Nhận thức của sinh viên về tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
----o0o----

HOÀNG THU HẰNG

NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ TỆ NẠN MA
TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
QUỐC DÂN VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ
NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số : 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRỊNH VĂN TÙNG

HÀ NỘI -2009


PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, tệ nạn ma tuý đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu, là mối đe doạ
đến hoà bình và trật tự của loài người. Do vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đương
đầu với vấn đề này. Tệ nạn hút ma tuý đang ngày càng lan rộng. Sản xuất ma tuý khá phổ biến
khắp nơi trên thế giới. Hoạt động buôn lậu ma tuý đang hoành hành trên khắp mọi nơi. Các
nhóm tội phạm ma tuý đã mang tính chất xuyên quốc gia và liên quốc gia. Ba Công ước quốc tế


Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng nhận thức (nhận biết, kiến thức, hiểu biết và tâm thế hành vi) của sinh
viên về ma túy
- Đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm giúp sinh viên có những nhận thức đầy đủ và
đúng đắn hơn đối với tệ nạn ma tuý cũng như đối với cuộc đấu tranh phòng chống ma tuý

4

Đối tƣợng nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên về tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.

5

Khách thể nghiên cứu

Sinh viên hệ chính quy của các trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội và trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.

6

Phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Tháng 10 năm 2007 đến tháng 10 năm 2009
Địa bàn nghiên cứu:
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu này giới hạn ở việc đo lường, đánh giá mức độ nhận thức của
sinh viên trên địa bàn Hà Nội trên cơ sở nghiên cứu hai trường Đại học đại diện. Trên cơ sở

trên phần mềm SPSS 15.0 để khẳng định hay bác bỏ các giả thuyết được đưa ra sau khi phỏng
vấn.
Giới thiệu mẫu nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu
Mẫu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống vì khi đo nhận thức của một lượng
khách thể lớn, chúng tôi tin rằng, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống không loại trừ cơ
hội của bất kì chủ thể nào trong nhóm lớn. Hay nói cách khác, phương pháp này đảm bảo rằng,
không sinh viên nào bị mất cơ hội có thể được lựa chọn vào mẫu.
- Kết quả chọn mẫu và cơ cấu mẫu
Cuộc khảo sát xã hội học được tiến hành chọn mẫu trên cơ sở danh sách sinh viên của hai
trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội và Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học
Quốc gia Hà Nội, 201 sinh viên được chọn ngẫu nhiên ngẫu nhiên hệ thống bao gồm 95 nam
sinh viên và 106 nữ sinh viên, đảm bảo điều kiện các sinh viên này là sinh viên học hệ chính
quy để phỏng vấn. Vì thế 201 sinh viên này có tính chất đại diện cao cho sinh viên của hai đơn
vị đào tạo trên và thông tin thu được có tính chất khách quan.
Cơ cấu mẫu:
Tiêu chí
Tần xuất Tỷ lệ
Biểu đồ
(%)
Nam
95
47
Nữ

Biểu 1: Cơ cấu theo giới tính

106

53


121

60

Ngoại
trú
60%

Biểu 3: Cơ cấu theo trƣờng

101

50
50
50

Kinh tế Quốc
dân

100

50

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Kinh tế Quốc dân

8

Giả thuyết nghiên cứu

1.1

Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết xã hội hoá
Khái niệm xã hội hoá hiện nay thường được dùng với hai nội dung: ở nội dung thứ nhất,
khái niệm này chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những
vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó của xã hội mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách
nhiệm quan tâm. Đó là quá trình xã hội hoá các vấn đề, sự kiện xã hội, như xã hội hoá giáo dục,
xã hội hoá y tế… Ở khái niệm này, xã hội hoá đồng nghĩa với sự tham gia ngày càng tăng của
người dân vào một sự kiện xã hội để cùng Nhà nước giải quyết một số khó khăn.
Trong nội dung thứ hai, thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng trong xã hội học là quá trình
tương tác giữa các cá nhân và xã hội qua đó mà các cá nhân học hỏi và thực hành những tri
thức, những kỹ năng và những phương pháp cần thiết để hoà nhập với xã hội.
Hiện nay, trong khoa học xã hội có rất nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội hoá. Dựa
vào tính chủ động của các nhân trong quá trình xã hội hoá, chúng ta có thể tạm chia thành hai
loại định nghĩa:
Loại thứ nhất, ít đề cập đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã
hội. Các cá nhân dường như bị khép vào các chuẩn mực khuôn mẫu mà không cưỡng lại được.
Loại thứ hai, khẳng định tính tích cực sáng tạo của cá nhân trong quá trình xã hội hoá. Cá nhân
không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình tái tạo ra các kinh
nghiệm xã hội.
Dù có những quan điểm khác nhau nhưng các nhà khoa học đều thống nhất tại một điểm: xã hội
hoá là một quá trình: có khởi đầu, diễn biến và có kết thúc.
Neil Smelser, nhà xã hội học Mỹ đã viết: “Xã hội hoá là quá trình mà trong đó cá nhân học cách
thức hành động tương ứng với vai trò của mình để phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các mô
hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình”. Theo
nghĩa này, vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hoá chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các
kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực. Định nghĩa này chưa đề cập tới khả năng cá nhân có thể tạo ra
những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực để xã hội theo đuổi. Như vậy, theo định nghĩa này thì

