Website: Email : Tel : 0918.775.368
LờI NóI ĐầU
BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc ta. Đây là một chính
sách mang tính xã hội và nhân đạo cao cả thể hiện sự quan tâm của Nhà nớc đối
với đời sống của ngời dân đặc biệt là đối với ngời lao động.Tuy nhiên đối tợng
tham gia bắt buộc (trớc năm 1995) chỉ giới hạn trong các lao động thuộc thành
phần kinh tế Nhà nớc. Vì vậy, mở rộng đối tợng tham gia BHXH bắt buộc là
mong mỏi của đông đảo ngời lao động trong các thành phần kinh tế của cả nớc.
Bắt đầu từ năm 1995, đối tợng tham gia BHXH bắt buộc đã mở rộng cho tới
những ngời lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Việc mở rộng
đối tợng tham gia BHXH đã động viên ngời lao động yên tâm làm việc ở các
thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy thị trờng lao động phát triển, đồng thời
cũng tạo nên sự công bằng trong sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp của
các thành phần kinh tế.
Nhng hiện nay, việc thực hiện BHXH cho ngời lao động trong các doanh
nghiệp đang là một vấn đề nan giải, thu hút đợc sự quan tâm của nhiều ngành,
nhiều cấp. Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề, vì vậy em đã chọn đề tài
Thực hiện BHXH trong các doanh nghiệp Việt Nam-Thực trạng và giải
pháp. Với mục đích nêu lên đợc toàn cảnh của tình hình thực hiện BHXH cho
ngời lao động trong các doanh nghiệp. Từ đó thấy đợc những nguyên nhân và rút
ra những giải pháp cơ bản, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác thực hiện
BHXH cho ngời lao động.
Để đảm bảo tính lôgic của một công trình nghiên cứu, ngoài lời nói đầu và
phần kết luận, đề án đợc chia thành 3 phần sau:
Chơng I. BHXH cho ngời lao động một nhu cầu tất yếu khách quan
Chơng II. Thực trạng BHXH trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Chơng III. Các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác thực hiện
BHXH cho ngời lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong đề án là những phơng pháp cơ
bản của phơng pháp nghiên cứu khoa học nh: so sánh, phân tích, tổng hợp...dựa
trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lich sử.
biến. Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau đã phải cam
kết cả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang
trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản... Trong
thực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi ra
một đồng nào. Nhng cũng có khi xảy ra một cách dồn dập, buộc họ phải bỏ ra
một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ- thợ
phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu
tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có mâu thuẫn nhiều mặt đến đời sống
kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn.
Sự can thiệp này một mặt làm tăng đợc vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc cả
giới chủ và giới thợ phải đóng góp một số tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán
chặt chẽ dựa trên cơ sở xác xuất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê. Số tiền đóng
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ
này còn đợc bổ sung từ ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống
cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những những
mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động và gia đình họ
ngày càng đợc đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ,
sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc những xáo trộn không cần
thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh
chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đ-
ợc thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động. Nh vậy, BHXH
là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao động khi
họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
trên cơ sở hình thành và sử dụng một một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời
sống cho ngời lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
II. BHXH ở Việt Nam
Còn ở nớc ta BHXH là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nớc ta
vực này.
Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ chính sách BHXH theo cơ chế mới cũng
gặp phải không ít khó khăn, vớng mắc cần tháo gỡ. Một trong những khó khăn
lớn nhất là việc ngời lao động, chủ sử dụng lao động cha nhận thức đầy đủ ý
nghĩa và tầm quan trọng của chính sách BHXH. Từ đó, họ cha có đợc thái độ và
hành vi đúng đắn trong việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH theo quy định
của pháp luật. Chính vì vậy, hiện tợng né tránh, trốn nộp BHXH cho ngời lao
động còn khá phổ biến, nhất là khu vực các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số
tiền nợ đọng BHXH của các đơn vị, doanh nghiệp cũng không nhỏ. Trong trờng
hợp nh vậy, cơ quan BHXH có quyền từ chối cha giải quyết các chế độ BHXH
cho ngời lao động theo nguyên tắc có đóng có hởng. Rất nhiều trờng hợp chủ
sử dụng lao động đã thu tiền BHXH của ngời lao động nhng không nộp cho cơ
quan BHXH. Ngời lao động bị lợi dụng, vi phạm quyền lợi của mình về BHXH từ
phía chủ sử dụng lao động mà vẫn không biết, không dám đấu tranh, bảo vệ
quyền lợi của mình. Nguyên nhân đơn giản là vì họ không biết đúng đắn, đầy đủ
về chế độ, chính sách BHXH do pháp luật quy định.
