THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM xã hội về AN TOÀN, vệ SINH LAO ĐỘNG TRONG các DOANH NGHIỆP VIỆT NAM - Pdf 47

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I. CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1.1 Cơ sở lý luận chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

1

1

1.1.2 Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1
1.1.3 Nội dung cơ bản của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
1.1.4 Vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1

2

1.1.4.1.Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp

2

1.1.4.2.Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với người lao động

2

1.1.4.3.

Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với khách hàng 3


2.2.5 Trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động

17

2.2.6 Trách nhiệm của doanh nghiệp đảm bảo sức khỏe người lao động

18

2.3 Đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn,vệ sinh lao động
trong các doanh nghiệp việt nam hiện nay 19
2.3.1 Những mặt đạt được

19

2.3.2 Những mặt còn hạn chế

20

2.3.3 Nguyên nhân 20
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VIỆC THỰC HIỆN
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 21
3.1 Đối với Nhà Nước

21

3.2 Đối với các Doanh Nghiệp 22
KẾT LUẬN
DANH MỤC BẢNG BIỂU


NLĐ Người lao động

6

BNN Bệnh nghề nghiệp


LỜI MỞ ĐẦU

Trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đánh giá sự
đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển chung của toàn xã hội. Sự lựa chọn
sản phẩm của khách hàng cũng dựa vào các yếu tố tiên quyết như không bóc lột
sức lao động và phải thể hiện đúng các chuẩn mực của xã hội. Những yêu cầu về


sử dụng sản phẩm phải đạt các bộ tiêu chuẩn :ISO 9001-2000, ISO 14000, SA
8000,…từ phía khách hàng, người tiêu dùng ngày càng cao và được biểu hiện ngày
càng rõ ràng hơn. Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội với nhiều cạnh tranh
khốc liệt này một cách tốt nhất đó là củng cố trách nhiệm xã hội. Mô hình văn hóa
doanh nghiệp này đang được triển khai trong thực tế và từng bước có những kết
quả khá tốt đối với các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì ván
đề an toàn, vệ sinh lao động đang được cả xã hội quan tâm. Nên các doanh nghiệp
cần có trách nhiệm xã hội đối với vấn đề cấp thiếu này. Chính vì vậy mà em xin
chọn đề tài: “Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, vệ sinh lao động
trong các doanh nghiệp Việt Nam” làm bài tiểu luận của mình, ngoài lời mở đầu và
kết luận bài tiểu luận bao gồm 3 chương:
Chương I: Các cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn,vệ sinh lao động
trong các doanh nghiệp Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội về

-

Lao động cưỡng bức

-

An toàn sức khỏe

-

Tự do hội họp và thỏa ước lao động tập thể

-

Phân biệt đối xử

-

Kỷ luật lao động
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

-

Tiền lương

-

Hệ thống quản lý

-

biết đến với độ an toàn và tính năng sử dụng cao, chất lượng đảm bảo. Khách hàng
sẽ tin tưởng khi lựa chọn sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, sản phẩm
của doanh nghiệp sẽ được tiêu thụ nhiều hơn, dễ dàng hơn trên thị trường.
-Việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ đáp ứng yêu cầu của khách hàng, là một
trong những điều kiện cần để doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá trên thị trường.
-Khi doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, thương hiệu sẽ được khẳng định,
tính sáng tạo của người lao động sẽ tăng lên, doanh nghiệp có khả năng chiếm thị
phần nhiều hơn.
1.1.4.2.Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với người lao động
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho người
lao động phát triển toàn diện trên nhiều phương diện khác nhau:
-Pháp luật lao động được tuân thủ, những quy định của pháp luật của nước sở tại
đối với quyền và lợi ích của người lao động sẽ đuợc thực thi nghiêm túc, qua đó,
tạo ra được động cơ làm việc tốt cho người lao động.
-Các vấn đề như lao động cưỡng bức, sử dụng lao động trẻ em, quấy nhiễu và lạm
dụng lao động, phân biệt đối xử sẽ bị hạn chế và loại bỏ;


-Vấn đề thù lao lao động sẽ được thực hiện tốt, đảm bảo tái sản xuất sức lao động
cho người lao động;
-Vấn đề an toàn và sức khoẻ của người lao động sẽ được doanh nghiệp chú trọng
đầu tư, chế độ làm việc – nghỉ ngơi khoa học sẽ được thực hiện, qua đó tạo ra môi
trường làm việc an toàn, chế độ làm việc hợp lý cho người lao động, ...
-Đánh giá chung: Người lao động sẽ được làm việc trong những điều kiện đảm bảo
sự phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và tinh thần, vật chất.
1.1.4.3.

