Thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động tại các doanh nghiệp Việt Nam trong tình hình hiện nay - Pdf 42

LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang theo đuổi nền kinh tế thị trường, đó là nền kinh tế làm
ra để đổi, là thị trường trao đổi hàng hóa. Trong đó có một loại hàng hóa đặc
biệt đang dần được tăng cường mở rộng và chuyên môn hóa cùng cực cho sự
hưng thịnh của kinh tế nước nhà đó là sức lao động.
Từ xưa đến nay, lao động luôn là hoạt động quan trọng nhất của con
người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần khác. Lao động có năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất
nước, xã hội, gia đình và bản thân mỗi người lao động. Bất cứ một xã hội nào,
từ thuở hồng hoang cho đến xã hội văn minh hay dưới bất cứ một chế độ nào,
từ chế độ chiếm hữu nô lệ cho đến chủ nghĩa xã hội, lao động của con người
cũng đều là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản
xuất và sinh hoạt.
Cùng với tốc độ phát triển chóng mặt của nền kinh tế, lại đối mặt trước
những thách thức, khó khăn trong công cuộc hội nhập kinh tế thế giới, con
người cũng cần phải đổi mới cấu trúc để tăng hiệu quả lao động kịp thích nghi
với thị trường sản xuất. Vì vậy thay vì chủ yếu lao động bằng chân tay và
những công cụ thô sơ nay dần được thay thế bằng máy móc. Con người là đối
tượng trực tiếp làm việc, điều khiển vận hành máy móc lao động sản xuất. Tuy
nhiên máy móc thiết bị còn lạc hậu, cũ kỹ, điều kiện lao động tiềm ẩn nhiều
nguy cơ mất an toàn cho người lao động, đặc biệt trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trên cả nước hiện nay. Cùng với sự đa dạng về số lượng và loại hình
sản xuất kinh doanh, sự gia nhập của các loại máy móc thiết bị đã vô hình
chung tăng nguy cơ tiềm ẩn gây mất an toàn cho người lao động. Mặc dù hiện
nay vấn đề an toàn lao động đã được quan tâm nhiều hơn thời kỳ trước nhưng
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp vẫn đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra. Cho
nên công tác thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN)
cho người lao động tại các doanh nghiệp hiện nay rất cần phải được chú trọng
nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng như đảm bảo sức
khỏe người lao động, duy trì nòi giống là việc làm cấp thiết.
Để góp phần vào việc hạn chế tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp và

hịa nghề nghiệp phát sinh trong quá trình sản xuất, có thể do quy trình công
nghệ hay tử nguyên liệu. Các chất độc hại có thể gây ô nhiễm môi trường lao
động, tác động tới cơ thể người lao động gây ra các biến đổi sinh lý, sinh hóa,
tâm lý,...
Từ hai khái niệm trên cho thấy AT-VSLĐ là một hoạt động đồng bộ
trên các mặt như luật pháp, kinh tế xã hội, tổ chức hành chính và khoa học kỹ
thuật nhằm cải thiện điều kiện lao dộng, đảm bảo an ninh, bảo vệ sức khỏe
người lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động (TNLL), bệnh nghề nghiệp (BNN).
1.1.3. Tai nạn lao động (TNLĐ)
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình gắn liền với công
việc nhiệm vụ lao động trong thời gian làm việc, chuẩn bị, thu dọn, hoàn thành
công việc. Là hậu quả của sự tác động đột ngột từ các yếu tố nguy hiểm độc
hại trong lao động gay tổn thương cho bất kỳ một hoạt động hoặc chức năng
hoạt động bình thường của một bộ phận cơ thể hoặc gây tử vong.
1.1.4. Bệnh nghề nghiệp (BNN)
Bệnh nghề nghiệp là một hiện trạng bệnh lý phát sinh do tác động
thường xuyên và kéo dài đối với sức khỏe người lao động, nó mang tính chất
đặc trưng cho một loại nghề nghiệp, công việc. Ví dụ: bệnh bụi phổi Silic,
Anthracose xuất hiện ở ngành khai thác đá, khai thác mỏ,…
-Việt Nam hiện nay có 30 BNN được Bảo Hiểm và được chia thành 5
nhóm/25 nhóm do tổ chức ILO công nhận.
1.1.5. Phân loại, yêu cầu và nguyên tắc trang bị PTBVCN
-Phân loại: Một số cách phân loại PTBVCN như:


+ Theo tính năng bảo vệ
+ Theo vùng cơ thể người lao động được bảo vệ. Theo cách phân loại này,
PTBVCN được chia thành các nhóm:
 Phương tiện bảo vệ đầu: mũ, lưới bao tóc, …
 Phương tiện bảo vệ mặt, mắt: kính, tấm chắn, …

sung mới hoặc thay đổi loại phương tiện bảo vệ cá nhân theo danh mục quy
định.


