KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VÀ MỨC ĐỘ VẬN DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG TRUYỀN THÔNG, TIẾP THỊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HAY KHU VỰC PHÍA NAM - Pdf 33

Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC VĂN LANG
KHOA THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT
VÀ MỨC ĐỘ VẬN DỤNG MẠNG XÃ HỘI
TRONG TRUYỀN THÔNG, TIẾP THỊ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH HAY KHU VỰC PHÍA NAM
NHÓM NGHIÊN CỨU
LIÊU THÁI VĂN UYÊN( NHÓM TRƯỞNG )
PHAN THỊ THANH HƯƠNG
VI TRẦN THANH THẢO
HOÀNG NHẬT NAM
TRỊNH HOÀNG QUÂN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ HOÀNG TRỌNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tháng 06 Năm 2012

Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân
2


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên

đối tượng hướng đến là những vị giám đốc hay chủ doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh hay khu vực phía Nam sẽ cho nhóm chúng tôi cái nhìn bao quát về tình hình các
doanh nghiệp hiên nay xung quanh đề tài về mạng xã hội. Sau đó nghiên cứu định lượng và sử
lí số liệu bằng phương pháp thống kê sẽ cho ra những kết quả nhất định về vấn đề mà các
doanh nghiệp vấp phải khi lựa chọn hình thức này cũng như là nguyên nhân kiến họ do dự
không chọn mạng xã hội là phương tiện truyền thông, tiếp thị. Để rồi dựa trên những kết quả
này, nhóm chúng tôi sẽ đưa ra những đề xuất nhằm giúp cho các doanh nghiệp mạnh dạn sử
dụng mạng xã hội để phát triển kinh doanh cũng như là định vị thương hiệu của họ.
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân
3


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

MỤC LỤC
Trang
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO................................................................................................................2
TÓM LƯỢC...............................................................................................................................................3
MỤC LỤC..................................................................................................................................................4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU..............................................................................................................5
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH................................................................................................................6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT........................................................................................................7
CHƯƠNG 1...............................................................................................................................................8
CHƯƠNG 2.............................................................................................................................................14
CHƯƠNG 4.............................................................................................................................................26
CHƯƠNG 5.............................................................................................................................................27
PHỤ LỤC.................................................................................................................................................31
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................................34


Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân
7


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu kết nối với nhau của mọi người trong cuộc sống hội nhập, do đó,
mạng xã hội ngày càng được nhiều người quan tâm, sử dụng. Chính vì ngày càng có nhiều
người biết đến và sử dụng mạng xã hội hơn nên việc vận những những trang mạng đó để truyền
thông và tiếp thị cho các doanh nghiệp hay công ty là một môi trường lí tưởng để phát huy.
Mạng xã hội ngày càng chứng minh được khả năng kết nối mọi người của nó, đáp ứng nhu cầu
của mọi người. Ngày nay, khi tham gia vào một trang mạng xã hội nào đó, chúng ta dễ dàng
thấy được các mẩu quảng cáo, rao vặt của một số công ty, doanh nghiệp nhằm mong muốn thu
hút được sự chú ý của mọi người và từ đó họ sẽ biết đến công ty mình, hàng hóa hay dịch vụ
của mình hay đối với những công ty đã có chỗ đứng trên thị trường thì đây cũng là một phương
tiên để họ thông báo tới khách hàng của mình mỗi khi công ty tung ra những đợt hàng mới hay
dịch vụ mới, khuyến mãi,v..v..
Ở một số nước đã phát triển hiện nay như Mỹ chẳng hạn, việc vận dụng mạng xã hội như một
trong những kênh truyền thông chính để tiếp thị cho tên tuổi công ty họ đã không còn là một
vấn đề xa lạ nữa.
Nhưng ở Việt Nam, các doanh nghiệp hầu như chưa quen với việc sử dụng mạng xã hội làm
phương tiện truyền thông, tiếp thị cho doanh nghiệp của mình, đa phần các công ty áp dụng
mạng xã hội vào việc kinh doanh của mình lại là các công ty liên doanh, hay có vốn đầu tư
nước ngoài. Vậy lí do vì sao các công ty nội địa lại không phổ biến một hình thức quảng cáo
giá rẻ nhưng lại hiệu quả như thế này? Để trả lời cho câu hỏi đó nhóm nghiên cứu khoa học
chúng tôi đã quyết định nghiên cứu đề tài về “Khảo sát về sự hiểu biết và mức độ vận dụng