Vai trò của trách nhiệm xã hội đối với khách hàng

Việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ giúp cho khách hàng:

Trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động

-

Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo đảm sức khỏe của người lao động.

-

Trách nhiệm đối với người lao động bị tại nạn và bênh nghề nghiệp.

1.2.1 Lợi ích của thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn vệ sinh lao động
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp về vấn đề an toàn vệ
sinh lao động là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh
nghiệp.
-

Nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm.

Vấn đề an toàn vệ sinh lao động ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng,
hiệu quả. Thực tế cho thấy, khi tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra, người
lao động và thân nhân của họ không những bị mất mát về con người, suy giảm sức
khỏe mà khả năng làm việc, thu nhập cũng bị giảm sút, dẫn đến đói nghèo và
những đau đớn về thể xác, tinh thần. Đối với người sử dụng lao động, khi tai nạn
lao động xảy ra sẽ gây thiệt hại về chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà xưởng;
chi phí về y tế, giám định thương tật, bệnh nghề nghiệp và bồi thường, trợ cấp cho
người bị tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thân nhân của họ. Uy tín của doanh
nghiệp bị ảnh hưởng. Hoạt động sản xuất bị gián đoạn do phải ngừng việc để khắc
phục hậu quả, điều tra nguyên nhân gây tai nạn, gây tâm lý lo lắng.việc thực hiện
trách nhiệm về an toàn vệ sinh lao động, từng bước cải thiện môi trường làm việc,
đảm bảo an toàn vệ sinh lao động là nâng cao năng suất lao động, khi vấn đề an

pháp thích hợp để ngăn ngừa tai nạn và tổn hại đến sức khoẻ liên quan trong quá
trình làm việc, bằng cách hạn chế đến mức có thể các nguyên nhân của mối nguy
có trong môi trường làm việc.
+ Công ty phải chỉ định một thành viên trong ban lãnh đạo có trách nhiệm đảm bảo
an toàn và sức khoẻ của mọi thành viên, và chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu
về sức khoẻ và an toàn của tiêu chuẩn này.
+ Công ty phải thiết lập hệ thống để phát hiện, phòng tránh hoặc đối phó với các
nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng tới sức khoẻ và an toàn của các nhân viên.


+ Công ty phải cung cấp phòng tắm sạch sẽ, nước sạch cho việc sử dụng của mọi
thành viên, và nếu có thể, các thiết bị vệ sinh cho việc lưu trữ thực phẩm.
+ Công ty phải đảm bảo rằng, nếu cung cấp chỗ ở cho nhân viên thì Công ty phải
đảm bảo nơi đó sạch sẽ, an toàn và đảm bảo các yêu cầu cơ bản của họ.
1.2.3 Nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề an toàn lao
động
Doanh nghiệp phải đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh
để phòng ngừa những tai nạn và thương tích có hại đến sức khoẻ của người lao
động.
Doanh nghiệp phải đào tạo cán bộ công nhân viên về an toàn lao động trong
sản xuất, có những biện pháp và hệ thống quản lý thích hợp đảm bảo an toàn cho
cán bộ công nhân viên.
Doanh nghiệp phải phổ biến kiến thức về ngành công nghiệp và bất kỳ các
mối nguy hiểm nào, phải cung cấp môi trường làm việc an toàn và vệ sinh, phải có
các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa tai nạn và làm tổn hại đến sức khoẻ mà xuất
hiện trong lúc có liên quan đến hoặc xảy ra trong khi làm việc bằng cách giảm tối
đa, đến khả năng có thể được, nguyên nhân gây ra các mối nguy hiểm vốn có trong
môi trường làm việc.
Doanh nghiệp phải chỉ định đại diện lãnh đạo chịu trách nhiệm về sức khoẻ
và an toàn cho toàn bộ nhân viên và chịu trách nhiệm thực hiện các yếu tố về sức

lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt
may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng
tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu
tăng từ 94% lên 97%. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp còn củng cố