5. Nghiêm cấm các đơn vị cấp phát tiền thay cho việc cấp phát phương
tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động hoặc giao tiền cho người lao động tự đi
mua.
1.2. Cơ sở pháp lý
* Bộ luật Lao động 2012 được Quốc hội sửa đổi và có hiệu lực từ
01/5/2013. Chương IX của bộ luật quy định “An toàn lao động, vệ sinh lao
động”. Một số điều khoản có liên quan trực tiếp là:
Điểm 1, điều 134, mục 1, chương IX quy định về chính sách của nhà
nước về AT-VSLĐ:
1. Nhà nước đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất

dụng cụ, thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá
nhân.
 Điều 149. Phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động
1. Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại được người sử
dụng lao động trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng
trong quá trình làm việc theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội.
2. Phương tiện bảo vệ cá nhân phải đạt tiêu chuẩn về chất lượng.

*Luật An toàn, vệ sinh lao động được Quốc hội ban hành ngày
25/6/2015 có quy định một số diều khoản trực tiếp liên quan đến vấn đề trang
bị PTBVCN như sau:
 Tại Điểm b, khoản 2, điều 7, chương 1 quy định quyền và nghĩa vụ
về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động:
b) Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp

4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về chế độ trang
cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.
*Luật Công Đoàn quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức công đoàn.
Tại điều 6 của Luật quy định quyền và nghĩa vụ của công đoàn trong việc
đảm bảo an toàn cho NLĐ bằng phương tiện bảo vệ cá nhân.


*Nghị định 06/CP ban hành ngày 20/1/1995, quy định chi tiết một số
điều Luật về AT-VSLĐ.
*Thông tư liên tịch số 10/1998/TT-BLĐTBXH ban hành ngày
28/5/1998 quy định rõ về việc hướng dẫn về việc thực hiện trang bị PTBVCN.
Đây là thông tư hướng dẫn thi hành cho Luật lao động và Nghị Định 06/CP
*Thông tư số 04/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ
trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, được ban hành và có hiệu lực ngày
15/4/2014.
*Thông Tư CỦA BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
SỐ 02-LĐTBXH-TT NGÀY 19 THÁNG 1 NĂM 1990 VỀ CHẾ ĐỘ TRANG
BỊ PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN TRONG LAO ĐỘNG
*Quyết định 68/2008/QĐ-BLĐTBXH ban hành danh mục trang bị
phương tiện cho người lao động làm nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, độc
hại, được ban hành và có hiệu lực ngày 15/2/2009. Quyết định số
999/1999/QĐ-BLĐTBXH ngày 16/8/1999. Quyết định số 1320/1999/QĐBLĐTBXH ngày 06/10/1999. Quyết định số 722/2000/QĐ-BLĐTBXH này
02/8/2000. Quyết định số 205/2002 QĐBLĐTBXH
*Chỉ thị 10/2008/CT-TTg ban hành ngày 10/3/2008 của Thủ Tướng
Chính Phủ về việc tăng cường công tác bảo bộ lao động, an toàn lao động
1.3. Mục đích, tầm quan trọng đối với người sử dụng lao động
(NSDLĐ)/người lao động (NLĐ) và xã hội.
Mục đích ngăn ngừa và phòng tránh TNLĐ, ngăn ngừa BNN,
góp phần bảo vệ sức khỏe, tài chính và các giá trị tinh thần khác cho bản thân
NLĐ, gia đình và xã hội. Từ đó đẩy mạnh lao động sản xuất, tạo ra nhiều của