Mọi người có thể thấy, ngay từ tên đề tài, nhóm nghiên cứu khoa học của chúng tôi đã nên lên
rất rõ mục tiêu của cuộc nghiên cứu, đó là: “Khảo sát về sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng
xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
với khu vực phía Nam”. Chúng tôi mong muốn qua cuộc khảo sát có thể tìm hiểu sự hiểu biết
và mức độ vận dụng mạng xã hội của doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía
Nam, cũng như biết được nguyên nhân vì sao mạng xã hội chưa được sử dụng phổ biến trong
tiếp thị, truyền thông.
Cũng như chúng tôi đã nêu một cách cụ thể ở các phần trên, thông qua cuộc nghiên cứu để giải
quyết những phần chưa được giải đáp về tỷ lệ doanh nghiệp biết về mạng xã hội; tỷ lệ doanh
nghiệp sử dụng mạng xã hội để tiếp thị, truyền thông; tỷ lệ doanh nghiệp có chuyên viên phụ
trách mảng tiếp thị, truyền thông qua mạng xã hội và phần trăm ngân sách mà họ dành cho việc
này là bao nhiêu?
Ngay từ những ý tưởng sơ khai ban đầu, chúng tôi đã thấy được rằng đề tài cùa chúng tôi
hướng đến các chủ doanh nghiệp, hay chí ít là những người có quyền hành trong công ty, vì
những người này mới nắm rõ tình hình chung, thực tế của công ty họ như thế nào. Dưới sự giúp
đỡ của thầy hướng dẫn, nhóm nghiên cứu khoa học chúng tôi có cơ hội tiếp cận được các
doanh nghiệp tham gia vào “Hội Doanh Nghiệp hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” diễn ra dịp
đầu năm 2012 này để thực hiện việc khảo sát của nhóm. Những kết quả từ việc nghiên cứu này,
sẽ là những bước đệm cho nhóm chúng tôi đi đến những kết luận cuối cùng cho những câu hỏi
đã nêu ra ở trên.
1.4 NHU CẦU NGHIÊN CỨU
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân
9


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

Đồng hành cùng với sự phát triển kinh tế hiện nay là sự tăng lên một cách chóng mặt của giá cả
do đồng tiền bị mất giá. Theo báo điện tử Dân Trí thì năm 2011 là một năm đánh dấu nhiều

chuyển các yêu cầu của kinh doanh – quản lí thành yêu cầu nghiên cứu. Phát biểu nghe có vẻ
đơn giản, như không hẳn là như vậy. Làm sao có thể đo lường thị trường một cách chính xác
khi mà những thông tin thu thập chỉ mang tính chất tham khảo? Làm sao có thể chuyển những
yêu cầu kinh doanh – quản lí thành yêu cầu nghiên cứu nếu không ai nói cho chúng ta biết về
Liêu Thái Văn Uyên – Phan Thị Thanh Hương _ Vi Trần Thanh Thỏa – Hoàng Nhật Nam – Trịnh Hoàng Quân
10


