàn giáo không đúng quy cách, việc lắp đặt giàn giáo chủ
yếu theo kinh nghiệm, không kiểm tra chặt chẽ, việc chất tải trên giàn giáo
không đúng theo quy trình hoặc vượt tải trọng cho phép...
2.2 Phân tích thực trạng công tác thanh tra về thực hiện pháp luật an toàn,
vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
2.2.1 Cơ quan thực hiện chức năng Thanh tra:
-Cơ quan thực hiện chức năng Thanh tra tại Việt Nam là Thanh tra Bộ Lao
động thương binh và xã hội.
-Cơ quan thực hiện chức năng Thanh tra tại Thành phố hà Nội là thanh tra
sở Lao động thương bình và xã hội.
-Cơ chế chính sách bao gồm:
+ Bộ luật lao động 2012.
+ Luật thanh tra 2010.
+ Quyết định số: 35/2016/QĐ-UBND ban hành ngày 08 tháng 09 năm
2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở lao
động thương binh và xã hội thành phố Hà Nội.
+ Nghị định số: 39/2013/NĐ-CP ban hành ngày 24 tháng 04 năm 2013 của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Lao động thương binh và xã
hội.
Phòng Thanh tra,
giải quyết khiếu
nại, tố cáo 1.
Phó Chánh Thanh
tra
Phòng Thanh tra,
giải quyết khiếu
nại, tố cáo 2.
Phó Chánh Thanh
tra
Phòng Thanh tra,
giải quyết khiếu
nại, tố cáo 3.
Phó Chánh Thanh
tra
Phòng Thanh tra,
giải quyết khiếu
nại, tố cáo 5.
Văn phòng
thanh tra
Thành phố
tra kế hoạch, thanh tra thường xuyên và thanh tra đột xuất.
- Những mặt đạt được: Các Thanh tra viên trong quá trình thanh tra đã sử
dụng đúng những quyền hạn mà Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn quy
định. Việc sử dụng các quyền hạn được đưa ra đúng lúc, đúng thời điểm, phù
hợp với mục đích, yêu cầu, nội dung của cuộc thanh tra đặt ra, không có tình
trạng lộng quyền, lạm quyền trong quá trình thực hiện các quyền trong hoạt
động thanh tra.
+ Thanh tra đột xuất: Các Thanh tra viên sẽ phát hiện được các sai phạm
mà doanh nghiệp đang mắc phải, từ đó sẽ đưa ra các hình thức xử lý kịp thời.
- Bất cập:
+ Đối với Thanh tra kế hoạch: nhiều doanh nghiệp biết bị thanh tra đã chủ
động che dấu những sai phạm, sửa chữa khiến cho Thanh tra viên không phát
hiện ra sai phạm mà doanh nghiệp mắc phải.
-Hiện nay, hoạt động thanh tra không được diễn ra thường xuyên hoặc thời
hạn các cuộc thanh tra thường kéo dài, vi phạm thời gian theo quy định của pháp
luật, không đáp ứng được yêu cầu khẩn trương, kịp thời của công tác quản lý
nhà nước.Nhiều cuộc thanh tra diễn ra chỉ mang tính hình thức chưa thực sự có
hiệu quả.
2.2.4 Phương thức thanh tra
- Việc phối hợp giữa Thanh tra viên và Thanh tra Sở lao động thương binh
và xã hội thành phố Hà Nội còn nhiều hạn chế, việc Thanh tra chưa thực sự đạt
hiệu quả cao.
- Thanh tra phụ trách vùng do Phó chánh thanh tra Sở phụ trách làm
Trưởng đoàn.
- Phiếu tự kiểm tra là công cụ giúp các doanh nghiệp tổ chức tự kiểm tra
việc thực hiện pháp luật lao động, an toàn - vệ sinh lao động.
* Ưu điểm:
+ Thực hiện nhanh, đỡ tốn thời gian và chi phí.
+ Kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc để đề ra các biện
pháp xử lý sự cố kỹ thuật, loại trừ, giảm thiểu các mối nguy hiểm, có hại, cải
và 18.500.600m2 đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm 1.184 tập thể và 1.306 cá
nhân; kiến nghị chuyển cơ quan điều tra 40 vụ việc.Trong đó Đoàn thanh tra đã
triển khai thực hiện thanh tra hơn 2.000 doanh nghiệp FDI trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
- Hoạt động Thanh tra đã được quy chế hóa và được ban hành theo Thông
tư số: 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014 của Tổng Thanh tra Chính
phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và
trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra.Song việc tổ chức thanh tra còn
căn cứ vào chức năng quản lý Nhà nước của từng cấp trong từng điều kiện cụ
thể của cơ quan ra quyết định thanh tra.
2.2.6 Kết quả thanh tra
- Tính đến 09/2016 , thành phố Hà Nội đã tổ chức tất cả trên 2.000 cuộc
thanh tra tại các doanh nghiệp FDI.
- Theo thống kê, Hà Nội là thành phố đứng thứ hai xảy ra nhiều vụ tai nạn
8
lao động chết người tính đến tháng 5/2017: Hà Nội (76 vụ) sau thành phố Hồ
Chí Minh(106 vụ).Những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh xảy ra nhiều tai nạn lao
động gồm: Xây dựng (23,8%); khai thác khoáng sản (11,4%); sản xuất nguyên
vật liệu (7,5%); cơ khí chế tạo (5,9%)…
- Những khó khăn bất cập:
+ Hệ thống pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động còn chồng
chéo, phân tán; việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm gây
khó khăn cho việc thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
+ Việc tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động của phần
lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa nghiêm, nhiều doanh nghiệp thực hiện các
quy định có tính chất chống đối sự kiểm tra của cơ quan quản lí Nhà nước.
2.3 Đánh giá chung
2.3.1 Kết quả đạt được:
quy định của pháp luật về vấn đề này, mà vấn đề chính lại nằm ở số lượng và
chất lượng của đội ngũ Thanh tra viên chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đây là
một trong những điểm quan trọng cần lưu ý khi đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường công tác Thanh tra lao động trên địa bàn thành phố trong thời gian tới.
2.3.3 Nguyên nhân
- Các ngành chức năng ở Trung ương cũng như địa phương, chưa nhận thức
đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác bảo hộ lao động, an toàn lao
động, vệ sinh lao động, cũng như chưa thấy hết được tác hại và hậu quả xã hội
nghiêm trọng do điều kiện lao động xấu, gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
cho người lao động.
- Nhiều nội dung quan trọng về an toàn lao động, vệ sinh lao động chưa
được quy định hoặc không thể quy định rõ trong trong Bộ luật Lao động, mà cần
phải có quy định chi tiết mới thể hiện được.
- Một số văn bản quy định lĩnh vực quản lý chuyên ngành vẫn còn chồng
chéo, bất cập về phân công chức năng, nhiệm vụ trong việc xây dựng các tiêu
chuẩn kỹ thuật an toàn lao động.
- Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có xu hướng tăng về số lượng và mức
độ nghiêm trọng; việc tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay còn rất yếu kém, đặc biệt là ở khu vực
doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực sản xuất nông nghiệp, làng nghề;kinh phí đầu
tư cho công tác bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao độngvà chăm sóc sức
khỏe người lao động của doanh nghiệp còn rất hạn hẹp.
- Nhiều chủ sử dụng chưa quan tâm, đầu tư chăm lo cải thiện điều kiện làm
việc cho người lao động. Cán bộ làm công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động
và chăm sóc sức khỏe người lao động còn thiếu và chưa được đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ đầy đủ.
10
Về thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
- Về khái niệm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
Luật Thanh tra 2010 đã định nghĩa lại hai thuật ngữ này tại Khoản 2 và 3
Điều 3 cho phù hợp với thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta
hiện nay; xác định rõ đối tượng thanh tra, trình tự, thủ tục thanh tra và hậu quả
pháp lý sau thanh tra..
- Về thanh tra chuyên ngành tại các cơ quan thuộc bộ được giao thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước
Luật Thanh tra hiện hành quy định ở mỗi bộ chỉ có một tổ chức thanh tra
11
(thanh tra Bộ). Luật Thanh tra 2010 quy định mới về cơ quan được giao thực
hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục
thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành) không thành
lập cơ quan thanh tra chuyên ngành độc lập mà hoạt động này do người được
giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện (Điều 30). Triển khai
quy định này trên thực tế cũng sẽ gặp nhiều khó khăn.