Chính vì vậy, cần phải có một cái nhìn khách quan về việc thực hiện
BHXH cho ngời lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó có những biện
pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác thực thi BHXH cho ngời lao động.
Đây là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng và cấp bách trong giai đoạn
chuyển đổi cơ chế thực hiện chế độ, chính sách BHXH hiện nay. Thiết nghĩ, đây
không chỉ là công việc của ngành BHXH mà là nhiệm vụ chung của của nhiều
ngành, nhiều cấp, của toàn xã hội. Bởi vì đây là việc thực hiện một chính sách xã
hội lớn của Đảng và Nhà nớc, một nội dung quan trọng của Bộ Luật lao động và
quan trọng hơn nữa là việc góp phần vào việc đảm bảo quyền lợi về BHXH của
ngời lao động trong các doanh nghiêp Việt Nam.
Ch ơngII
THựC TRạNG BHXH trong các doanh nghiệp Việt Nam
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thuê
mớn dới 10 lao động... tới đây cần đợc bổ sung vào diện bắt buộc tham gia
BHXH. Luật BHXH khi ra đời sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc triển
khai rộng rãi và hiệu quả chính sách BHXH.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mặt khác, sau 5 năm thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Chính phủ giao
mặc dù đã cố gắng rất nhiều và đạt đợc nhiều thành tựu, song trớc yêu cầu của
thiên niên kỷ mới, nghành BHXH cần đợc hoàn thiện thêm về chức năng nhiệm
vụ. Thí dụ: vấn đề bổ sung thành viên của hội đồng quản lý, thay đổi hiện đại hoá
hoạt động thu, chi, quản lý quỹ ...
I.
Tổng quan về tình hình BHXH trong các doanh nghiệp
Việt Nam
1. Trong khối doanh nghiệp quốc doanh
Các đơn vị sản xuất kinh doanh các ngành hàng độc quyền: Bu điện, điện
lực, xăng dầu... có doanh thu cao, nên thực hiện tốt chính sách BHXH. Quyền lợi
của ngời lao động trong các doanh nghiệp này đợc đảm bảo.
Còn với các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng không phải là độc
quyền. Trong số các doanh nghiệp thực hiện tốt chính sách BHXH: có các doanh
nghiệp làm ăn phát triển và cả các doanh nghiệp làm ăn khá chật vật nhng vẫn có
nhận thức tốt về chính sách BHXH và quan tâm, chăm sóc quyền lợi ngời lao
động. Điển hình nh công ty Bia rợu ong Thái Bình với150 lao động, lơng trung
bình cha đạt nổi 400.000 đồng/ngời/tháng nhng tiền đóng BHXH cho ngời lao
động thì doanh nghiệp luôn trích nộp đúng đủ kịp thời.
Những tởng các doanh nghiệp các doanh nghiệp quốc doanh thì thực hiện
tốt chính sách BHXH cho ngời lao động, việc thu BHXH trong các đơn vị này thì
không cần phải bàn đến, mọi ngời vẫn coi nh một hoạt động suôn sẻ đơng nhiên.
Vậy mà sự việc lại không hẳn thế, vẫn còn các doanh nghiệp cha thực hiện tốt
chính sách này nh nộp phí chậm hoặc không có khả năng nộp phí. Kể cả những
Nhà nớc nợ tiền BHXH.