Tiểu văn hoá gia đình được tạo thành bởi nền giáo dục truyền thống gia đình, lối sống gia đình,
thói quen gia đình hay “tâm thế gia đình” (habitus) theo nghĩa của Pierre Bourdieu…Cá nhân
tiếp nhận các đặc điểm của tiểu văn hoá này. Những kinh nghiệm sống, các quy tắc ứng xử, các
giá trị…đầu tiên cá nhân nhận được từ chính các thành viên trong gia đình, từ cha mẹ, ông bà,
anh chị....
Quá trình xã hội hoá không chỉ diễn ra trong các gia đình cùng chung sống với cha mẹ,
tức là nơi họ được sinh ra và lớn lên, mà còn trong cuộc sống gia đình vợ chồng. Để có cuộc
sống hạnh phúc, các cặp vợ chồng cần thích ứng các giá trị của họ với nhau. Tức là phải có sự
tiếp nhận, học hỏi các giá trị mới hay các khuôn mẫu hành động mới. Nói cách khác, phải tiếp
tục quá trình xã hội hoá của cả hai vợ chồng.
Nhà trường nói chung, nhà trẻ, trường mầm non nói riêng là những nơi trẻ em thực hiện
hoạt động vui chơi và học tập bước đầu của mình. Thông qua hoạt động này, trẻ em chủ yếu
nhận những kiến thức ban đầu về tự nhiên và xã hội. Những trò chơi, những mối quan hệ được
hình thành tại đây giúp trẻ em hoà nhập dần vào đời sống xã hội. Các cô giáo, thầy giáo hay bảo
mẫu là những người hướng dẫn, khuyến khích những hành vi đúng hoặc điều chỉnh những hành
vi sai lệch.
Trong các trường học, hoạt động chủ đạo của cá nhân là học tập. Đây là nơi cá nhân bắt
đầu được tiếp xúc với tính đa dạng xã hội. Ở trường, cá nhân được tương tác với những thành
viên không phải trong gia đình mình, được dạy dỗ những điều khác với gia đình theo từng cấp
độ khác nhau. Cá nhân thu nhận kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên và xã hội, các kiến thức
văn hoá chủ yếu làm nền tảng cho cuộc sống sau này. Những kiến thức đó sẽ phục vụ đắc lực
cho việc thực hiện những vai trò mà cá nhân cần phải đóng trong tương lai.
Về truyền thông đại chúng, trong vài thập niên gần đây, chúng ta đã chứng kiến những
bước tiến mạnh mẽ chưa từng thấy của các phương tiện này. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật


trong các lĩnh vực in ấn, xuất bản, truyền hình, internet… giúp cho truyền thông đại chúng xâm
nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Truyền thông ngày nay đã vượt ra khỏi khuôn
khổ là một kênh cung cấp thông tin và kiến thức cho các cá nhân trong xã hội một cách hữu
hiệu mà còn là kênh giải trí, kênh tương tác góp phần xây dựng các khuôn mẫu và nhân cách…

tố môi trường sống xung quanh tác động như thế nào đến quá trình hình thành và phát triển
nhận thức của sinh viên về vấn đề ma tuý .
1.1.2 Lý thuyết về ý thức tập thể, ý thức xã hội và ý thức cá nhân của Émile Durkheim.
Khái niệm ý thức tập thể hay khái niệm ý thức xã hội đóng vai trò trung tâm trong sự
nghiệp xã hội học của Durkheim. Theo Durkheim, ý thức tập thể là biểu thị sự tồn tại của một
tập hợp giá trị chung trong cùng một nhóm tác nhân. Đây chính là tập hợp những niềm tin,
những cảm giác chung cho những thành viên của cùng một xã hội. Tất cả những tập hợp đó tạo
thành một hệ thống có giá trị riêng. Chính vì thế, nó được cả xã hội thừa nhận và có tính cưỡng
chế, áp đặt đối với hành vi của mỗi cá nhân. Hơn thế, nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc
hình thành các giá trị chuẩn mực hay quy định hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội.
Về vấn đề ma tuý, nhận thức được mức độ nguy hiểm của ma tuý đối với xã hội như gây
tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia
đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia... là những
nhận thức cần đạt được ở mỗi người. Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
khoá X, kỳ họp thứ 8 (năm 2000) đã thông qua Luật phòng chống ma tuý với mục đích để
phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với ma tuý. Luật phòng chống ma tuý tập
trung vào hai lĩnh vực:


