BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------------------
PHẠM TRƯỜNG QUÂN
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA
PHÍ KIỂM TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH
VÀ CÁC TỈNH LÂN CẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------------------
PHẠM TRƯỜNG QUÂN
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA
PHÍ KIỂM TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TP. HỒ CHÍ MINH
VÀ CÁC TỈNH LÂN CẬN
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu ....................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................3
5. Đóng góp mới của luận văn...............................................................................3
6. Kết cấu luận văn ................................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI ..............................................................................................................................5
1.1 Các nghiên cứu công bố trên thế giới.............................................................5
1.2 Các nghiên cứu công bố tại Việt Nam ..........................................................10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ......................................................................16
2.1 Báo cáo tài chính ............................................................................................16
2.1.1 Khái niệm ..................................................................................................16
2.1.2 Mục đích ...................................................................................................17
2.1.3 Kiểm toán báo cáo tài chính.....................................................................18
2.2 Chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán ......................................................19
2.2.1 Khái niệm ..................................................................................................19
2.2.2 Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán ....................................23
2.2.3 Các mô hình nghiên cứu chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán .........24
2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán ........................39
2.3.1 Mô hình Hoitash và đồng sự (2007) ........................................................39
2.3.2 Mô hình Choi và đồng sự (2010) .............................................................41
2.3.3 Mô hình Asthana và Boone (2012) ..........................................................42
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................46
3.1 Khung nghiên cứu ..........................................................................................46
3.2 Giả thuyết nghiên cứu ...................................................................................47
3.3 Thiết kế nghiên cứu .......................................................................................47
3.3.1 Mô hình nghiên cứu ban đầu ..................................................................47
DA: Discretionary Accruals
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
SƠ ĐỒ
TRANG
Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu của luận văn ......................................................... 46
BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Ý nghĩa các biến và dấu các hệ số tác động ........................................ 55
Bảng 3.2: Bảng trình bày quá trình thu thập mẫu dữ liệu .................................... 56
Bảng 4.1: Tóm tắt tình hình kinh doanh của công ty kiểm toán giai đoạn 2012 2014 ...................................................................................................................... 60
Bảng 4.2: phân loại công ty theo tỉnh .................................................................. 63
Bảng 4.3: phân loại công ty theo quy mô vốn chủ sở hữu và doanh thu ............. 63
Bảng 4.4: thống kê mô tả các biến trong mô hình ............................................... 64
Bảng 4.5: Tương quan các biến trong mô hình (1) .............................................. 67
Bảng 4.6: Tương quan các biến trong mô hình (3) .............................................. 70
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán là hoạt động đã xuất hiện từ buổi bình minh của xã hội loài người.
Trải qua một quá trình lịch sử dài lâu với biết bao thăng trầm, kiểm toán ngày càng
thay đổi để trở thành một ngành nghề không thể thiếu trong nền kinh tế. Nhằm phù
hợp với những yêu cầu khác nhau của xã hội, nhiều loại hình kiểm toán đã ra đời,
trong đó có loại hình kiểm toán độc lập.
Kiểm toán độc lập gắn liền với nền kinh tế thị trường, nhằm tăng tính minh
Vì lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu mức độ tác
động của phí kiểm toán và các nhân tố liên quan đến chất lượng kiểm toán báo
cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh
lân cận” để đóng góp hiểu biết về ảnh hưởng của phí kiểm toán đến chất lượng hoạt
động kiểm toán độc lập, giúp hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam ngày càng
phát triển, đáp ứng yêu cầu không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận văn là xem xét mức độ tác động phí kiểm toán ảnh
hưởng như thế nào đến chất lượng kiểm toán, từ đó gợi ý một số giải pháp nhằm
góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
Để đáp ứng được yêu cầu này, các mục tiêu cụ thể sẽ là:
-
Tìm hiểu các nghiên cứu trước đây với mục đích xem xét các mô hình
nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến
chất lượng kiểm toán, phí kiểm toán nhằm xác định mô hình nghiên cứu
phù hợp.