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

những yêu cầu kinh doanh – quản lí đó? Thu thập được những thông tin bổ ích này là điều này
rất đỗi quan trọng và cần thiết đối với chúng tôi, những sinh viên sắp ra trường, có một hành
trang, một vốn luyến mà nhà trường dành cho chúng tôi để chúng tôi có thể vững bước vào môi
trường làm việc thực thụ. Chúng ta, ai cũng biết rằng mục tiêu cuối cùng của việc học là làm
việc, nếu những gì chúng ta được học, không giúp được cho chúng ta trong môi trường làm
việc thì điều đó đã đi ngược lại với mục tiêu dạy và học. Cho nên, thông qua việc phải đi khảo
sát để có được kết quả, sinh viên có cơ hội cọ xát với thực tế, tiếp xúc với những con người đã
và đang làm việc, như vậy chúng tôi sẽ có một cái nhìn mới và toàn diện hơn về môi trường
sống và làm việc đó, để sau khi ra trường, chúng tôi không phải tốn thêm thời gian để thích
nghi với môi trường đó mà có thể thoải mái, tự tin thể hiện bản thân, chứng tỏ năng lực. Thời
gian là quý báu, vì thế đừng nên lãng phí nó.
Thứ hai, những kết quả mà chúng tôi đút kết được trong suốt quá trình nghiên cứu mang lại ý
nghĩa khoa học đối với đề tài nghiên cứu, đó chính là song song với việc nêu bật lên ưu điểm
của mạng xã hội với các doanh nghiệp, chúng ta sẽ biết được phần nào lí do họ chưa sử dụng
phổ biến hình thức truyền thông, tiếp thị qua mạng xã hội, những trở ngại ngăn cản họ tiếp cận
với hình thức quảng cáo tuyệt vời này. Và từ những kết quả đó, chúng tôi có thể đề xuất và kiến
nghĩ những giải pháp có thể, giúp các doanh nghiệp tương tác với khách hàng của họ nhiều hơn
thông qua mạng xã hội, có thể nói, một trang mạng xã hội vững mạnh là dựa vào số lượng
người biết đến nó, theo dõi nó. Lí do vì sao một công ty tuy rằng đã dày dặn kinh nghiệm, tồn

một cách thông minh là điều không thể tránh khỏi, và chúng ta có thể thấy rằng quảng cáo qua
các trang mạng xã hội hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích như tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi
nhuận,...Việc này rất có ý nghĩa với tình hình cạnh tranh gay gắt hiện nay, doanh nghiệp nào
cũng muốn tối thiểu chi phí và tối đa lợi nhuận.
1.6 CÁC MẶT GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Như những gì nhóm chúng tôi nêu lên ở mục 1.3 về mục đích nghiên cứu, đối tượng chúng tôi
hướng đến là những chủ doanh nghiệp ở khu vực phía Nam nói chung và trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng và cụ thể hơn là các doanh nghiệp tham gia vào “Hội Doanh
Nghiệp hàng Việt Nam Chất Lượng Cao”. Một điều tất yếu là rất khó có thể tiếp cận được
những vị này đối với những sinh viên năm ba như chúng tôi, nếu không có được sự giúp đỡ từ
phía thầy hướng dẫn, Thạc sĩ Hoàng Trọng. Nhưng ngay cả khi có cơ hội được tiếp cận những
vị chủ doanh nghiệp này thì liệu họ có sẵn lòng cung cấp cho nhóm chúng tôi những thông tin
đúng, chính xác hay là những thông tin mang tính chất tham khảo. Nhận được sự giúp đỡ từ
thầy hướng dẫn, song quãng đường mà nhóm còn phải đi còn rất dài mới tới được thành quả
mà nhóm mong muốn. Do đó, để có thể thuyết phục được những vị chủ doanh nghiệp, các vị
giám đốc này chấp nhận hợp tác, chúng tôi phải đầu tư kĩ lưỡng vào bản câu hỏi, được sử dụng
để thu thập thông tin từ họ. Bản câu hỏi có chỉnh chu, bắt mắt và toát lên vẻ chuyên nghiệp thì
những vị chủ doanh nghiệp hay giám đốc ấy mới có thể vui lòng hợp tác với nhóm nghiên cứu
chúng tôi. Bộ phận thu thập thông tin có tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình thì những
bộ phận sau như xử lí, sàng lọc thông tin; phân tích thông tin;v..v.. mới có thể làm tốt việc của
họ. Thông tin càng chính xác thì kết luận đút kết ra mới khiến cho người đọc tin tưởng.
Biết được những khó khắn có thể đến với nhóm nghiên cứu chúng tôi như vậy, nên ngay từ
những thời gian đầu tiên khi làm đề tài này, thầy hướng dẫn đã luôn nhắc nhở chúng tôi là phải
làm thật kĩ đề cương chi tiết, để có thể theo sát tiến độ thực hiện, biết được là trong quá trình
như thế, chúng tôi thực hiện còn thiếu sót những phần nào, có bổ sung thì bổ sung ở đâu, như
thể nào. Và quan trọng nhất là bản câu hỏi, muốn bản câu hỏi hoàn thiện, không sai sót gì thì
từng thành viên trong nhóm phải nắm bắt rõ được mục tiêu nghiên cứu và mục đích cuối cùng
mà nhóm sẽ nhắm tới là gì để hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Tất nhiên, “chín người mười ý”, đã làm việc nhóm thì sẽ phải có nhiều luồng ý tưởng khác
nhau, có những ý tưởng giao nhau, nhưng cũng có nhiều ý tưởng song song nhau, không có