Nội dung phòng ma tuý được thể hiện tập trung vào các việc sau:
Huy động rộng rãi cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức xã hội, nhà trường, quần chúng
nhân dân tham gia phòng ngừa tệ nạn ma tuý; tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống ma tuý.
Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý; phòng ngừa, ngăn
chặn việc lợi dụng các hoạt động này vào các mục đích trái pháp luật.
Tổ chức, quản lý cai nghiện ma tuý; giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện; phòng
chống tái nghiện.
Nội dung chống ma tuý tập trung vào các điểm sau:
Huy động rộng rãi cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia đấu tranh chống tệ nạn
ma tuý, nhất là việc phát hiện, tố giác, đấu tranh với tệ nạn này.
Phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các tội phạm về ma tuý và các hành vi trái phép khác về

Trong xã hội học, hành động xã hội được hiểu cụ thể hơn, thường gắn với các chủ thể
hành động là cá nhân. Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức, M. Weber, là định nghĩa được
thừa nhận khá rộng rãi về hành động xã hội. Ông cho rằng: “Hành động xã hội là một hành vi
mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định. Weber đã nhấn mạnh đến “động cơ” bên trong
chủ thể như là nguyên nhân của hành động”. Như vậy, ông cho rằng, chúng ta có thể nghiên
cứu được các yếu tố chủ quan thúc đẩy hành động, điều này khác với quan điểm của lý thuyết
hành vi.


Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của cá nhân. Bởi đời
sống xã hội là một tập hợp phức tạp bao gồm các hành động xã hội liên quan đến nhau, quy
định lẫn nhau hoặc thậm chí xung đột lẫn nhau.
Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của các cá nhân. Tính tích cực này lại bị quy định
bởi hàng loạt yếu tố như nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thể hành động. Tất cả các
yếu tố và quá trình đó chính là phương thức tồn tại của chủ thể.
T. Parsons phân biệt hành động vật lý - bản năng với hành động xã hội. Hành động vật
lý - bản năng là hành động hầu như không có sự chi phối của ý thức. Theo ông, hành động xã
hội khác với hành động vật lý, hành động bản năng sinh học trước hết ở chỗ nó có một cơ chế
biểu tượng điều chỉnh như hệ thống ngôn ngữ, giá trị... Điều này có nghĩa là các hành động xã
hội bị điều chỉnh bởi hệ thống biểu tượng mà các cá nhân dùng trong các tương tác hàng ngày.
Theo Parsons, dấu hiệu khác biệt thứ hai là tính chuẩn mực của hành động xã hội, tức là
các hành động xã hội của cá nhân phụ thuộc vào hệ thống các giá trị, chuẩn mực chính thống
của xã hội, còn các hành động vật lý - bản năng thì không.
Dấu hiệu thứ ba mà Parsons dùng để phân biệt hành động xã hội với hành động vật lý bản năng sinh học là tính duy lý của hành động xã hội. Tính duy lý này thể hiện ở chỗ, chúng ta
có những độc lập nhất định khi hành động một cách chủ quan. Tính duy lý còn thể hiện rõ ở chỗ
chúng ta căn cứ vào hệ giá trị, chuẩn mực chính thống của xã hội và các cơ chế điều chỉnh khác
mà chúng ta tiếp nhận được một cách chủ quan.
Khởi điểm của hành động xã hội là nhu cầu, là lợi ích của cá nhân, cái mà M. Weber gọi
là động cơ thúc đẩy hành động.
Những thành tố đầu tiên trong cấu trúc của hành động xã hội là động cơ và mục đích của hành