Tính đến cuối năm 1999, BHXH Tuyên Quang quản lý 915 đầu mối, thì có
64 doanh nghiệp Nhà nớc và 7 doanh nghiệp cổ phần với 11.208 lao động tham
gia. Nếu chỉ tính riêng 71 doanh nghiệp này thì kế hoạch 1999 phải nộp là 84 tỷ
đồng. Ngoài 32 đơn vị thờng xuyên trích nộp đầy đủ đúng kế hoạch, 50% trong
số 71 doanh nghiệp chắc chắn không thể hoàn thành kế hoạch năm với số tồn
hàng tỷ đồng (riêng 10 đơn vị của các ngành lớn nh : đờng, chè... đã nợ trên 1,1
tỷ đồng) đó là cha kể đến số nợ của 38 doanh nghiệp tồn đọng từ 1993 đến nay
8,5 tỷ đồng. Nợ cao nhất là Công ty chè Sông Lô có 2000 công nhân song số nợ
từ 1993 đến nay lên đến 2 tỷ đồng, bình quân mỗi công nhân nợ 1 triệu đồng
BHXH. Giám đốc Công ty cho biết hiện nay Công ty đang có hớng trả dần (?).
Song, ông cũng lấp lửng tuyên bố: Nếu mỗi năm giỏi lắm cũng trả đợc 100 triệu
thì cũng phải 20 năm sau mới hết nợ đợc.
Một nguyên nhân cơ bản là nền kinh tế và các ngành sản xuất ở Tuyên
Quang không phát triển đợc. Là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển nông-lâm-
công nghiệp, hàng năm toàn tỉnh cần có 300 tỷ đồng cho hoạt động bộ máy song
chỉ đáp ứng đợc 1/4 (khoảng 85 đến 90 tỷ đồng) còn 3/4 phải chờ đợi cấp từ ngân
sách Nhà nớc. Sản xuất bị đình đốn. Ngay nh việc phát triển cơ sở hạ tầng nhiều
thị xã thành phố phát triển khá sôi động, song thị xã Tuyên Quang vẫn cứ khép
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mình giản dị nh... hàng chục năm trớc. Nhiều doanh nghiệp muốn đầu t công
nghệ, phát triển sản xuất song sợ xé rào đành phải nằm im. Ngành Ngân hàng
không giải ngân đợc. Lợng hàng hoá cho các cơ sở sản xuất ra không tiêu thụ đ-
ợc. Công ty đờng Sơn Dơng, đờng Tuyên Quang hạ giá bán còn 4000đồng/kg nay
vẫn tồn đọng 2800 tấn; Xí nghiệp vật liệu xây dựng tồn 7 triệu viên gạch...7
doanh nghiệp giấy (2000 lao động) và hàng chục xí nghiệp vật liệu xây dựng, cơ
khí, sửa chữa, may... công nhân sống thoi thóp với đồng lơng 160.000
đồng/tháng, cả công nhân và xí nghiệp đều không có khả năng đóng BHXH. Đã
vậy, số chi trả cho ốm đau lại quá cao trở thành mối nguy cho việc bảo tồn quỹ, ở
góc độ kinh tế, mà chính nó làm gia tăng nhanh chóng số lao động đợc đảm bảo
về chế độ BHXH.
2. Trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
2.1. Trong các doanh nghiệp trong nớc
Những năm qua, Đảng và Nhà nớc đã có nhiều chính sách khuyến
khích phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Khi thực hiện sắp xếp lại
doanh nghiệp Nhà nớc, nhiều doanh nghiệp đã đợc cổ phần hoá, bán khoán, cho
thuê..., khu vực hành chính sự nghiệp cũng đang từng bớc giảm thiểu 15% công
chức Nhà nớc nên lực lợng lao động khu vực ngoài quốc doanh cũng có xu hớng
tăng cao. Trong tình hình ấy, Bộ Chính Trị đã có chỉ thị số 15/ CT-TƯ ngày
26/5/1997 về Tăng cờng lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH, Thủ tớng Chính
phủ đã có nhiều ý kiến chỉ đạo hệ thống BHXH Việt Nam phải tổ chức thực hiện
tốt chính sách BHXH để đảm bảo sự công bằng xã hội đối với ngời lao động ở
khu vực này.