-
Xem xét tác động của phí kiểm toán có ảnh hưởng như thế nào đến chất
lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay. Cụ thể là xem
xét tác động của khoản phí kiểm toán bất thường và các nhân tố như quy
mô tổng tài sản, biến động doanh thu, hệ số nợ, dòng tiền từ hoạt động
kinh doanh, sự thay đổi công ty kiểm toán và độ trễ của các khoản dồn
tích tạo ra mức độ tác động mạnh hay yếu đến chất lượng kiểm toán.
3
tác động giữa phí kiểm toán và chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, sau đó sử
dụng công cụ các kỹ thuật phân tích thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft
Excel và phần mềm thống kê STATA 12.0 để đưa ra được kết quả nghiên cứu bao
gồm: thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính bội.
5. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả với
một số đóng góp khoa học cơ bản sau:
- Một là, tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của
phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
4
- Hai là, giới thiệu về mô hình đánh giá chất lượng kiểm toán một cách gián
tiếp bằng phương pháp định lượng thông qua xem xét khả năng điều chỉnh lợi
nhuận dồn tích (discretionary accruals) của nhà quản trị.
- Ba là, kiểm định mô hình đánh giá mức độ tác động của phí kiểm toán đến
chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam.
- Bốn là, gợi ý các giải pháp khả thi nhằm hạn chế tác động tiêu cực của phí
kiểm toán đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam.
6. Kết cấu luận văn
Luận văn được tổ chức với kết cấu bao gồm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận, gợi ý giải pháp và kiến nghị
Ngoài ra, luận văn còn có 4 phụ lục trình bày chi tiết các vấn đề nghiên cứu trong
bài.
Phụ lục 1.01: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
quyền kiểm toán sẽ nỗ lực để giảm phí kiểm toán ban đầu trong giai đoạn đầu tiên.
Nhà quản lý và các hội nghề nghiệp đã cho rằng phần giảm phí kiểm toán ban đầu
làm suy yếu tính độc lập của kiểm toán viên bởi vì nó tạo ra một lợi ích kinh tế
trong tương lai đối với khách hàng. Trái ngược với những nhận định, nghiên cứu
này cho thấy rằng phần giảm phí kiểm toán ban đầu là một phản ứng cạnh tranh với
kỳ vọng vào lợi ích từ hợp đồng kiểm toán mang lại trong tương lai, và bản thân
6
việc này không làm giảm đi tính độc lập của công ty kiểm toán. Việc các nhà làm
luật cố gắng hạn chế phần giảm phí kiểm toán ban đầu được dự đoán là không có
ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán.
Nghiên cứu của Francis, J. R., & Simon, D. T. (1987), “A Test of Audit
Pricing in the Small-Client Segment of the U.S. Audit Market” (The Accounting
Review, Volume 62, Issue 1, Pages 113 – 127) tập trung vào xem xét hai nhận định
trái chiều giữa Simunic (1980) và Palmrose (1986). Hai nghiên cứu này công bố kết
quả khác nhau về sự tồn tại của khoản phí kiểm toán tăng thêm của tám công ty
kiểm toán lớn ở Hoa Kỳ (gọi là Big Eight) đối với phân khúc các khách hàng kiểm
toán “nhỏ”. Các tác giả đã khảo sát mẫu gồm 220 công ty niêm yết có doanh thu
dưới 125 triệu đô la, dữ liệu thu thập từ các năm tài chính bắt kết thúc từ ngày
01/01/1984 đến ngày 30/06/1985. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tồn tại một
khoản phí kiểm toán tăng thêm trong phân khúc các công ty niêm yết nhỏ. Sự tồn
tại của một khoản phí kiểm toán tăng thêm hàm ý rằng có sự khác biệt trong việc
cung cấp dịch vụ kiểm toán của Big 8, ít nhất là trong phân khúc thị trường các
công ty niêm yết nhỏ. Ngoài ra, các tác giả còn đưa ra các thử nghiệm cho thấy hợp
đồng kiểm toán năm đầu tiên được định giá thấp hơn đáng kể hơn so với các hợp
đồng kiểm toán các năm tiếp theo, tăng cường bằng chứng về hành vi cắt giảm phí
kiểm toán. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy không có mối quan hệ giữa tác
động của việc cắt giảm phí kiểm toán với chất lượng kiểm toán.