1.1.4.1. Định nghĩa
“Habitus” là toàn thể thói quen và tâm thế hành vi của một văn hóa hoặc của một môi trường xã
hội thẩm thấu vào cá nhân trong quá trình xã hội hóa [21,tr.252].
Tác giả đưa ra thuật ngữ này nhằm giải đáp những tranh cãi giữa hai chủ thuyết khách quan và
chủ thuyết chủ quan trong xã hội học. Vậy chủ thuyết khách quan là gì và chủ thuyết chủ quan
là gì? Chủ thuyết khách quan do Émile Durkheim là đại diện và khởi xướng. Chủ thuyết này
coi “thế giới xã hội (các sự kiện xã hội = các thiết chế xã hội) như là các sự vật (tự nhiên)” .
Như vậy, nó là chủ thuyết tự nhiên hay chủ thuyết hiện thực về xã hội. Trong trường hợp này,
nhà xã hội học được coi là một thợ chụp ảnh xã hội: “hãy đi mà xem, xã hội chẳng thể là cái gì
khác ngoài những gì chúng tôi chỉ cho các anh thấy”. Muốn “chụp ảnh” xã hội, nhà xã hội học
không thể có một cái máy ảnh đủ lớn để chụp hết các góc độ của nó. Do vậy, chủ thuyết này tập
trung xây dựng các dữ liệu mang tính đại diện (có quy luật) để từ đó tìm ra các quan hệ thống
kê (Pierre Bourdieu : 1980, trang 87). Từ đó, người ta tập trung nghiên cứu định lượng thông
qua lấy mẫu xã hội và bảng hỏi cấu trúc hay bảng hỏi có định hướng (questionnary). Các lí
thuyết cơ cấu thuộc dòng chủ thuyết khách quan giả định rằng, cá nhân bị “quyết định” bởi các
mối quan hệ đã được cấu trúc hóa. Cá nhân sống trong cấu trúc nào dường như bị chi phối bởi
cấu trúc đó vì cấu trúc có “quyền lực cưỡng chế” , áp đặt lên cá nhân. Do vậy, người ta thường
nghiên cứu xã hội theo phương pháp luận tự nhiên, logic hình thức và thực nghiệm xã hội.
Hành động của cá nhân bị “xác định” bởi cấu trúc mà cá nhân sống trong đó. Có thể nói một
cách đơn giản như sau : “cấu trúc nào sinh ra cá nhân đó”. Vì vậy, ngôn ngữ thể hiện các quan
hệ xã hội là ngôn ngữ tự nhiên hay ngôn ngữ công thức (formula). Ngược lại, chủ thuyết chủ
quan tập trung giải nghĩa xã hội từ kinh nghiệm cá nhân. Các lí thuyết cá nhân thuộc chủ thuyết
này tìm hiểu và diễn giải kinh nghiệm cá nhân mà không đặt câu hỏi về những đặc thù xã hội
(đặc thù cấu trúc) trong hành động xã hội của các cá nhân ấy.
Trong lịch sử xã hội học, các tranh cãi giữa hai chủ thuyết này là vô tận : đặc biệt được thể hiện
rõ về mặt phương pháp luận (định lượng và định tính). Do vậy, thuật ngữ habitus của Pierre
Bourdieu ra đời nhằm dung hòa hai dòng chủ thuyết này. Habitus đã tạo ra một định hướng cơ
bản để giải quyết sự mâu thuẫn giữa dòng thuyết khách quan (cấu trúc) và dòng thuyết chủ
quan (cá nhân). Pierre Bourdieu định nghĩa như sau : “Habitus là toàn thể các tâm thế hành vi
được học hoặc thẩm thấu vào cá nhân. Cá nhân có xu hướng tái tạo các tâm thế hành vi ấy bằng

tình huống có vấn đề thường rất dễ ràng. Đây chính là cơ sở để đo nhận thức của sinh viên về
ma túy một cách khách quan và chân thực nhất. Đồng thời, nó cũng làm nền tảng phương pháp
luận để giúp nhà nghiên cứu nghĩ ra những tình huống theo đó các “phản ứng” của sinh viên
được đo đạc một cách chính xác.

1.2

Hệ thống khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm "Nhận thức"
Trong nhiều từ điển triết học, xã hội học hoặc tâm lý học bằng tiếng nước ngoài (tiếng
Anh và tiếng Pháp: perception), khái niệm nhận thức có phổ nghĩa rất rộng. Tuy nhiên, ngữ
nghĩa khá phổ biến của khái niệm này thể hiện ở “hình ảnh tâm lí”, “sự thu nhận”, “sự nội hoá”,
“nhận biết”, “kiến thức” và “tâm thế hành vi” của một cá nhân về một đối tượng nào đó. Như
vậy, nhận thức mang tính ẩn hay tính bên trong. Nhận thức đúng sẽ có nhiều cơ hội dẫn đến
hành động đúng. Ngược lại, nhận thức sai thì sẽ hành động sai. Cách đo nhận thức tốt nhất là
quan sát hành vi. Nhưng khi hành vi chưa xẩy ra, thì nhà nghiên cứu thường quan sát thông qua
“hành động ngôn ngữ” (act of language), thông qua phỏng vấn, thông qua lời nói hay tình
huống có vấn đề.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện thực vào
trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả quá trình
đó nhằm nâng cao nhận thức. Có nhận thức đúng, có nhận thức sai.” [26]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (Hoàng Phi chủ biên), nhận thức được định nghĩa là quá
trình hay kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy. Nhận thức là quá trình con
người nhận biết, hiểu biết thế giới quan hay kết quả của quá trình đó. Nhận thức là nhận ra và
hiểu biết được, hiểu được về một ai đó, một vấn đề hay một hiện tượng nào đó.
Hiện nay trong tâm lý học có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nhận thức bao gồm:
- Nhận thức là sự phản ánh (xét dưới góc độ phản ánh)
- Nhận thức là hoạt động: Theo quan điểm này, hoạt động nhận thức bao gồm nhiều hoạt động
chuyển các hoạt động vật chất bên ngoài thành những hoạt động tâm lý ở bên trong, quá trình