Theo quy định tại điều 141 và điều 3 BHXH ban hành kèm theo Nghị
định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ thì đối tợng tham gia BHXH là
ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên.
Thực hiện sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam, BHXH các tỉnh thành phố
đã cố tìm những biện pháp sáng tạo thực hiện BHXH khu vực ngoài quốc doanh
và thu đợc một số kết quả ban đầu.
+ Năm 1997 có 2.305 đơn vị với 83.578 ngời lao động tham gia BHXH.
+ Năm 1998 có 3.136 đơn vị với 112.223 ngời lao động tham gia BHXH.
+ Năm 1999 có 3.900 đơn vị với 147.855 ngời lao động tham gia BHXH.
+ Năm 2000 đã có 4.735 đơn vị với 197.983 ngời lao động tham gia BHXH.
Công tác tuyên truyền giáo dục đã có tác động tốt không chỉ với ngời lao
động đã tham gia BHXH mà còn giúp những ngời cha tham gia hiểu và nâng cao
nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách của Đảng
và Nhà nớc. Ngời lao động ngoài quốc doanh cũng dần nhận ra: Tham gia BHXH
không chỉ đợc công bằng, bình đẳng với các thành phần kinh tế và loại hình lao
đủ, kịp thời, cha bao quát cụ thể hoá trong các quy định về hợp đồng lao động,
tiền lơng, xử phạt Các quy định về thực hiện BHXH có trong nhiều văn bản
luật, Nghị định của Chính phủ thông t hớng dẫn của các bộ ngành có liên quan,
nhng mỗi văn bản lại điều chỉnh một mối quan hệ về BHXH giữa Nhà nớc với
các cơ quan, ngành cấp riêng, trong các loại hình doanh nghiệp, ngành nghề
riêng, nên chủ sở dụng lao động và ngời lao động khó nắm bắt và khó thực hiện.
- Khả năng quản lý, đôn đốc thu nộp BHXH của cơ quan BHXH cha đáp
ứng nhu cầu thực tế. Bởi thời gian qua thực hiện BHXH khu vực ngoài quốc
doanh thiếu về cán bộ, cơ sở vật chất, phơng tiện hoạt động nghiệp vụ và nhất là
thiếu cơ chế khuyến khích cán bộ công chức ngành BHXH làm công việc khó
khăn này.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ có giấy phép chứ thực tế không
hoạt động.
- Hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha có tổ chức công đoàn và
nếu có cũng chỉ là hình thức. Công đoàn ở đây cha làm đợc chức năng bảo vệ
quyền lợi ngời lao động vì bản thân họ cũng là ngời lao động có tâm trạng và
hoàn cảnh tơng tự.
- Chủ doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh cha thực sự tôn trọng quyền
lợi hợp pháp của ngời lao động, tìm cách trốn tránh tham gia BHXH của ngời lao
động bằng cách đăng ký lao động ít hơn 10 lao động hoặc ký hợp đồng dới 3
tháng. Doanh nghiệp chỉ thực hiện các hoạt động Tự bảo hiểm một số quyền lợi
không thể không đáp ứng để động viên ngời lao động. Cơ quan BHXH không có
chức năng kiểm tra, yêu cầu các doanh nghiệp phải tham gia BHXH.
- Do trình độ hiểu biết về chính sách BHXH của ngời lao động còn thấp
đồng thời nhu cầu tìm việc làm là mục tiêu bức thiết, nên ngời lao động không
chú ý đến quyền lợi vè BHXH, không đốc thúc việc đóng BHXH của chủ sử dụng
lao động, nên cũng ảnh hởng đến việc mở rộng BHXH.
Vì vậy, cách giải quyết vấn đề tham gia BHXH nói riêng và các chính
sợi Nghĩa Hng (65), 39 đơn vị còn lại chỉ tham gia mồm.