được uy tín với khách hàng, tạo được sự gắn bó và hài lòng của người lao động đối
với doanh nghiệp, thu hút được lực lượng lao động có chuyên môn cao.
Do nhận thức được tầm quan trọng và ích lợi của việc thực hiện trách nhiệm xã hội
trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn của Việt
Nam, ngoài trách nhiệm đóng thuế cho nhà nước, đã đăng ký thực hiện trách nhiệm
xã hội dưới dạng các cam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường, với
cộng đồng địa phương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động.
2.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn,vệ sinh lao động trong các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Trong điều kiện đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện
nay cũng như trong tương lai, các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao
động ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vấn đề AT-VSLĐ luôn là vấn đề
nhận được sự quan tâm lớn của Nhà nước và đã được đề cập khá chi tiết và rõ ràng
trong Bộ Luật lao động, Pháp lệnh bảo hộ lao động. Có thể khẳng định rằng, các
quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề AT-VSLĐ là khá chặt chẽ, phần lớn
phù hợp với quy định quốc tế. An toàn, vệ sinh lao động là cơ sở để người lao động
thực hiện quyền bảo hộ lao động của mình, góp phần cải thiện điều kiện lao động
và nâng cao năng suất lao động. Bởi vậy, quan tâm đến an toàn vệ sinh lao động
không chỉ là trách nhiệm của nhà nước, mà còn là trách nhiệm của các đơn vị sử
dụng lao động và của cả bản thân người lao động.
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, từ 2006– 2010,
trung bình mỗi năm nước ta xảy ra gần 6.000 vụ tai nạn lao động (TNLĐ), 506 vụ
TNLĐ chết người làm 570 người chết. Tuy nhiên, còn nhiều vụ bị che dấu, không

phương tiện bảo hộ lao động, đầu tư máy móc thiết bị có độ an toàn cao, hay thực
hiện công việc ký hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho
NLĐ.
Trong lao động sản xuất, người lao động luôn phải tiếp xúc với các yếu tố liên
quan đến AT-VSLĐ. Trên thực tế không có ngành, nghề nào là an toàn tuyệt đối.
Tuy nhiên, một số ngành, nghề có những công việc nặng nhọc, độc hại và tiềm ẩn
nhiều nguy cơ TNLĐvà BNN hơn những ngành, nghề khác như Da Giày – Dệt
May, Thuỷ sản, Khai thác mỏ, Xây dựng và Dịch vụ – Thương mại. Kết quả điều
tra trong năm 2010 cho thấy:
Phần lớn các DN (63,2%) đều đã có cam kết của lãnh đạo thực hiện các quy định
về AT-VSLĐ. Tỷ lệ này đạt rất cao ở ngành Da Giầy – Dệt May (82,9%), sau đó
đến Khai thác mỏ (61,7%) và thấp nhất ở ngành Xây dựng (54,2%). Điều này khá
dễ hiểu bởi phần lớn các DN ngành Da Giầy – Dệt May phải thực hiện các quy


định của SA 8000 hoặc WRAP, trong đó nội dung AT-VSLĐ là một trong những
nội dung quan trọng.
Tuy nhiên, việc xây dựng chính sách để thực hiện cam kết vẫn còn tồn tại nhiều
khiếm khuyết. Tính trung bình chỉ có 54,7% tổng số DN đã có cam kết có chính
sách để thực hiện các cam kết về AT-VSLĐ. Tỷ lệ này cao nhất ở ngành Khai thác
mỏ (76,7%), sau đó đến Da Giầy – Dệt May (61%) và thấp nhất ở ngành Dịch vụ –
Thương mại (37,3%). Điều này nói lên khoảng cách quá lớn giữa “nói” và “làm”
trong các DN hiện nay.
Về bộ máy phụ trách công tác AT-VSLĐ; phần lớn các DN quan tâm đến việc thiết
lập bộ máy phụ trách công tác AT-VSLĐ. Có 93,2% số ý kiến khẳng định DN có
phân công lãnh đạo phụ trách AT-VSLĐ. Xét theo ngành, ngành có tỷ lệ cao nhất là
Khai thác mỏ (97,9%), sau đó đến Da Giầy – Dệt May (97,6%), Thuỷ sản (96,9%),
Xây dựng (91,5%) và thấp nhất là ngành Dịch vụ – Thương mại (84,3%).
Bảng 1 cũng cho thấy có 95,5% DN có bộ phận làm công tác AT-VSLĐ. Ngành có
tỷ lệ cao nhất là Da Giầy – Dệt May (100%), thấp nhất là Dịch vụ – Thương mại