TT

Địa phương

Số
vụ

Số
người
bị nạn

Số vụ
chết
người

Số
người
chết

Số người bị
thương
nặng


1

Bình Dương

291


15

16

114

4

Đồng Nai

951

956

13

13

67

5

TP Hồ Chí Minh

580

583

13


26

8

Long An

89

89

9

9

5

9

Bình Định

12

12

8

9

1



sản xuất kinh doanh, quan tâm giáo dục, huấn luyện NLĐ thực hiện tốt các
tiêu chuẩn về trang bị PTBVCN;
+ Tổ chức khám bệnh, kiểm tra sức khỏe định kỳ cho NLĐ đã được các DN
quan tâm và thực hiện một cách nghiêm túc. Việc làm này đúng đắn giúp cho
NLĐ có tình thần hăng say làm việc và tin tưởng gắn bó với DN;
+ Tuyên truyền , giáo dục cho NLĐ nâng cao ý thức trong việc thực hiện các
quy định AT-VSLĐ đã được các DN thực hiện đầy đủ.
- Về phía NLĐ:
+ Ý thức chấp hành nội quy, quy định AT-VSLĐ trong các DN Việt Nam
ngày nay được nâng cao do họ nhận thức được tầm quan trọng về AT-VSLĐ
trong lao động và sản xuất;
+ Việc thực hiện tốt giúp NLĐ đảm bảo sức khỏe và khả năng của mình, giúp
họ tránh xa được các nguy hiểm TNLĐ và BNN gây ra.
Những mặt hạn chế:
- Hệ thống trang bị PTBVCN còn chồng chéo, phân tán, việc ban
hành các văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm gây khó khăn trong việc
thực hiên công tác trang bị
- Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước nói chung còn rất thiếu
và yếu về công tác huấn luyện, bất cập giữa chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ
máy, biên chế, trình độ cán bộ;
- Việc tuân thủ theo pháp luật trang bị PTBVCN phần lớn các DN
hiện nay là chưa nghiêm, nhiều DN quy định mang tính chống đối sự kiềm tra
của cơ quan quản lý nhà nước.
* Một số ví dụ TNLĐ nghiêm trọng 6 tháng đầu năm 2015


- Vụ tai nạn do sập giàn giáo xảy ra vào 19g50 ngày 25/3/2015 làm 13
người chết, 29 người bị thương tại công trường thi công sản xuất và lắp đặt
thùng chìm trọng lực cảng Sơn Dương của công ty Sam sung tại Dự án

- Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 8,7% tổng số vụ tai nạn và 7,6%
tổng số người chết;
- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 8,7 % tổng số vụ và 7,6% tổng số người chết;
- Lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện chiếm 7,6% tổng số vụ và 6,6% tổng số
người chết.
- Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 6,5% tổng số vụ và 6,6% tổng số
người chết;
* Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất
- Ngã, rơi từ trên cao chiếm 26,1% tổng số vụ và 22,6% tổng số người chết;
- Tai nạn giao thông chiếm 20,64% tổng số vụ và 18% tổng số người chết;
- Vật rơi, đổ sập, vùi dập chiếm 18,5% tổng số vụ và 29,2 % tổng số người
chết;
- Điện giật chiếm 13% tổng số vụ và 11,3% tổng số người chết;
- Máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 6,5% tổng số vụ và 5,7% tổng số người
chết. Làm 13 người chết, 29 người bị thương tại hạng mục đúc thùng chìm,
Công trường thi công sản xuất và lắp đặt thùng chìm trọng lực tại Dự án
Formusa của Công ty TNHH Giang thép Hưng Nghiệp Formusa Hà Tĩnh,
Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh do Công ty Samsung C&T Corporation
là đơn vị thi công, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án,
khởi tố bị can.
*Bệnh nghề nghiệp
Tổng số cộng dồn trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp đến cuối năm
2014 là 28.274 trường hợp. Các bệnh mà người lao động hay mắc phải nhất
vẫn là bệnh bụi phổi, điếc, viêm gan virut nghề nghiệp…
Theo số liệu của Cục quản lý Môi trường y tế (Bộ Y tế) cho biết:
Tổng số khám bệnh nghề nghiệp năm 2014 đã đạt 107.100 trường hợp, tăng
5,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, đã phát hiện được 6.793 trường hợp nghi mắc bệnh nghề
nghiệp tập trung vào các bệnh bụi phổi silic (876 trường hợp), viêm phế
quản nghề nghiệp (106 trường hợp), bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất của

nhân gây tai nạn.
BNN mặc dù không làm thiệt mạng ngay như TNLĐ nhưng nó để lại
di chứng, di tật và những căn bệnh nan y khó chữa, làm sa sút kinh tế, tốn thời
gian nghỉ ngơi, chạy chữa, lâu dần làm suy giảm sức khỏe cũng như khả năng
lao động của NLĐ, thậm chí là tử vong.

2.2. Nguyên nhân


Thực tế cho thấy, nhận thức của NSDLĐ và NLĐ về trang bị
PTBVCN cho NLĐ và phòng chống BNN còn hạn chế. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng mất an toàn lao động như:
* Nguyên nhân thứ nhất là do người sử dụng lao động :
- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an
toàn.
- Người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động cho người lao
động.
- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động; do tổ chức lao động.
Về phía NSDLĐ, do khó khăn chung của nền kinh tế, nhiều doanh
nghiệp chưa tổ chức huấn luyện cho người lao động về an toàn, vệ sinh lao
động hoặc làm đối phó, cắt xén thời gian, nội dung; không trang bị hoặc trang
bị không đầy đủ phương tiện bảo hộ; không dành kinh phí thoả đáng để cải
thiện điều kiện và môi trường làm việc cho người lao động. Bên cạnh đó,
hằng năm mới chỉ có 15% doanh nghiệp tổ chức thực hiện khám sức khoẻ
định kỳ và đo kiểm môi trường lao động.
* Nguyên nhân thứ hai là do người lao động:
- Người lao động vi phạm quy trình, nội quy an toàn lao động.
- Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân.
Nguyên nhân thứ hai thuộc về phía NLĐ là nhận thức của NLĐ về
công tác an toàn chưa cao. Qua thanh kiểm tra, ngành chức năng ghi nhận tình