thông qua quá trình xã hội hoá. Thông qua các môi trường ấy, họ được cung cấp những thông
tin, tri thức cần thiết và tự chuẩn bị hành vi đúng nhất về đối tượng. Quá trình nhận thức này
bao gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn có thông tin về đối tượng, đó là khi mà cá nhân được cung cấp
các thông tin về đối tượng. Cá nhân có thể tiếp cận được thông tin về đối tượng qua nhiều con
đường và nhiều kênh khác nhau như: thông qua gia đình, qua nhà trường, nhóm thành viên
cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng…
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn nhận biết thông tin. Thông qua giai đoạn thứ nhất, cá nhân được
cung cấp các thông tin về đối tượng. Cá nhân sẽ “nội hoá” các thông tin đó thành những hiểu
biết ban đầu cho bản thân mình. Hay nói cách khác, đây chính là quá trình nhận thức cảm tính.
Trong khóa luận này, thông tin mà cá nhân được cung cấp về đối tượng đó là tất cả các thông
liên quan đến ma tuý, về các chất ma tuý, về cách thức sử dụng ma tuý cũng như tác hại về ma
tuý… Những thông tin này, khi tác động tới cá nhân, sẽ mang lại cho cá nhân một hệ thống
nhận biết cơ bản hay kiến thức nền về đối tượng là “ma tuý”.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn hiểu biết thông tin như thế nào và chuẩn bị hành động. Nếu như
giai đoạn thứ hai mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức cảm tính tức là cá nhân mới chỉ tiếp
nhận được thông tin, nắm bắt được thông tin đó còn vấn đề cá nhân có hiểu được những thông
tin đó hay không và hiểu như thế nào thì nó được thể hiện rất rõ trong giai đoạn thứ ba này. Đây
chính là giai đoạn nhận thức lý tính. Trên cơ sở những tri thức mà cá nhân được cung cấp ở hai
giai đoạn đầu, cá nhân sẽ quy chiếu với hệ giá trị của xã hội mà cá nhân đóng vai trò là thành
viên. Cá nhân sẽ trang bị cho mình những kinh nghiệm để đối phó với những tình huống có vấn
đề liên quan đến đối tượng. Trên cơ sở những thông tin về vấn đề ma tuý mà cá nhân thu nhận
được, cá nhân xử lí chúng để biến chúng thành các hiểu biết và năng lực hành vi trong tình
huống có vấn đề.
Tóm lại, nhận thức là quá trình mà cá nhân tiếp nhận, xử lý, phân tích, tổng hợp thông tin, biến
chúng thành hệ thống kiến thức, hiểu biết có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hệ thống kiến thức,
hiểu biết ấy chuẩn bị cho cá nhân hành động trong xã hội.


Nhận thức của sinh viên về ma tuý không chỉ dừng lại ở chỗ sinh viên biết, hiểu như thế nào về

hệ ảnh hưởng qua lại với nhau.
Xét về bản chất, luật pháp mang hai thuộc tính: thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã hội.
Tính giai cấp thể hiện ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, nó bảo
vệ điều kiện tồn tại của giai cấp đó.
Tính xã hội thể hiện ở chỗ, luật pháp phải ghi nhận những quy tắc ứng xử được số đông
xã hội chấp nhận, phù hợp với lợi ích của số đông đó. Mặt khác, luật pháp phải là thước đo
hành vi con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, là công cụ để đo nhận thức xã
hội, và điều chỉnh các quá trình xã hội đưa đến cho con người những thông tin nhất định về các
giá trị yêu cầu của xã hội.
1.2.3 Khái niệm "chất ma tuý"
Ma tuý là một danh từ hán việt được ghép lại từ hai chữ “ma” có nghĩa là cho tê liệt và
“tuý” là làm cho say sưa. Chất ma tuý (gốc Hy Lạp: Nakotikoe) dùng để chỉ các chất có tác
dụng gây ngủ, gây mê. Ngày nay, nó dùng để chỉ các chất tự nhiên và các chất tổng hợp có khả
năng gây nghiện. Thuật ngữ này có thể xem như tương đương với thuật ngữ
“stupéfiant”/ « drogue » (trong tiếng Pháp) dùng trong y học hoặc “Drug” (trong tiếng Anh”
dùng để chỉ những chất tự nhiên hay hoá học có khả năng tác động đến hệ thần kinh trung ương
và làm thay đổi tri giác cũng như hành vi của người dùng nó.
Theo Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21 -12-1999 thì ma tuý bao gồm
nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca; lá, hoa, quả cây cần sa, lá cây coca; quả thuốc phiện


khô; quả thuốc phiện tươi; heroin; côcain; các chất ma tuý khác ở thể lỏng; các chất ma tuý
khác ở thể rắn.
Như vậy, chất ma tuý là những chất đã được xác định và có tên gọi riêng trong khoa
học. Theo quy định của pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý của
Liên Hợp quốc, danh mục chất ma tuý cần kiểm soát gồm 249 chất trong đó có 227 chất ma tuý
và 22 chất thường dùng để sản xuất ra chất ma tuý (được gọi là tiền chất). Để xác định có phải
là chất ma tuý hay không hoặc chất ma tuý gì thì phải trưng cầu giám định chuyên gia.
Từ các quy định của Liên Hiệp Quốc và pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: Ma
tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp. Khi được đưa vào cơ thể con người, nó có