Thủy sản

Phân công lãnh đạo phụ trách AT-VSLĐ
91.5 84.3



93.2 97.6 97.9 96.9
15.7

Không

2.1

3.1

8.5

Có bộ phận làm công tác AT-VSLĐ
15.7



95.5 100.0 98.2 96.8 93.3

3.2

6.7


-

-

-

5.9

3.4

3 năm 0.4

-

-

3.1

-

-

3.5

Chưa bao giờ huấn luyện 3.5

5.0

-


Thương mại (18%). Những yếu tố gây nguy hiểm ở tình trạng đáng báo động nhất
trong các DN là:Vật liệu nổ: Khai thác mỏ (90,9%), Dịch vụ – Thương mại
(85,7%).Xếp hàng quá cao, dễ đổ, dễ gây tai nạn: Da Giầy – Dệt May (100%),
Dịch vụ – Thương mại (57,1%), Thuỷ sản (55,6%) và Xây dựng (36,4%). Không
có biển báo an toàn: Xây dựng (27,3%) và Dịch vụ – Thương mại (28,6%).Sàn
trơn, gồ nghề: Thuỷ sản (33,3%) và Xây dựng (9,1%).Máy móc không có bộ phận
che chắn: Ngành Xây dựng (18,2%).
Bên cạnh tình trạng đáng báo động về tai nạn lao động thì tình trạng bệnh nghề
nghiệp(BNN) cũng đang đáng báo động mà một trong những nguyên nhân là do sự
thờ ơ và vô trách nhiệm của các DN. NLĐ thường xuyên phải làm việc trong môi
trường nặng nhọc, độc hại, lại không được trang bị và tuân thủ các quy trình về an
toàn vệ sinh lao động, dẫn đến tình trạng TNLĐ và BNN diễn ra tại các làng nghề
ngày càng nhiều hơn. Theo một khảo sát của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,
khoảng 31% số lao động tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp,
trong đó chủ yếu là các bệnh về đường hô hấp (32,6%), bệnh về mắt (29,7%), bệnh
điếc tiếng ồn (11,3%), bệnh tim mạch (18%)… Mà một trong những nguyên nhân
là do sự thờ ơ và vô trách nhiệm của các DN. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế,
năm 2015 có 4.480 cơ sở sản xuất tại các tỉnh, ngành tiến hành khám sức khỏe
định kỳ cho 766.217 người lao động. Trong đó, số công nhân lao động có sức khỏe
yếu chiếm 12,9% (tăng 4,5%). Chỉ có 1.800 cơ sở tại 20 tỉnh, ngành tiến hành


khám 18/28 BNN với số lao động được khám là 60.548 người (trong số hơn 1,5
triệu lao động). Qua quá trình khám đã phát hiện 3.557 trường hợp được chẩn đoán
nghi mắc BNN(chiếm 5,9%). Tính đến hết năm 2011, đã phát hiện 27.246 người
mắc BNN, trong đó 74,4% mắc bệnh bụi phổi silic và 16% bị điếc do tiếng ồn.
Việc người lao động bị mắc các BNN và có nguy cơ mắc BNN cao là do môi
trường làm việc không đảm bảo như cường độ tiếng ồn quá to, môi trường làm
việc quá nóng, bụi bặm hay do đặc thù của công việc phải đứng quá nhiều hay phải
ngồi quá nhiều. Một lý do khác là do các doanh nghiệp đã làm ngơ trước sức khỏe