CHƯƠNG 2
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
A. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY:
1) Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:
a) Ngoài nước:
Sáng 10/6/2011, trong khuôn khổ hội thảo về Mạng Xã hội cho các Giám đốc Marketing do
Trung tâm Pháp - Việt Đào tạo về Quản lý (CFVG) tổ chức tại Hà Nội. Phó giáo sư trường IAE
Paris Marc Divine đã dẫn ra kết quả một cuộc khảo sát do ông thực hiện đối với 200 công ty
quốc tế như IBM, L'Oreal, Unilever về sử dụng mạng xã hội trong hoạt động tiếp thị.
Theo đó, có tới 54% trong số các công ty này từ lâu đã sử dụng mạng xã hội làm công cụ
Marketing. Trang mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất không phải là Facebook (đứng thứ hai)
mà lại là LinkedIn. Đứng thứ ba là trang Viadeo, rồi đến Youtube, Twitter và đứng thứ sáu là
Dailymotion. Còn tại Mỹ có 70,3% doanh nghiệp dùng Facebook để quảng cáo, 58% dùng
Linkedin, 40% dùng Twitter và 26,8% dùng Youtube.
Như vậy, các giám đốc marketing ngoài việc sử dụng các mạng xã hội để quảng bá thương
hiệu, tạo hiệu ứng lan truyền , tìm kiếm khách hàng tiềm năng, v.v..., còn để thu thập phản hồi
của khách hàng và tạo nên sự gắn kết với đội ngũ nhân viên hiện thời và thu hút các nhân viên
tiềm năng.
(Nguồn: http://tamnhin.net/Doanhnghiep/11654/Mang-xa-hoi-va-ung-dung-trong-chien-luocmarketing-doanh-nghiep.html)

b) Trong nước:
Mạng xã hội đổ bộ vào Việt Nam lập tức tạo nên làn sóng người sử dụng. Theo báo cáo khảo
sát về mạng xã hội tháng 6 năm 2011 của công ty Vinalink media (thực hiện từ 5000 mẫu điều
tra trong 2 tháng theo phương pháp online) thì 54,3% người sử dụng internet của Việt Nam có
xem/tra cứu thông tin trên mạng xã hội. Trong đó, trang có số lượng người truy cập nhiều nhất
là Youtube (73,4%), Facebook (66,3%), Zing(me) (59%), viết nhật ký cá nhân trên Yahoo
(28,2%) và Google (20,8%)… Các thành viên mạng tham gia thảo luận nhiều nhất theo thứ tự
là trên mạng xã hội (74,5%), diễn đàn âm nhạc (60,3%), diễn đàn phim (49,1%), diễn đàn học
tập (48,5%), diễn đàn công nghệ (47,5%)...