ở các tỉnh khác nh Hà Tây, Hà Nội, Đồng Tháp, Thanh Hoá việc các chủ
sử dụng lao động không đóng BHXH cho công nhân phần lớn với lý do: dới 10
ngời, và hợp đồng dới 3 tháng(!). Song việc ở Phú Thọ có 66/100 đơn vị có 10 lao
động trở lên và ký hợp đồng 3 tháng trở lên mà chỉ có bấy nhiêu đơn vị và lao
động tham gia BHXH cho thấy: việc viện cớ dới 10 ngời và dới 3 tháng chỉ là
chiêu bài để các giới chủ trốn BHXH! Các chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh
phần lớn không qua đào tạo, không có quy hoạch, không có tổ chức; ai có tiền là
đứng ra kinh doanh theo kiểu chụp giựt, đợc năm nào hay năm ấy nên họ chỉ tận
thu mà không tận nghĩa với ngời lao động. Ngời lao động trong các doanh
nghiệp ở tứ xứ, họ chỉ cần việc làm, đồng lơng làm đến đâu hay đến đó, đâu lơng
cao thì đến, đâu thấp thì bỏ đi, nếu đòi hỏi BHXH với chủ doanh nghiệp sợ mất
việc làm. Đó là bản chất của việc ngời sử dụng lao động thì trốn tránh, ngời lao
động thì thờ ơ với BHXH. Một ví dụ điển hình là Công ty TNHH Việt Hng (Viêt
Trì): Theo dự án từ năm 1998, Công ty này đăng ký 42 lao động (thực chất có
hàng trăm lao động): đây là một công ty ngoài quốc doanh lớn nhất tỉnh Phú Thọ,
kinh doanh đa ngành nghề, phát triển mạnh nhất là kinh doanh vận tải, xe buýt,
taxi với hàng chục đầu xe khác nhau Trụ sở Công ty to hơn trụ sở BHXH tỉnh
Phú Thọ. Thậm chí, Công ty này còn có cả hệ thống công đoàn, còn thực hiện cả
việc bù lỗ cho xe buýt, làm công tác từ thiện Song suốt từ khi thành lập đến
nay, Công ty cha đóng một đồng BHXH nào cho công nhân, vậy mà cũng không
thấy tổ chức công đoàn này nói gì?. Các công ty Thơng mại Mai Khánh (23 lao
động), Sơn Ngọc (35 lao động) Việt Hà (15 lao động), Công ty bao bì Thơng mại
Quế Hải (52 lao động), Công ty dựng Hoà Phong (25 lao động) cũng không hề
có ngời nào tham gia BHXH?. Xí nghiệp sản xuất bao bì Tân Phong (Lâm Thao)
có hàng trăm lao động, chuyên kinh doanh bao bì cho Công ty Supe phốt phát và
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoá chất Lâm Thao, bà chủ xí nghiệp là uỷ viên UBMTTQ tỉnh, sẵn sàng bỏ ra
hàng chục triệu đồng để làm từ thiện, song thực hiện nghĩa vụ nộp BHXH cho
việc trong các đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài tại Việt Nam) Nhng vấn đề đợc quan
tâm hơn cả là quan hệ lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tháng 12/1987, Luật đầu t nớc ngoài vào Việt Nam đợc ban hành. Đến
nay, đã có gần 2000 dự án đợc cấp giấy phép đầu t tại Việt Nam với số tiền đầu t
trên 30 tỷ USD. Các khu chế xuất công nghiệp tập trung đợc hình thành. Trên 4
vạn lao động thờng xuyên làm việc trong các cơ sở đã đi vào hoạt động nền nếp,
cha kể nhiều vạn ngời lao động của nghành xây dựng thi công các công trình.
Đầu t sản xuất và dịch vụ có đợc mở rộng thì ngời lao động mới có thêm việc
làm, đợc rèn luyện về kỷ luật lao động, tác phong làm việc, biết thêm ngoại ngữ
và điều quan trọng hơn là con ngời trở nên năng động sáng tạo hơn trong việc sủ
dụng sức lao động của mình.