dùng ngày càng tăng dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ mãn tính, bị lệ thuộc về thể chất và
tinh thần vào chất đó.
Người nghiện ma túy có các đặc trưng sau:
Có sự ham muốn không kiềm chế được và phải sử dụng bằng bất kỳ giá nào.
Có khuynh hướng tăng dần liều dùng (liều dùng lần sau phải cao hơn lần trước mới có tác
dụng).
Tâm sinh lý bị lệ thuộc vào chất đó.
Khi thiếu thuốc, cơ thể người nghiện sẽ xuất hiện các triệu chứng như: uể oải, hạ huyết áp, lên
cơn co giật, đau đớn và có thể làm bất kỳ điều gì miễn là có chất ma túy để dùng. Hay nói
cách khác, người nghiện khi bị lên cơn sẽ chỉ có một mục đích duy nhất là làm mọi cách để
được dùng thuốc và không còn khả năng kiểm soát hành vi.
1.2.6 Khái niệm “Sinh viên”
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “student” có nghĩa là người học tập
nhiệt tình, hăng say, người tìm kiếm khai thác tri thức, khám phá kho tàng tri thức nhận loại.


Sinh viên là những người đang theo học ở bậc đại học, cao đẳng để phân biệt với học
sinh phổ thông.
Sinh viên là đại biểu của nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hành động sản xuất
vật chất hay tinh thần của xã hội. Nhóm xã hội đặc biệt này là nguồn bổ sung cho đội ngũ tri
thức. Đây là lực lượng lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào các hoạt động
đa dạng có ích cho xã hội [23,tr.44].
Sinh viên, đại diện cho một nhóm xã hội trẻ tuổi đang trong quá trình xã hội hoá, chuẩn
bị kiến thức để trở thành những nhân cách hoàn thiện. Sinh viên thường ở tuổi thanh niên, lứa
tuổi có những bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển tâm sinh lý của con người. Điều đó thể
thiện trong sự trưởng thành về thể chất, trong sự biến đổi và phát triển về tri thức khoa học.
Sinh viên ngày nay, là lực lượng trí thức nòng cốt của xã hội, phần lớn họ đang tích cực
học tập rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp. Nét nổi bật của sinh viên ngày nay là sự năng động
trong học tập sáng tạo trong công tác nghiên cứu, hoạt động của họ không còn bị bó hẹp trong
học đường mà có xu hướng vươn ra tiếp cận chiếm lĩnh và tự khẳng định mình trong môi

chính là giáo viên và nhà trường.
Đề tài nghiên cứu Ma tuý trong lứa tuổi chưa thành niên ở Hà Nội: nguyên nhân và một
số biện pháp phòng, chống của lực lượng công an (Tài liệu lưu hành nội bộ của Bộ công An và
Vụ quản lý khoa học và công nghệ) được tiến hành từ năm 1996-1998. Đề tài đem đến cho độc
giả những vấn đề lý luận về ma tuý và lứa tuổi chưa thành niên, cũng như một bức tranh khái
quát về tình hình người chưa thành niên sử dụng ma tuý ở Hà Nội và hoạt động phòng, chống
ma tuý trong lứa tuổi thành niên của Công an thành phố Hà Nội trong thời gian từ 1996-1998 .
Thông qua đó, tác giả chỉ ra các nguyên nhân của việc sử dụng ma tuý trong lứa tuổi chưa thành
niên, đề xuất một số kiến nghị và biện pháp của lực lượng công an nhằm nâng cao hiệu quả của
công tác phòng, chống ma tuý trong lứa tuổi chưa thành niên.


Trong tác phẩm Luật phòng chống ma tuý và phòng chống ma tuý trong nhà trường của
GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm (NXB công an nhân dân), tệ nạn ma tuý được tiếp cận dưới góc độ
của của pháp luật học và tội phạm học. Đó là những hành vi trái với pháp luật, những hành vi
sai lệch so với các chuẩn mực của xã hội (đạo đức, lối sống, tập quán tiến bộ…); tệ nạn xã hội,
tệ nạn ma tuý là những hiện tượng nguy hiểm cho xã hội lây lan nhanh, gây tâm trạng xã hội
nặng nề, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội và tuỳ thuộc vào quan điểm
tiếp cận. Đấu tranh đẩy lùi tệ nạn xã hội nói chung và tệ nạn ma tuý nói riêng đòi hỏi phải thực
hiện tốt các biện pháp như: giáo dục tư tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đây là sự tác động về
mặt tinh thần và tư tưởng đối với con người để họ, nhất là thanh thiếu niên, giác ngộ lý tưởng, ý
thức chính trị và pháp luật. Một biện pháp vô cùng quan trọng trong công tác phòng chống ma
tuý là bằng con đường pháp luật. Biện pháp sử dụng pháp luật để đưa con người vào khuôn
khổ, kỷ luật và kỷ cương. Và biện pháp cuối cùng để phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống
ma tuý là bằng biện pháp kinh tế. Đây là biện pháp mà các chủ thể phòng chống tệ nạn xã hội
tác động gián tiếp đến khách thể quản lý như người dân, cán bộ phòng chống tệ nạn xã hội,
phòng chống ma tuý, các đối tượng tệ nạn xã hội, tệ nạn ma tuý dựa trên các lợi ích vật chất và
các đòn bẩy kinh tế như lương, thưởng, phụ cấp, chính sách xã hội…để làm cho các khách thể
quản lý suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bộ phận và trách nhiệm của mình một
cách tốt nhất mà không phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể

nghiện ma tuý thường cảm thấy gần gũi bạn bè hơn gia đình, bạn bè là niềm tin và chỗ dựa thực
sự của họ. Vốn dĩ ảnh hưởng của bạn bè với thanh niên là một điều khó tránh khỏi. Nhưng điều
nguy hiểm ở đây là đa số bạn bè của họ cũng nghiện ma tuý như họ. Vì thế, điều mà họ nhận
được chỉ là giải toả những bức xúc tạm thời, nhưng đọng lại những ảnh hưởng không lành


mạnh và tiêu cực, thậm chí có thể chi phối đến lý tưởng sống, hệ giá trị, cũng như định hướng
giá trị nhất định. Qua nghiên cứu này, ta có thể thấy được vai trò quan trọng của bạn bè đối với
thanh niên, đặc biệt là những thanh niên nghiện ma tuý.
Nghiên cứu: Thực trạng nhận thức và thái độ đối với ma tuý của sinh viên trường Đại
học Lao động - Xã hội của Tiêu Thị Minh Hường (Tạp chí Tâm lý học số 3/2006) được tiến
hành trên 310 sinh viên. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đa số sinh viên trường Đại học Lao động Xã hội có những nhận thức ban đầu về ma tuý, cụ thể: phần lớn sinh viên nhận thức được bản
chất của ma tuý, nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý cũng như mức độ nguy hiểm của ma tuý
đối với cộng đồng. Các em thể hiện được quan điểm, sự quan tâm, thái độ tích cực của mình
với tệ nạn ma tuý. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ sinh viên chưa hiểu đúng nguyên
nhân cũng như tác hại của ma tuý. Một mặt, thông tin về ma tuý đến với các em chưa nhiều,
chưa thường xuyên. Mặt khác, ý thức thiếu tự giác của sinh viên trong việc tìm hiểu hay tiếp
cận các tài liệu về ma tuý.
Như vậy, ma tuý và nhận thức của học sinh, sinh viên về ma tuý đã được tìm hiểu dưới nhiều
góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chủ đề này, khi đặt trong bối cảnh của thành phố Hà Nội, một
thành phố có nhiều diễn biến phức tạp về tệ nạn ma tuý đặc biệt là được nhìn nhận và đánh giá
thông qua nhận thức của sinh viên trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN và ĐHKTQD, thì có
nhiều vấn đề đáng được quan tâm. Nhưng chưa có tác giả hay tổ chức nào nghiên cứu. Chính vì
thế thông qua luận văn “Nhận thức của sinh viên về tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố Hà
Nội hiện nay" (Nghiên cứu trường hợp tại trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN và ĐHKTQD),
chúng tôi mong muốn sẽ đem lại một cách nhìn nhận mới về nhận thức của sinh viên về ma tuý.
Từ nghiên cứu này, một số biện pháp sẽ được đề xuất nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh
phòng, chống ma tuý trong thanh thiếu niên nói riêng và trong toàn xã hội nói chung.