Chúng tôi muốn thông qua cuộc nghiên cứu này để tìm kiếm một giải pháp thích hiện để đề
xuất cho các doanh nghiệp một phương pháp truyền thông mới nhưng hiệu quả hơn trong kinh
doanh.
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân

15


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

3) Tóm lược cơ sở lý luận:
Sự ra đời của mạng xã hội thay đổi hoàn toàn phương pháp cư dân mạng liên kết với nhau và
trở thành một phần tất yếu mỗi ngày của hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới. Trên các
trang mạng xã hội này, các thành viên có thể tìm kiếm bạn bè, đối tác dựa theo nhóm (ví dụ tên
trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (địa chỉ e-mail, tên), hoặc dựa trên sở
thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua
bán...
Hơn nữa, nhiều cá nhân hay hộ gia đình đã biết sử dụng mạng xã hội để quảng cáo mua hay
bán hàng hóa thì đa phần doanh nghiệp Việt Nam chưa biết nhiều về mạng xã hội. Với con số
90% doanh nghiệp Việt Nam chưa có chức danh giám đốc tiếp thị (CMO) và nhiều lãnh đạo
doanh nghiệp không biết về mạng xã hội nên khu vực này còn bị bỏ ngỏ do không có người tư
vấn.
Việc tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của MXH đối với doanh nghiệp và tìm hiểu mức độ sử
dụng mức độ truyền thông tiếp thị là hết sức cần thiết và có ý nghĩa. Giới trẻ Việt Nam ngày
càng tiếp xúc sâu với mạng xã hội, Youtube và ngày một sử dụng nó hiệu quả hơn. Vì vậy,
MXH là “mảnh đất màu mỡ” để quảng bá hình ảnh doanh nghiệp. Mà các doanh nghiệp Việt
Nam nên học cách tận dụng hiệu quả hơn.
B. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
1) MẠNG XÃ HỘI (MXH):

nghìn thành viên ở nhiều quốc gia khác nhau.
Với 140 triệu người dùng, MySpace được coi là MXH thành công nhất thế giới hiện nay. Năm
ngoái, MySpace còn đạt số lượt truy cập cao hơn cả Google. Với đủ các mối quan hệ từ các
hoạt động thương mại, tìm kiếm đối tác, quảng bá phim ảnh đến các hình thức kiếm tiền, giới
thiệu bản thân, có người đã so sánh Myspace là "một nước Mỹ thu nhỏ".
Sau thành công của Myspace, Yahoo phát hành dịch vụ Yahoo 360o vào tháng 7/2005 như một
chiến lược mới của mình nhắm vào thị trường MXH. Với nền tảng là hệ thống Blog, Yahoo
360o hiện đang là MXH phổ biến nhất ở VN với cái tên quen thuộc Blog yahoo 360o. "Do
Yahoo 360o là một MXH đơn giản dưa trên nền tảng chính là blog nên mọi người gọi là blog
Yahoo 360o, có thể so với các nhà chuyên môn đánh giá thì chưa được chuẩn xác vì nó là một
MXH nhưng xét trên khía cạnh blogger, người sử dụng bình thường thì đây là từ chấp nhận
được", theo ông Vũ Kiêm Văn nhận xét.
Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 200 MXH với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Sự thành công
của các trang này đã khiến MXH đang trở thành một chiến lược phát triển Internet với nguồn
lợi nhuận khổng lồ. Không chỉ có Yahoo phát hành dịch vụ Yahoo 360o, tháng 7/2005, hãng
truyền thông News Corp đã mua lại MySpace với cái giá 580 triệu USD hay một MXH tại Anh
là Bebo.com đang được Viacom và Yahoo "dòm ngó" với cái giá 1 tỷ USD.
c) Những ưu điểm của quảng cáo trực tuyến:
Cũng theo Wikipedia thì Quảng cáo trực tuyến có những ưu điểm như sau:
• Khả năng nhắm chọn
Nhà quảng cáo trên mạng có rất nhiều khả năng nhắm chọn mới. Họ có thể nhắm vào các công
ty, các quốc gia hay khu vực địa lý cũng như họ có thể sử dụng cơ sở dữ liệu để làm cơ sở cho
tiếp thị trực tiếp. Họ cũng có thể dựa vào sở thích cá nhân và hành vi của người tiêu dùng để
nhắm vào đối tượng thích hợp.
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân

17


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên

Pond trắng hồng của mỹ phẩm Pond vừa qua do Văn Mai Hương làm chủ clip cũng thu hút gần
500.000 view trên Zing.me trong vài tuần làm tiếp thị lan truyền.
"Nếu biết sử dụng đúng cách mạng xã hội, hiệu quả kinh doanh sẽ rất lớn", ông Hà Tuấn, CEO
Vinalink Media JSC phát biểu. Bởi khảo sát từ phía tác động tới hành vi mua sắm của người
tiêu dùng, nghiên cứu của Vinalink cho biết có đến 35% số người dùng Internet ở Việt Nam
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân
18


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

từng tham khảo thông tin trên các diễn đàn và 25,5% từng xem thông tin từ bạn bè, fanpage,
quảng cáo trên các mạng xã hội trước khi mua hàng hay dịch vụ.
Ông Hà Tuấn cũng cho rằng: "Nếu biết phân khúc để đánh đúng đối tượng mục tiêu, việc sử
dụng mạng xã hội không chỉ là bán hàng hay dịch vụ mà còn là phương tiện làm thương hiệu
để kết hợp với các kênh khác tiếp cận tới mục tiêu. Tuy nhiên, quảng cáo các sản phẩm dịch vụ
nên xác định cho khu vực thành thị và những người có thói quen sử dụng mạng xã hội".
Tổng Giám đốc Digimarketing, chị Lê Thúy Hạnh, cho hay, “Đa số các doanh nghiệp có thói
quen truyền tải cùng một thông điệp trên các mạng xã hội khác nhau thay vì phát triển các
hình thức truyền đạt riêng cho mỗi trang này. Trong khi đó, mỗi trang đều có những đặc tính
riêng. Cái được chấp nhận ở Tumblr có thể bị coi là spam trên Facebook. Phong cách viết có
hiệu quả với Twitter có thể thất bại trên FriendFeed”.
"Vì thế, để tối đa hóa tác dụng của mạng xã hội, các doanh nghiệp nên truyền tải những thông
điệp khác nhau trên các phương tiện khác nhau. Ngoài ra, các doanh nghiệp nên giảm bớt các
"tuyên bố chính thức" mà hướng sâu hơn vào các thông điệp mang tính cá nhân để tạo ra sự
kết nối với khách hàng", bà Lê Thúy Hạnh lưu ý.
c) Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ngần ngại sử dụng MXH trong truyền thông,
tiếp thị?
Có thể nói nguyên nhân của tình trạng này thì có nhiều, nhưng đáng chú ý có một số sau:

lập các trang MySpace và Facebook với mục đích thu hút được càng nhiều khách hàng càng
tốt.
Một ví dụ điển hình là Dell, có một trang Facebook riêng bao gồm các sản phẩm truyền thông
xã hội của hãng dành cho các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, người dùng có thể trở thành người
hâm mộ của công ty trên trang Facebook này, hoặc có thể tham gia vào các mạng xã hội khác
có liên kết với các doanh nghiệp khác nhau.
Cùng với việc tạo một trang mạng xã hội, các công ty còn có thể thêm mục cộng đồng hay các
mục khác, nơi người dùng có thể tham gia đóng góp ý kiến, giao tiếp, viết bài trên trang Web
của họ. Đây thực sự là một cách hiệu quả đối với người dùng, bởi họ có thể giao tiếp với nhau,
làm tăng lượng truy cập của trang. Không chỉ vậy, cách này còn giúp các công ty, doanh nghiệp
có thể tìm kiếm được tài năng cho công ty của mình và khai thác lợi nhuận tốt hơn.
Một vấn đề nữa là các doanh nghiệp VN đang lúng túng là không biết lựa chọn mạng xã hội
nào có thể lan truyền được thông tin một cách hiệu quả. Zing me thu hút số lượng truy cập khá
tốt nhưng đối tượng sử dụng chủ yếu có độ tuổi từ 13 đến 24, chưa hẳn là đối tượng khách hàng
mà các doanh nghiệp hướng tới. Những khó khăn trong việc truy cập Facebook trong thời gian
vừa qua làm sụt giảm số lượng truy cập.
Ở VN chỉ có một số ít doanh nghiệp biết quảng cáo dạng trả tiền trên Facebook Ads, một
chương trình quảng cáo của Facebook, đã có thời điểm đã vượt qua Google để xếp số một thế
giới về lượt truy cập. Đa phần các doanh nghiệp còn chưa biết tận dụng Youtube hay các trang
chia sẻ video khác để tiếp thị hình ảnh… Điều này có thể lý giải do chi phí sản xuất clip cao và
cũng do chưa biết vận dụng việc tích hợp vào các chiến dịch tiếp thị tổng thể. Hiện nay mới
thấy nổi bật là một số clip quảng cáo của công ty như Samsung, Ford Vietnam, Vinamilk và
Pond’s… tạo hiện ứng khá tốt ở VN.
Trong số các doanh nghiệp bước đầu tận dụng mạng xã hội thì đa số chủ yếu sử dụng các diễn
đàn (forum) để tiếp thị dịch vụ nhưng cũng chưa có được chiến lược bài bản và chuyên nghiệp.
(Nguồn: Sem Vietnam - Theo Lao Động)
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân
20