Nghiên cứu của Krishnan, G. V. (2003), “Audit quality and the pricing of
discretionary accruals” (Auditing, Volume 22 Issue 1, pages 109–126) xem xét
liệu có một mối liên hệ giữa chất lượng kiểm toán và việc tính giá các khoản dồn
tích có thể điều chỉnh được hay không. Tác giả sử dụng mô hình quản trị lợi nhuận
của Jones (1991) với mẫu lấy từ cơ sở dữ liệu Compustat phiên bản 2000, sử dụng
dữ liệu của 4.098 công ty trong vòng 10 năm từ năm 1989 đến năm 1998. Kết quả
cho thấy các công ty do 6 hãng kiểm toán hàng đầu (Big 6) thực hiện kiểm toán đã
báo cáo các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được ở mức thấp hơn các công ty
được kiểm bởi các hãng không thuộc nhóm 6 hãng kiểm toán hàng đầu. Ngoài ra,
các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được của nhóm khách hàng do Big 6 kiểm
toán có sự gắn kết lớn hơn với khả năng sinh lợi trong tương lai hơn là các khách
8
hàng không do Big 6 kiểm toán. Thêm nữa, thị trường chứng khóan nhận ra sự vượt
trội đối với các công ty do Big 6 kiểm toán so với các công ty khác chỉ đối với
khoản dồn tích có thể điều chỉnh được. Do đó, nghiên cứu kết luận rằng có thể đánh
giá chất lượng kiểm toán thông qua các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được.
Nghiên cứu của Hoitash, R., Markelevich, A., & Barragato, C. a. (2007),
Auditor fees and audit quality (Managerial Auditing Journal, Volume 22 Issue 8,
pages 761–786) xem xét mối quan hệ giữa phí kiểm toán và chất lượng kiểm toán
trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003 của các công ty trong danh sách của
Standard and Poor. Nghiên cứu sử dụng hai thước đo để đánh giá chất lượng kiểm
toán: độ lệch chuẩn của phần dư từ phương trình hồi quy giữa các khoản dồn tích và
dòng tiền và giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích có thể điều chỉnh được. Nghiên cứu
lấy số liệu thu thập gồm 13.860 quan sát trong các năm từ 2000 đến 2003. Các tác
giả đã chứng minh rằng có một mối liên hệ nghịch chiều với có ý nghĩa thống kê
giữa phí kiểm toán và cả hai biến đại diện cho chất lượng kiểm toán qua trong tất cả
các năm nghiên cứu.
kiểm toán giảm khi phí kiểm toán thực tế lệch ra khỏi mức phí bình thường, từ đó,
nghiên cứu cho thấy sự phù hợp với các nghiên cứu trước về sự suy giảm chất
lượng kiểm toán khi phí kiểm toán bất thường mang dấu dương (tăng lên). Nghiên
cứu còn cho thấy chất lượng kiểm toán giảm khi phí kiểm toán giảm, đại diện cho
quyền thương thảo của khách hàng tăng lên.
Nghiên cứu của Ettredge, M., Fuerherm, E. E., & Li, C. (2014), Fee
pressure and audit quality (Accounting, Organizations and Society, Volume 39
Issue 4, pages 247–263) khảo sát sự kết hợp của áp lực chi phí kiểm toán với sự
giảm sút chất lượng kiểm toán thông qua đánh giá các sai sót trọng yếu trong dữ
liệu đã được kiểm toán trong cuộc suy thoái năm 2008. Áp lực phí trong một năm
được tính bằng chênh lệch giữa phí kiểm toán được đánh giá là “bình thường” và
phí kiểm toán trên thực tế. Sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 7.539 công ty đại
chúng trong cả hai cơ sở dữ liệu Audit Analytics và Compustat năm 2008, các tác
giả tìm thấy áp lực phí có quan hệ thuận chiều và đáng kể liên quan đến sai sót kế
toán trọng yếu trong năm 2008, đỉnh điểm của sự suy thoái kinh tế. Kết quả của
nghiên cứu còn cho thấy rằng các công ty kiểm toán có những nhượng bộ phí kiểm
10
toán đối với một số khách hàng trong năm 2008, và rằng áp lực chi phí có liên quan
với giảm chất lượng kiểm toán trong năm.