nhiều phía: đó là ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân từ NLĐ đến người
SDLĐ, cải thiện môi trường lao động và chỉ đạo có hiệu quả các công tác
lao động sản xuất.
*Ngoài ra còn một số nguyên nhân khách quan khác xảy ra trong quá
trình lao động sản xuất.
2.3. Ví dụ minh họa về chế độ trang bị PTBVCN tại một số đơn vị
sản xuất
Những năm gần đây, tình hình TNLĐ ở khu vực Hưng Yên vẫn diễn
biến hết sức phức tạp, năm 2015 trên địa bàn tỉnh xảy ra 9 vụ TNLĐ làm 4 người
chết và 7 người bị thương nặng. Nguyên nhân chính chủ yếu là do NSDLĐ chưa
thật sự quan tâm đến công tác trang bị PTBVCN và NLĐ chưa có ý thức thực hiện
nghiêm các quy định về PTBVCN.


Trước thực trạng đó, Sở LĐTBXH tỉnh đã tăng cường chỉ đạo các DN trên địa
bàn thực hiện chế độ trang bị PTBVCN. Trong năm 2015, đã tổ chức 2 lớp huấn
luyện bảo hộ lao động, PTBVCN cho 155 cán bộ quản lý nhà nước cấp huyện, cấp
xã tại 2 huyện Ân Thi và Tiên Lữ. Đồng thời, tổ chức 2 lớp huấn luyện cho 130
NSDLĐ, cán bộ làm công tác trang bị PTBVCN của 22 DN trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, số các DN thực sự chú trọng đến công tác trang bị PTBVCN trên địa
bàn tỉnh vẫn còn rất khiêm tốn. Mới đây, Sở LĐTBXH Hưng Yên đã tiến hành
kiểm tra công tác trang bị PTBVCN tại một số DN trên địa bàn. Kết quả cho thấy
trên 11% DN chưa có hội đồng BHLĐ và trên 70% đơn vị đã có nhưng chỉ mang
tính hình thức, chiếu lệ. Hầu hết các đơn vị khi được kiểm tra đều chưa thực hiện
đầy đủ các quy định của pháp luật về trang bị PTBVCN và công tác tuyên truyền,
huấn luyện cũng chưa được chú trọng cho NLĐ.

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Đối với quản lý nhà nước.
-Các Bộ, ngành chủ động kiểm tra công tác an toàn, vệ sinh lao động

tai nạn lao động do ngã cao, vật rơi, đổ sập, điện giật; tổ chức huấn luyện an
toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động.
3.3 Đối với NLĐ
- Chấp hành nội quy, quy định về công tác trang bị PTBVCN có
liên quan đến công việc và nhiệm vụ được giao;
- Sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang
bị, nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải báo cho NSDLĐ để có phương pháp
thay thế.
KẾT LUẬN
Công tác trang bị PTBVCN tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
thể hiện phần nào mục tiêu bảo vệ và phát triển nguồn lực con người cho đất


nước .Thực hiện nghiêm túc chế độ trang bị PTBVCN đã và đang dần dần trở
thành nhiệm vụ quan trọng của tất cả các doanh nghiệp , đặc biệt là trong bối
cảnh cạnh tranh gay gắt về nhân lực chất lượng cao và khách hàng cũng ngày
càng quan tâm đến sản phẩm được sản xuất trong môi trường an toàn như thế
nào .Ở nước ta công tác trang bị PTBVCN đã có nhiều chuyển biến trong
những năm gần đây ,tuy nhiên trong thực tế công tác này vẫn bộc lộ nhiều
điểm yếu kém ,hạn chế .Có rất nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng đã sảy
ra gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản.
Vì vậy, việc phối hợp và thực hiện công tác trang bị PTBVCN giữa
các cấp quản lý, NLĐ và NSDLĐ trong các doanh nghiệp tại Việt Nam là điều
quan trọng và cấp thiết hiện nay nhằm giảm thiểu những thiệt hại không đáng
có ,bao gồm những vấn đề về TNLĐ và BNN, góp phần thúc đẩy sự phát triển
của đất nước, bảo vệ sự an toàn cho NLĐ.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status