mắc BNN, tăng 31,9% so với năm 2014.
Trong khi hầu hết các DN, cơ sở lao động “phớt lờ” việc thực hiện quy định của
pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động thì công tác kiểm tra, giám sát gần như bị bỏ
ngỏ. Có những DN đã hoạt động hơn 10 năm nhưng chưa một lần các cơ quan
chức năng đến thanh tra, kiểm tra về công tác an toàn, vệ sinh môi trường lao
động. Có những địa phương nhiều năm qua chưa xử phạt cơ sở lao động nào do vi
phạm... Thực trạng BNN đối với NLĐ đã đến mức báo động, rất cần được các cấp,
các ngành liên quan quan tâm, khắc phục.
2.2.2 Về điều kiện làm việc của người lao động và việc trang cấp các trang thiết bị
bảo hộ lao động cho người lao động
Theo các chuyên gia của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động, hiện
nay, điều kiện làm việc của người lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
tiểu thủ công nghiệp, trong các làng nghề, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở
nước ta là chưa được tốt. Một số cơ sở sản xuất, người lao động phải làm việc
trong điều kiện không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, các yếu tố ô nhiễm chủ yếu là
bụi, hơi, khí độc hại, tiếng ồn khá cao, thường là vượt mức cho phép. Nhiều cơ sở
sản xuất không có hệ thống kiểm soát ô nhiễm, không có hệ thống xử lý bụi, khí
độc, tiếng ồn, người lao động vì miếng cơm manh áo phải chịu làm việc trong điều
kiện thiếu an toàn. Không chỉ là tai nạn trong điều kiện làm việc ô nhiễm như vậy,
người lao động còn mắc khá nhiều bệnh nghề nghiệp, làm tổn hại sức khỏe, ảnh
hưởng năng suất chất lượng hiệu quả của công việc hoặc của sản phẩm. Số liệu
điều tra tại 145 doanh nghiệp với 38.417 cơ sở sản xuất cho thấy, có tới 50-63% số
người lao động phải mang vác nặng khi làm việc, 61-96% số người lao động làm
việc phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại, trong khi đó, các phương tiện bảo hộ lao
động và cải thiện môi trường lao động không có, hoặc nếu có thì không đúng quy
cách, chưa được cung cấp đầy đủ, và số đông người lao động không được học và
không biết gì về an toàn vệ sinh lao động.Cần nâng cao nhận thức của chủ sử dụng
lao động và người lao động trong việc bảo đảm điều kiện an toàn, từng bước cải
thiện môi trường làm việc; đưa các quy định của pháp luật lao động về công tác an


tích cực về cả nội dung và phương pháp huấn luyện; số người được huấn luyện
tăng dần theo các năm. Từ năm 2014, trung bình mỗi năm huấn luyện cho trên 70
ngàn lượt cán bộ quản lý, trên 15 ngàn lượt chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh
doanh, trên 700 ngàn lượt cán bộ làm công tác bảo hộ lao động, y tế tại doanh


nghiệp, hàng triệu người lao động trong đó có hơn 500 ngàn lượt người là nông
dân.
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lí nhà nước được nâng cao trình độ nghiệp vụ
thông qua các khoá huấn luyện, tập huấn về chế độ, chính sách; kỹ năng và nghiệp
vụ thanh tra; tập huấn giảng viên, đào tạo chuyên môn về giám sát môi trường và
bệnh nghề nghiệp, phòng chong bệnh bụi phổi si líc, bảo vệ và kiểm dịch thực
vật…
Trong các doanh nghiệp, một số chương trình huấn luyện chung và chuyên ngành
đã và đang được tiếp tục triển khai như: cải thiện điều kiện lao động trong các
doanh nghiệp vừa và nhỏ; an toàn trong ngành xây dựng; an toàn trong khai thác
mỏ; an toàn điện, an toàn cơ khí; an toà các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an
toàn – vệ sinh lao động; an toàn vật liệu nỏ công nghiệp; cải thiện điều kiện lao
động trong ngành da giày, dệt may; Trách nhiệm xã hội; Quản lí chất lượng sản
phẩm và môi trường;...
Một số trung tâm huấn luyện an toàn – vệ sinh lao động đã được thành lập như:
Trung tâm Huấn luyện an toàn – vệ sinh lao động, trực thuộc Cục an toàn lao động,
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được thành lập vào ngày 16/8/2004; Trung
tâm Huấn luyện và Kiểm định kỹ thuật an toàn thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên
điều kiện cơ sở vật chất chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu huấn luyện.
Mặc dù đã có sự cố gắng trong công tác huấn luyện về an toàn - vệ sinh lao động
nhưng trong thực tế số lượng người được huấn luyện về an toàn - vệ sinh lao động
còn ít. Trong khu vực công nghiệp, đã xây dựng được một số giáo trình, phim huấn
luyện nhưng chỉ có khoảng gần 10% số cán bộ làm công tác an toàn - vệ sinh lao
động ở các doanh nghiệp nhà nước, liên doanh, tư nhân lớn là được huấn luyện