Tuy nhiên, đã có không ít vớng mắc diễn ra trong quan hệ lao động ở
khu vực này. Đó là vấn đề điều hành sản xuất kinh doanh (mua bán vật t, tiêu thụ
sản phẩm), ngời nớc ngoài nói thế nào, ngời ta biết vậy, bởi việc mua bán
nguyên liệu, vật t, máy móc, thiết bị diễn ra ở nớc ngoài. Hơn thế, trong ban lãnh
đạo Công ty, ngời Việt Nam chiếm tỷ lệ ít hơn, ít giữ các vai trò, vị trí trọng trách
hơn, cấp bậc cũng thấp hơn (chỉ là phó giám đốc, còn giám đốc là ngời nớc
ngoài). Vốn đóng góp về phía Việt Nam cha đến 50%. Mục tiêu cao nhất của chủ
đầu t nớc ngoài là lợi nhuận, nên việc thuê công nhân Việt Nam với giá càng thấp
càng tốt, ngoài ra còn thiết lập kỷ luật lao động, phạt nặng hơn những sơ suất do
công nhân Việt Nam gây ra gây nên sự phản đối bất bình. Cán bộ lãnh đạo và
công nhân Việt Nam luôn chịu một tâm lý đi làm thuê cho ngời nớc ngoài, coi họ
là kẻ bóc lột, coi trọng lợi nhuận nên quan hệ lại càng trở nên khó gần gũi, gắn
bó. Ngôn ngữ bất đồng, dễ dẫn đến hiểu lầm hoặc mâu thuẫn trong lao động.
Trong những năm gần đây, tiền lơng trong các đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài
cũng không hấp dẫn mạnh, bởi thu nhập và tiền lơng của ngời lao động ở một số
ngành nghề của doanh nghiệp Việt Nam tăng lên. Mặt khác, các đơn vị có vốn
đầu t nớc ngoài làm việc thờng không ổn định, tháng này làm, tháng sau nghỉ.
ở mức độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện 3 chế độ. Trong đó, ít nhất phải
có 1 trong 5 chế độ: (3); (4), (5), (8), (9).
Theo điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nớc ta hiện nay bao
gồm 5 chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hu trí và chế độ tử tuất.
1. Chế độ trợ cấp ốm đau.
Chế độ này giúp cho ngời lao động có đợc khoản trợ cấp thay thế thu
nhập bị mất do không làm việc khi bị ốm đau. Đối tợng trợ cấp của chế độ này là
ngời lao động ốm, ngời lao động có con ốm và ngời lao động áp dụng các biện
pháp kế hoạch hoá gia đình...
Năm 2000 đẵ có trên 1 triệu lao động nghỉ hởng chế độ ốm đau, với trên
6 triệu ngày công đợc ngành BHXH thanh toán trên 80,2 tỷ đồng. 6 tháng đầu
năm 2001 có hơn 523 nghìn lợt ngời hởng chế độ ốm đau với trên 3 triệu ngày
công, số tiền thanh toán gần 44.8 tỷ đồng.
Trong khối hành chính sự nghiệp, ngời lao động hởng mức lơng cố định
theo thang, bậc lơng do Nhà nớc quy định và đó cũng chính là quỹ tiền lơng tham
gia BHXH, đợc cấp bởi ngân sách Nhà nớc. Ngoài những trờng hợp thai sản, điều
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trị bệnh dài ngày trong các bệnh viện, ngời lao động thờng hạn chế việc nghỉ ốm,
nếu có đầy đủ chứng từ nghỉ ốm, họ cũng chỉ đợc thanh toán 75% mức lơng tham
gia BXHX do ngành BHXH chi trả theo quy định, do vậy thanh toán nghỉ ốm
không có lợi cho họ. Năm 2000, với trên 1,5 triệu lao động tham gia BHXH, chỉ
có 70.000 lợt ngời nghỉ ốm với 760.000 ngày công, chi trả 9,68 tỷ đồng, 6 tháng
đầu năm 2001, cũng với số lao động trên 1,5 triệu ngời, có 32.000 lợt ngời nghỉ
ốm, với 444.000 ngày công, chi trả trên 5,2 tỷ đồng.