một hình thức quảng cáo tiên tiến và được nhiều công ty áp dụng để đưa hình ảnh doanh
nghiệp đến với nhiều người.
Lợi ích 4: Không phụ thuộc ngân sách
Như đã điểm qua trong phần ưu điểm của MXH về tính linh hoạt của nó, chiến dịch quảng cáo
có thể được bắt đầu cập nhật hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào nên doanh nghiệp có thể kiểm soát
được chi phí dành cho truyền thông và tiếp thị qua MXH một cách chủ động hơn.
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân

21


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

Song, biết được những lợi ích mà Facebook nói riêng và MXH nói chung có thể mang lại cho
việc kinh doanh của doanh nghiệp, chúng ta cũng cần phải biết cách vận dụng nó như thế nào.
e) Doanh nghiệp Việt Nam cần sử dụng MXH như thế nào:
• Những lựa chọn hiểu quả:
Trước tiên doanh nghiệp cần phải đưa ra những lựa chọn sao cho có hiệu quả. Cụ thể là c ác
hoạt động tiếp thị trên mạng xã hội có thể chia thành hai nhóm chính.
Nhóm thứ nhất là những quảng cáo mang tính truyền thống như banner, lợi dụng việc các mạng
xã hội hiện là nơi tập trung nhiều người dùng nhất trên Internet. Do vậy, việc đưa các quảng
cáo truyền thống lên mạng xã hội còn có lợi thế hơn hẳn các kênh truyền thống khác ở chỗ,
mạng xã hội với đặc trưng lưu giữ rất nhiều dữ liệu cá nhân của người dùng nên có thể cho
phép các quảng cáo hướng chính xác đến đối tượng tiềm năng. Ví dụ, chúng ta có thể hướng
một quảng cáo về ô tô du lịch hạng sang đến các đối tượng đang sống ở các thành phố lớn, tuổi
từ 30 trở lên, học vấn đại học trở lên...
Thứ hai là hình thức viral marketing (quảng cáo truyền khẩu) là loại quảng cáo có hiệu quả rất
cao. Ở các kênh tiếp thị truyền thống, người tiêu dùng có cảm giác mình đang bị các công ty
quảng cáo “dụ dỗ” để mua sản phẩm, dịch vụ của họ. Tuy nhiên, với viral marketing, người