1.4

dần dần tiếp cận trình độ khu vực và thế giới.
1.4.2 Về trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-TTg ngày 25/1/1956 với tên
gọi ban đầu là Trường Kinh tế Tài chính. Lúc đó, Trường được đặt trong hệ thống đại học
nhân dân trực thuộc Thủ tướng Chính phủ..
Ngày 22/10/1985, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và
Đào tạo) ra Quyết định số 1443/QĐ-KH đổi tên thành trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Năm 1989, ĐHKTQD được Chính Phủ giao thực hiện 3 nhiệm vụ chính:
* Tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô.
* Đào tạo về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở bậc đại học và sau đại học.
* Đào tạo cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, ĐHKTQD luôn luôn giữ vững vị trí uy tín hàng
đầu của đất nước. Trường là một trong những trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý
kinh tế và quản trị kinh doanh lớn nhất ở Việt Nam. Hiện có hơn 45.000 sinh viên, 1167 cán bộ,
giảng viên, công nhân viên (trong đó có 697 giảngviên, 19 giáo sư và 105 phó giáo sư, 107 tiến
sĩ và 398 thạc sĩ);
Cho đến nay, ĐHKTQD đào tạo được nhiều thế hệ cán bộ quản lý chính quy, năng động và dễ
thích nghi với nền kinh tế thị trường và có khả năng tiếp thu các công nghệ mới. Trong số
những sinh viên tốt nghiệp của Trường, nhiều người hiện giữ những chức vụ quan trọng trong
các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các doanh nghiệp.
ĐHKTQD có quan hệ trao đổi, hợp tác nghiên cứu - đào tạo với nhiều trường đại học, viện
nghiên cứu nổi tiếng và nhiều tổ chức quốc tế của các nước như Liên Bang Nga, Trung Quốc,
Bungari, Ba Lan, CH Séc và Slôvakia, Anh, Pháp, Mỹ...
ĐHKTQD đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn và đã được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý
của Đảng và Nhà nước như: Huân chương lao động hạng ba trong giai đoạn 1961 - 1972, hạng
hai năm 1978, hạng nhất năm 1983, Huân chương độc lập hạng ba năm 1986, hạng hai năm


1991và hạng nhất năm 1996, danh hiệu Anh hùng lao động năm 2000, Huân chương Hồ Chí
Minh năm 2001, Huân chương hữu nghị của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 2008.


Sử dụng

trữ
Số

Số đối

Số vụ

Số đối

Số vụ

vụ

tượng

2000

1485

2119

631

988

109


1706

396

81

138

581

3460

2003

2192

3229

1842

2070

11

71

699

1088


61

345

794

2006

2063

2688

1794

2168

2

15

267

505

Đến

929

1203


các vụ bắt được dưới 2000 vụ. Chỉ tính riêng đến tháng 05/2007 đã có 929 vụ. Về đối tượng vi
phạm pháp luật về ma túy thì năm nào cũng trên 2000 đối tượng, chỉ tính riêng đến tháng 05/
2007 đã có 1203 đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật bị bắt giữ.
Về cơ cấu các vụ phạm tội thì ta thấy, tội phạm về ma túy chủ yếu tập trung vào việc mua bán,
vận chuyển và tàng trữ, sau đó đến sử dụng trái phép chất ma túy. Mặc dù khung hình phạt đối
với tội mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép các chất ma túy là rất nặng, tối đa có thể bị tử
hình, nhưng siêu lợi nhuận của hoạt động này mang lại đã làm mờ mắt một số đối tượng, khiến
chúng vẫn tham gia hoạt động với nhiều hình thức càng ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn. Đã có
khá nhiều nghiên cứu, trên cơ sở thực tiễn các tội phạm về ma túy ở Việt Nam và trên thế giới,


cho thấy những khoản lợi nhuận “khổng lồ” thu được từ các hoạt động bất hợp pháp có liên
quan đến ma túy: “Bỏ 1.000.000 đồng mua một lượng hêrôin nguyên chất, sau khi pha đóng gói
được 110 -115 liều cho một người dùng, lãi trên 2.000.000 đồng, lợi nhuân thu được là 100%”.
Khi bị kiểm soát gắt gao, ma túy trở nên càng khan hiếm. Con nghiện phải chấp nhận mua với
giá 80.000 đồng/liều thì lợi nhuận thu được tới 432%.
Thuốc phiện, nếu được chuyển từ nơi trồng đến tay các ổ tiêm chích, hút qua pha chế cho
người nghiện, thì lãi suất lên đến vài chục lần. Trung bình một ổ tiêm chích tại Hà Nội mỗi
ngày thu lãi bất chính từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng” [25,tr.46-47].
Cũng trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Xuân Yêm và Trần Văn Luyện cũng đã chỉ ra thực
trạng: “giá gốc của 1 kg thuốc phiện ở biên giới là gần 1 triệu đồng, đến tay người nghiện là 7
triệu đồng (thu lợi 6 triệu đồng); giá hêrôin khoảng 140 triệu đồng/kg, đem bán lẻ có thể thu tới
1 tỷ 300 ngàn đồng.”[35,tr.87]
Không chỉ thu lợi nhuận cao, mà tốc độ gia tăng lợi nhuận từ các hoạt động cung ma túy cũng
tăng lên một cách chóng mặt. Siêu lợi nhuận có thể khiến người ta có thể bất chấp cả những
răn đe của pháp luật và cả mức án từ hình có thể đến.
Hoạt động của tội phạm về ma túy phổ biến theo đường dây, ổ nhóm, và xuyên quốc gia. Đặc
biệt, chúng đã bắt đầu cấu kết với bọn tội phạm có tổ chức, tội phạm kiểu "xã hội đen" (kể cả
bọn "xã hội đen" từ nước ngoài vào như Đài Loan, Ma Cao, Hồng Công...), móc nối mua chuộc
cán bộ thoái hóa biến chất trong cơ quan bảo vệ pháp luật, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc. Đây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status