- Về trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành
Pháp luật thanh tra cần quy định về trình tự, thủ tục mang tính nguyên tắc
chung, còn trình tự, thủ tục cụ thể sẽ quy định tại các văn bản quy phạm pháp
luật chuyên ngành nhằm bảo đảm tính thống nhất về trình tự, thủ tục trong hoạt
động thanh tra.Trên cơ sở những quy định chung này, trong các văn bản pháp
luật chuyên ngành sẽ quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thanh tra đặc thù, phù
hợp với từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
Cần quy định về hoạt động Thanh tra viên phụ trách vùng, quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho Thanh tra viên phụ trách vùng để hạn chế được
những nhược điểm của phương thức tổ chức thanh tra theo đoàn.
Cần thể hiện rõ hơn sự đơn giản hóa trong trình tự, thủ tục thanh tra
chuyên ngành so với thanh tra hành chính, trong việc thành lập Đoàn thanh tra
Bảy là: Quy định chế độ, chính sách đối với Thanh tra viên như chế độ,
chính sách, tiền lương, phụ cấp, trang phục và chế độ đặc thù nhằm nhằm thu
hút và giữ chân người tài, người có tâm huyết với nghề.
Tám là: Bãi bỏ quy định về thời hạn thanh tra phải báo trước tại Nghị định
61/1998 và Luật Thanh tra. Quy định này không phù hợp với yêu cầu công tác
lao động, xu hướng chung của Thanh tra lao động thế giới.
Chín là: Sửa đổi nghị định số 04/2005/NĐ-CP ngày 11/01/2005 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về
khiếu nại, tố cáo theo hướng: không quy định Thanh tra Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng vì Thanh tra Bộ là cấp quản lý
vĩ mô hoặc nghiên cứu, hướng dẫn, đưa ra những giải đáp mang tính kỹ thuật chứ
không đi sâu vào giải quyết các vụ việc cụ thể. Để bảo đảm được quyền của người
khiếu nại, nên quy định khi hết cấp giải quyết lần hai của Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội, người khiếu nại có quyền khởi kiện ra Tòa án.
3.2.3 Các giải pháp khác
Để pháp luật về thanh tra lao động hoàn thiện về nội dung và phát huy
được những tác dụng tích cực trong thực tiễn, thì ngoài các giải pháp nêu trên,
cần thực hiện tốt các giải pháp khác, cụ thể là:
- Cần thường xuyên tiến hành rà soát, hệ thống hóa quy định về thanh tra,
thanh tra lao động.
- Đổi mới cơ chế phối hợp giữa thanh tra lao động với các cơ quan có liên
quan nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh
tra, pháp luật lao động, pháp luật về thanh tra lao động và pháp luật khác như
pháp luật về khiếu nại, tố cáo; pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực lao động; pháp luật dạy nghề; pháp luật về người Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng… nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá
nhân trong hoạt động thanh tra lao động.
- Chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thanh
tra lao động, vì những yếu kém về năng lực của cán bộ thanh tra sẽ ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của cả một hệ thống.
tra lao động và hoạt động này đã đạt được kết quả nhất định trong công tác quản
lý nhà nước về lao động và đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để
pháp luật Thanh tra lao động phát huy hiệu lực, hiệu quả, cần phải tiến hành
đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần chú trọng các biện pháp xây dựng pháp
luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thanh tra, pháp luật Thanh tra lao
động; công tác tuyển chọn, bồi dưỡng cán bộ Thanh tra lao động; hiện đại hoá
công tác thanh tra..
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1,Luật Thanh tra 2010 được lấy từ:
/>
2,Nghị định số: 39/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2013 được lấy
từ: />%20lut/view_detail.aspx?itemid=28492
3. Bộ luật lao động 2012 được lấy từ :
/>4,Thanh tra lao động về pháp luật tại Việt Nam được lấy từ:
/>3.pdf
5, Diễn đàn của các nhà quản trị được lấy từ:
/>