Nghiên cứu của Krauß, P., Quosigk, B. M., & Zülch, H. (2014). Effects of
initial audit fee discounts on audit quality: Evidence from Germany
(International Journal of Auditing, Volume 18 Issue 1, pages 40 – 56) khảo sát mối
phụ thuộc kinh tế giữa công ty kiểm toán và khách hàng bằng cách xem xét mối
quan hệ giữa việc định giá kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán. Các tác
giả phân tích hiện tượng này bằng thực nghiệm đối với các công ty Đức áp dụng
chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) bằng cách sử dụng một mẫu gồm 2.334
quan sát cho giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010. Kết quả thực nghiệm của nghiên
tranh không lành mạnh bằng cách giảm phí kiểm toán và thỏa hiệp với công ty được
kiểm toán. Tuy nhiên, tác giả chỉ lập luận mà không đưa ra được dẫn chứng cụ thể
về mối liên hệ giữa giảm phí kiểm toán và chất lượng kiểm toán.
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng (2010), “Hệ thống kiểm soát sự minh
bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam”, luận
án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
Luận án tiến hành tổng hợp và trình bày các lý thuyết liên quan đến quá trình
xử lý dữ liệu thành thông tin kế toán, các nghiên cứu về chuỗi cung ứng báo cáo tài
chính, trình bày khái niệm và vai trò của sự minh bạch thông tin tài chính, tiến tới
lập luận và chứng minh về các thành phần, cơ chế hoạt động của hệ thống kiểm soát
và sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết. Từ cơ sở lý
luận đó, tác giả tiến hành phân tích thực trạng của hệ thống kiểm soát và sự minh
bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, làm nền tảng đề xuất mô hình hệ thống kiểm soát sự minh bạch
thông tin tài chính công bố phù hợp với môi trường kinh doanh và pháp lý của Việt
Nam. Sử dụng mẫu khảo sát thông tin công bố trên báo cáo tài chính và báo cáo
thường niên của 154 công ty và chứng chỉ quỹ có thời điểm niêm yết từ ngày
18/07/2000 đến ngày 22/12/2008, tác giả đã cho thấy hệ thống kiểm soát sự minh
bạch thông tin tài chính bao gồm sáu thành phần có mối quan hệ tương hỗ với nhau
theo cơ chế phối hợp bên trong và bên ngoài. Trong đó có hoạt động kiểm toán độc
12
lập. Tuy nhiên, các chỉ tiêu nhằm đánh giá tính minh bạch của hoạt động kiểm toán
độc lập chưa được tác giả nêu ra cụ thể.
Nghiên cứu của Trần Khánh Lâm (2011), “Xây dựng cơ chế kiểm soát chất
lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Trường
Đại học Kinh tế TP.HCM.
Luận án đã dựa trên việc nghiên cứu các lý thuyết cũng như tình huống trong
tố được đối tượng khảo sát đánh giá là kém quan trọng đối với chất lượng kiểm
toán. Từ đó, tác giả đưa ra đề xuất các công ty xây dựng khung phí kiểm toán nhằm
hạn chế cạnh tranh không lành mạnh từ việc thỏa thuận phí giữa công ty kiểm toán
với khách hàng, khiến chất lượng kiểm toán sụt giảm mà nguyên nhân chính là do
khách hàng chưa ý thức được tầm quan trọng của phí kiểm toán ảnh hưởng đến chất
lượng kiểm toán. Tuy nhiên nhận định này của tác giả còn mang tính chủ quan,
chưa có bằng chứng thực nghiệm.
Nghiên cứu của Đinh Thanh Mai (2014), “Các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam – Khảo sát trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
Luận văn xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán tại Việt
Nam trên cơ sở hệ thống hóa lại lý thuyết liên quan đến chất lượng kiểm toán, giới
thiệu khuôn mẫu chất lượng kiểm toán được ban hành bởi IAASB vào năm 2014, từ
đó đưa ra mô hình nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường và hoàn
thiện hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam trong xu thế hội nhập thế giới hiện
nay. Số liệu luận văn được thu thập thông qua việc khảo sát đối tượng là các nhân
viên chuyên nghiệp đang làm việc tại các vị trí khác nhau như chủ phần hùn/giám
đốc, chủ nhiệm kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán và trợ lý kiểm toán tại các doanh
nghiệp kiểm toán tại thành phố Hồ Chí Minh với kích thước mẫu là 102 quan sát.