marketing và bước đầu mang lại kết quả tốt. Ví dụ một hãng nhập khẩu phim đã mở fan club
trên tamtay.vn để qua đó quảng cáo cho bộ phim họ sắp đem về hoặc đang chiếu. Các thành
viên trong nhóm hoạt động rất sôi nổi và gây sự chú ý lớn tới cộng đồng của tamtay. Ngoài ra
cũng có một số khách hàng đã sử dụng tiếp thị qua blog hoặc ảnh khá hiệu quả. Nhưng nói
chung các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá bỡ ngỡ trước mô hình viral marketing.
• Mạnh dạn bước theo xu thế chung:
Chúng ta biết rằng tiếp thị đòi hỏi sự nhậy bén, đáp ứng nhanh với những chuyển dịch trong
hành vi của người tiêu dùng. Mạng xã hội và các hình thức tiếp thị trên đó đang là chủ đề nóng
nhất trong ngành tiếp thị trên thế giới.
Những người làm tiếp thị Việt Nam nên nhìn xa hơn đến xu thế toàn cầu, học hỏi từ kinh
nghiệm các nước trong khu vực, nhất là những nước có điều kiện gần giống với Việt Nam như
Trung Quốc. Các doanh nghiệp cũng có thể dành thời gian tham gia một số mạng xã hội để
hiểu cách một thông điệp trên đó đến với người tiêu dùng như thế nào để có những hướng tiếp
thị phù hợp. Một khi đã có kinh nghiệm quốc tế, hiểu được tâm lý người dùng mạng xã hội Việt
Nam, chắc chắn các doanh nghiệp sẽ tìm được nhiều ý tưởng tiếp thị mới với hiệu quả cao hơn
nhiều so với quảng cáo truyền thống.
Công đoạn thực hiện tiếp thị trên mạng xã hội rất đơn giản bởi hầu hết các mạng này đều cung
cấp rất nhiều phương tiện làm marketing như chia sẻ hình ảnh, video, blog, tạo nhóm, sự
kiện… Điều đặc biệt là hầu hết các công đoạn quảng bá này chi phí đều gần như bằng không vì
mạng xã hội không tính phí khi người dùng đưa nội dung lên. Thường bộ phận bán hàng của
mạng xã hội sẽ tư vấn giúp khách hàng xem làm cách nào để sự kiện của họ trở thành “nổi bật”
trong một thời gian. Đối với những doanh nghiệp chưa hề có kinh nghiệm về marketing trên
mạng xã hội thì cũng có thể thông qua một công ty quảng cáo chuyên về online. Ở Việt Nam
hiện nay cũng đã xuất hiện những công ty như vậy, ví dụ như Admax hay Vietad.
Có thể nói, mạng xã hội là cánh cửa không giới hạn để đến với cộng đồng mạng ngày một đông
Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân

23



web có uy tính cũng như thông tin từ chính người cung cấp.
Nghiên cứu tại hiện trường: Với mục tiêu kiểm chứng những thong tin còn sai xót cũng như đề
ra các giải pháp thực tế cho doanh nghiệp nhóm đã lập một bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp
những thông tin quan trọng cần kiểm chứng. Và quan trọng nhất là hỏi đúng đối tượng nghiên
cứu là doanh nghiệp Việt Nam. Khi nghiên cứu tại hiện trường cần phải linh động và tự tin để
có thể trao đổi thẳng thắn, sâu sắc những điều cần nghiên cứu.
Phương pháp thống kê để xử lý thông tin: nhóm chọn phần mềm SPSS (viết tắt của Statistical
Package for the Social Sciences) là một chương trình máy tính phục vụ công tác thống kê.
SPSS được sử dụng rộng rãi trong công tác thống kê xã hội chuyên xử lý các thông tin mang
tính định lượng thu thập được trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu. Đây là phần mềm được nhiều
người dùng ưu dùng và dễ sử dụng, SPSS cung cấp các công cụ đơn giản để tạo ra các đồ thị.
Nghiên cứu định lượng mà đối tượng hướng đến là các chủ/giám đốc doanh nghiệp trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu về cách tiếp thị của doanh nghệp.
Thu thập dữ liệu: bằng cách phát bản câu hỏi khảo sát.

Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân

25


Khảo sát sự hiểu biết và mức độ vận dụng mạng xã hội trong truyền thông, tiếp thị của các doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Khu vực phía Nam

CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Liêu Thái Văn Uyên - Phan Thị Thanh Hương - Vi Trần Thanh Thảo - Hoàng Nhật Nam - Trịnh Hoàng Quân
26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status