Khối doanh nghiệp Nhà nớc, có số lao động tham gia BHXH xấp xỉ HCSN,
cũng trên 1,5 triệu ngời, nhng số ngời nghỉ ốm năm 2000 lên đến 770.000 lợt ng-
ời, với trên 4,7 triệu ngày công và số tiền chi trả từ quỹ BHXH lên đến 52,4 tỷ
đồng; 6 tháng đầu năm 2001 đã có gần 400 lợt ngời nghỉ ốm với 2,3 triệu ngày
việc trong ngày? Cá biệt có đơn vị có số chi chế độ này quá cao, chiếm gần 8%
so với tổng quỹ lơng khi tham gia bảo hiểm.
Để đảm bảo cho sự chính xác, đòi hỏi ngành Y tế cần kiên quyết trớc hiện t-
ợng ốm giả có trách nhiệm với những giấy tờ, hồ sơ đã cấp. Có thể chi trả chế độ
BHXH ngắn hạn có thể thay đổi cách làm nh hiện nay và thực hiện thí điểm ở
một số doanh nghiệp, một số vùng để xác định hiệu quả chắc chắn của nó, trớc
khi đa vào luật BHXH thành cơ sở pháp lý. Đó là với khối hành chính sự nghiệp
với đặc điểm tập trung tại các thành phố, đô thị, trung tâm hành chính quận
huyện, nơi tập trung hệ thống Y tế thuận tiện cho việc khám bệnh điều trị, việc
chi trả chế độ vẫn áp dụng nh hiện nay, thanh toán trên cơ sở hồ sơ, bệnh án và
do cơ quan BHXH thực hiện; với nhiều doanh nghiệp, nhất là với những doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp hoạt động phân tán, lu đông nh ngành dệt may, xây
dựng, cầu đờng, địa chất, có thể khoán chi chế độ này cho doanh nghiệp. Điều
đó tạo thuận lợi cho doanh nghiệp không mất nhiều thời gian thanh toán BHXH,
chủ động chi ốm đau và đó cũng chính là mong mỏi của nhiều doanh nghiệp,
thuận lợi cho cơ quan BHXH, và khi đó nhiều doanh nghiệp sẽ khống chế tỷ lệ
ngời ốm của ngời lao động.
2. Chế độ trợ cấp thai sản
Chế độ này nh hiện nay đã giúp lao động nữ có đợc khoản trợ cấp thay thế
cho phần thu nhập bị mất do không làm việc vì sinh con. Đối tợng trợ cấp của chế
độ này là lao động nữ trong thời gian mang thai, sinh con và nuôi con và cả lao
động nữ nuôi con sơ sinh.
Theo số liệu thống kê năm 2000, có gần 160.000 ngời nghỉ hởng chế độ thai
sản với số tiển bảo hiểm xã hội trên 228,6 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2001, có
150.000 ngời nghỉ chế độ thai sản đợc thanh toán từ quỹ BHXH với số tiền gần
179 tỷ đồng.
Đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao đông nữ, đặc biệt là các doanh
nghiệp kinh doanh các mặt hàng may mặc thời trang Số lao động nữ nghỉ sinh
con đợc hởng chế độ thai sản của BHXH thờng cao hơn các doanh nghiệp khác
nh: Công ty Dệt Thanh Sơn (Đà Nẵng) có 238 lao động, chỉ trong quý 1 năm
Chế độ này nhằm đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho ngời lao
động không may bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Ngời lao động sẽ đ-
ợc trợ cấp một lần nếu nh khi hồi phục sức khoẻ mà bị suy giảm khả năng lao
động dới 31% và đợc trợ cấp hàng tháng nếu ngời lao động bị suy giảm sức lao
động từ 31%-100%, ngoài ra nếu tỷ lệ mất sức lao động từ 81% trở lên thì còn đ-
ợc hởng trợ cấp tự phục vụ bằng 80% lơng tối thiểu. Mức trợ cấp phụ thuộc vào
mức suy giảm khả năng lao động. Trong trờng hợp ngời lao động bị chết BHXH
18