Ngoài ra, các báo cáo kiểm tra, tổng kết trong 3 năm từ 2010 đến 2012 từ VACPA
cũng được tác giả sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 nhóm nhân tố tác
động đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam bao gồm: Quy mô
doanh nghiệp, Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài và Đạo đức nghề nghiệp của kiểm
toán viên. Trong đó, yếu tố phí kiểm toán thuộc nhóm kiểm soát chất lượng từ bên
ngoài. Do tác giả nhóm chung phí kiểm toán với kiểm soát chất lượng từ bên ngoài,
14
nên không đánh giá được riêng mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng
chất lượng kiểm toán, mà không xem xét yếu tố phí kiểm toán tăng lên sẽ
ảnh hưởng thế nào đến chất lượng kiểm toán.
15
Từ những nhận xét trên, tác giả nhận diện được khoảng trống nghiên cứu và
lựa chọn đề tài nghiên cứu với nội dung: “Nghiên cứu mức độ tác động của phí
kiểm toán và các nhân tố liên quan đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận” với
mục tiêu tăng cường hiểu biết về mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng
kiểm toán, từ đó gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán tại
Việt Nam.
Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày tóm lược một số nghiên cứu chính đã công bố trong
nước cũng như trên thế giới mà liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nội dung của các
nghiên cứu này được tác giả trình bày tóm tắt lại thông qua phụ lục 1.01. Dựa vào
hiểu biết về tình hình nghiên cứu hiện nay, tác giả phát hiện được khoảng trống
nghiên cứu để làm căn cứ xác định tính cần thiết của đề tài.
Đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá mức độ tác động của phí
kiểm toán đến chất lượng kiểm toán, làm căn cứ để đưa ra các biện pháp nhằm tăng
cường chất lượng kiểm toán tại Việt Nam. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam
tập trung nghiên cứu mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán
bằng phương pháp nghiên cứu định lượng.
16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Báo cáo tài chính
bộ báo cáo tài chính (đầy đủ) theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính
được áp dụng. Thuật ngữ “báo cáo tài chính riêng lẻ” được sử dụng để chỉ một báo
cáo trong bộ báo cáo tài chính (đầy đủ)” (Bộ Tài chính, 2012).
Như vậy, khái niệm về báo cáo tài chính được trình bày trong chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 200 là tương đối rõ ràng và bao quát, do đó tác giả sử dụng
làm khái niệm chính trong nghiên cứu này.
2.1.2 Mục đích
Theo khung lý thuyết đối với báo cáo tài chính quốc tế (IFRS Framework)
thì mục đích của báo cáo tài chính là “cung cấp các thông tin tài chính hữu ích của
đơn vị được báo cáo cho các nhà đầu tư, những người cho vay, các chủ nợ hiện hữu
hay tiềm năng trong việc ra quyết định cung cấp các nguồn tài trợ cho đơn vị. Các
quyết định này bao gồm mua, bán hoặc nắm giữ các khoản nợ hoặc khoản vốn, hay
là chấp nhận chính sách bán hàng trả chậm và các hình thức cấp tín dụng khác”
(IASB, 2010).
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 – Trình bày báo cáo tài chính cho rằng mục
đích của báo cáo tài chính là: “cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hiệu quả
tài chính và các dòng tiền của một đơn vị. Những thông tin này hữu ích với số đông
người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế. Các báo cáo tài chính còn thể
hiện kết quả quản lý của nhà quản trị đối với những nguồn lực thuộc thẩm quyền
được giao. Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin
của một doanh nghiệp về:
• Tài sản;
• Nợ phải trả;
• Vốn chủ sở hữu;
• Thu nhập và chi phí, bao gồm các khoản lãi/lỗ;
• Góp vốn và phân phối thu nhập của người chủ sở hữu; và
• Các dòng tiền.
18