cao.
Như vậy, đây là vấn đề còn tồn tại lớn ở các doanh nghiệp.Theo số liệu điều tra cho
thấy, hầu như các DN chưa thực sự quan tâm đến việc chấp hành quy định ATVSLĐ của NLĐ.Thể hiện rất rõ ở công tác phân công người phụ trách theo dõi
việc chấp hành quy định. Đôi khi DN chỉ phát phương tiện bảo hộ lao động cho
NLĐ mà không quan tâm đến NLĐ có biết sử dụng phương tiện đó hay không và
có đạt được hiệu quả thực sự từ phương tiện đó trong quá trình lao động.
2.2.5 Trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động


Các DN vẫn thờ ơ chủ quan trong vấn đề an toàn lao động, nên môi trường lao
động trong DN vẫn còn bị ô nhiễm, chưa đáp ứng các yêu cầu an toàn lao động
nhất là tại các tỉnh có các khu công nghiệp lớn, việc đảm bảo các tiêu chuẩn về
không gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí
độc, phóng xạ, điện từ, nóng ẩm, ồn, rung, và các yếu tố có hại.Nên dẫn đến các sự
việc xảy ra như hàng trăm công nhân Công ty giày Hong-fu và Công ty Hồng Mỹ
thuộc Khu công nghiệp Hoàng Long (TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) bị ngất
trong các ngày từ 15 đến 19-5-2014, do hội chứng nhiễm độc thần kinh là trường
hợp điển hình về tác động của môi trường làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe NLĐ. Theo kết luận của ngành y tế và các cơ quan chức năng thì các phân
xưởng đều có mặt bằng chật hẹp lại tập trung số lượng lớn công nhân làm việc; hệ
thống lưu thông khí gồm quạt gió, quạt đẩy, quạt hút… chưa bảo đảm dẫn đến độ
lưu chuyển không khí không tốt. Ngoài ra, dung môi hữu cơ cao, có thể tăng lên
nhiều lần trong điều kiện làm việc và môi trường nắng, nóng kéo dài là một trong
các tác nhân gây ra tình trạng hàng loạt công nhân ngộ độc cấp tính. Ngày 1-122015, hàng chục công nhân Công ty TNHH Hải sản Bền Vững, thuộc Khu công
nghiệp Suối Dầu (Cam Lâm, Khánh Hòa) trong khi đang làm việc tại kho đông
lạnh thì bị đau đầu, chóng mặt, buồn nôn... những công nhân này đã bị ngộ độc khí
cac-bon mô-nô-xít (CO), một loại khí được dùng trong công nghiệp chế biến thủy
sản để làm đông lạnh.
Con số thống kê từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, hiện cả nước có hơn 500
nghìn DN hoạt động với hơn 90% là DN nhỏ và vừa. Sự gia tăng nhanh về số

khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏe định kì, quan tâm bố trí công việc phù hợp
sức khỏe người lao động, nhất là đối với lao động nữ.
Nhưng trên thực tế nhiều DN còn thực hiện trách nhiệm này một cách qua loa,đại
khái mang tính hình thức cao chưa mang lại hiệu quả tích cực. Không có sự tổ
chức huấn luyện, hướng dẫn thông báo cho NLĐ về các quy định làm việc an
toàn.Việc triển khai các lớp tập huấn, huấn luyện cho NLĐ còn có sự lặp lại về nội
dung cũng như hình thức qua các năm, chưa có sự đổi mới, thiếu tính cập nhật.
Việc khám sức khỏe trong khi tuyển dụng hầu như chỉ được áp dụng ở một số DN
có quy mô lớn, thường chỉ nhận giấy khám sức khỏe từ NLĐ mang tới.Nên không
kiểm soát được tình hình sức khỏe của NLĐ có thực sự phù hợp với công việc.
Hoặc việc khám sực khỏe định kỳ trong DN cũng không được áp dụng rộng dãi do
còn nhiều yếu tố tác động, đặc biệt liên quan đến vấn đề chi phí. Nên các DN
thường không khám sức khỏe khi tuyển dụng cũng như định kỳ trong khi làm việc.
2.3 Đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn,vệ sinh lao động
trong các doanh nghiệp việt nam hiện nay


2.3.1 Những mặt đạt được
Nhiều DN ở Việt nam đã nâng cao được năng suất lao động thông qua hoạt động
cải thiện AT-VSLĐ. Ví dụ giữ cho đường vận chuyển thông thoáng bằng loại bỏ
vật liệu không cần thiết có thể giảm nguy cơ tai nạn cho công nhân đồng thời nâng
cao được năng suất lao động. Nếu công nhân có chỗ làm việc phù hợp thì họ sẽ
cảm thấy thoải mái trong quá trình làm việc, đồng thời tránh được đau vai, đau cơ
bắp. Do vậy họ có thể tập trung vào sản xuất và chất lượng công việc. Còn nhiều ví
dụ khác tương tự. Hơn nữa quá trình cải thiện điều kiện lao động còn tăng cường
mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động.
Chúng ta có thể khẳng định rằng các hoạt động cải thiện AT-VSLĐ luôn luôn tăng
cường mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động. Thông qua
việc tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động và người lao động thảo
luận và thực hiện cải thiện từng bước, các đơn vị cung cấp dịch vụ AT-VSLĐ cơ

rãi.Công tác theo dõi,thực hiện kiểm soát đối với các DN của cơ quan chức năng
còn nhiều bất cập.
Trách nhiệm xã hội về AT-VSLĐ chưa được thực hiện nghiêm, nhiều doanh nghiệp
thực hiện các quy định có tính chất chống đối sự kiểm tra của cơ quan quản lí Nhà
nước.TNLĐ,BNN còn xảy ra nghiêm trọng; công tác huấn luyện AT-VSLĐ cho
NLĐ đạt tỷ lệ thấp so với tổng số NLĐ đang làm việc tại các DN; công tác quản lý
huấn luyện còn lỏng lẻo; việc quy định tổ chức bộ máy làm công tác an toàn lao
động, vệ sinh lao động không còn phù hợp với một số mô hình doanh nghiệp mới.
2.3.3 Nguyên nhân
Thứ nhất, hệ thống tổ chức các cơ quan Nhà nước có chức năng giúp Chính phủ thi
hành Pháp luật an toàn lao động, vệ sinh lao động, trước hết là hệ thống tổ chức
Thanh tra an toàn lao động, Thanh tra vệ sinh lao động chưa được kiện toàn. Bộ
máy biên chế và trình độ năng lực của các cơ quan thanh tra bất cập với nhiệm vụ
và tình hình phát triển các doanh nghiệp ngày càng tăng trong kinh tế thị trường.
Mặt khác chưa có đủ các điều kiện vật chất để bảo đảm thanh tra, kiểm tra khách
quan, nhanh chóng, kịp thời theo những điều kiện mới của kỹ thuật công nghệ tiên
tiến; các cơ quan Kiểm sát, Tòa án nói chung chưa quan tâm đúng mức tới việc đưa
ra khởi tố và xét xử những vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, mỗi năm có hàng
trăm vụ tai nạn lao động chết người, nhưng hầu hết các vụ tai nạn lao động chết
người hoặc gây hậu quả nghiêm trọng này đều được xử lý hành chính nội bộ nên
không có tác dụng giáo dục và phòng ngừa ngăn chặn các vụ tai nạn; sự phân công
nhiệm vụ trong hệ thống quản lý Nhà nước, các quy định trong hệ thống luật pháp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status