4
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Quản lý phát triển ĐNGV ở các trường ĐH&CĐ nước ta hiện nay
nói chung, ở các trường CĐYT trên địa bàn TPHN nói riêng là một trong
những vấn đề mang tính then chốt, quyết định đến chất lượng GD&ĐT
trong các nhà trường. Việc thực hiện có chất lượng, hiệu quả quản lý phát
triển ĐNGV sẽ trực tiếp đảm bảo cho ĐNGV ở các trường CĐYT trên địa
bàn TPHN luôn có đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, đồng bộ
về cơ cấu để có thể đáp ứng được với mục tiêu đào tạo NNL y tế trên địa
bàn TPHN trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên thực tế cho thấy, công tác
quản lý phát triển ĐNGV ở các trường CĐYT trên địa bàn TPHN đang đặt
ra nhiều vấn đề cấp bách cần phải giải quyết. Chính vì vậy, đề tài luận án
“Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng y tế trên địa
bàn Thành phố Hà Nội hiện nay” được nghiên cứu sinh ấp ủ và quan tâm
nghiên cứu từ lâu. Trong quá trình công tác tại Trường CĐYT Hà Đông và
học tập tại Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, bản thân nghiên cứu sinh
có nhiều công trình nghiên cứu, cùng các bài báo khoa học liên quan đến
đề tài luận án và được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành khác nhau.
Khung lý thuyết của nội dung nghiên cứu được tác giả dựa trên cơ sở
phân tích vị trí, vai trò, khẳng định giá trị, tính đúng đắn và sự cần thiết của
việc nâng cao chất lượng đào tạo NNL y tế trên địa bàn TPHN hiện nay.
Trên cơ sở, công trình đi sâu nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, thực
tiễn quản lý phát triển ĐNGV các trường CĐYT trên địa bàn TPHN; từ đó,
đề xuất các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV, góp phần thiết thực trong
xây dựng ĐNGV đáp ứng tốt với nhu cầu số lượng, chất lượng NNL y tế
5
TPHN cũng như các tỉnh, thành lân cận khác của cả nước. Xuất phát từ vấn đề
trên, trong những năm gần đây, các trường CĐYT trên địa bàn TPHN luôn nỗ
lực đổi mới toàn diện quá trình đào tạo, trong đó xác định quản lý phát triển
ĐNGV vừa là mục tiêu, nhưng đồng thời cũng là một hướng đi đúng đắn, cơ
bản, cần thiết để từng nhà trường có thể hoàn thành tốt mọi mục tiêu, yêu cầu
đào tạo, cũng như yêu cầu của ngành, yêu cầu về phát triển NNL y tế trên địa
bàn Thành phố đặt ra. Chính vì thế, đã góp phần làm cho ĐNGV ở các nhà
trường không ngừng “tăng nhanh về số lượng, nâng dần về chất lượng, từng
bước khắc phục một phần bất hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phát triển các
cấp học và trình độ đào tạo” [41]. Tuy nhiên, từ thực tiễn hiện nay cho thấy,
trong quản lý phát triển ĐNGV các trường CĐYT trên địa bàn TPHN vẫn còn
tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, cụ thể “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục chưa đáp ứng yêu cầu” [58, tr.114], trong đó, “Đội ngũ nhà giáo vừa thừa,
vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn… Tỷ lệ nhà giáo có
trình độ sau đại học trong giáo dục đại học còn thấp. Năng lực của một bộ phận
nhà giáo còn thấp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng
được các yêu cầu đổi mới giáo dục” [41]. Đây vừa là thực trạng, nhưng đồng
thời cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho chất lượng sản phẩm
đào tạo là một bộ phận đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế ở TPHN vẫn còn có biểu
hiện trình độ tay nghề thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu; trong công việc thiếu ý
thức trách nhiệm khi chăm sóc, phục vụ sức khỏe nhân dân, chạy theo giá trị của
đồng tiền… Đúng như Nghị quyết Số 46 - NQ/TW của Bộ Chính trị “Về công
tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã
thẳng thắn chỉ rõ: “Chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của nhân dân; chưa thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật…” [17].
Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, thời gian qua, cùng với các
học viện, trường ĐH&CĐ y trong các nước nói chung, các trường CĐYT
trên địa bàn TPHN nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đa
khả thi, hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
8
4.1. Khách thể nghiên cứu
Qúa trình phát triển ĐNGV các trường CĐYT trên địa bàn TPHN.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý phát triển ĐNGV các trường CĐYT trên địa bàn TPHN hiện nay
4.3. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ
bản về quản lý phát triển ĐNGV các trường CĐYT trên địa bàn TPHN; trên cơ
sở đó, đề xuất các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV các trường CĐYT trên
địa bàn TPHN đáp ứng tốt với mọi yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo NNL Y tế trên
địa bàn TPHN đã và đang đặt ra hiện nay.
* Phạm vi về không gian: Luận án tập trung khảo sát, tọa đàm, trao đổi
với các đối tượng là đội ngũ CBQL; giảng viên, sinh viên ở các trường CĐYT
trên địa bàn TPHN, bao gồm 3 trường là: Trường CĐYT Bạch Mai, Trường
CĐYT Hà Nội, Trường CĐYT Hà Đông.
* Phạm vi về thời gian: Các số liệu phục vụ luận án được giới hạn chủ
yếu từ năm 2011 đến nay.
4.4. Giả thuyết khoa học
Phát triển ĐNGV ở các trường CĐYT trên địa bàn TPHN là một trong
những vấn đề then chốt, quyết định đến chất lượng GD&ĐT ở các nhà trường.
Nếu đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ được thực chất quản lý ĐNGV; xác định
được những biện pháp đúng đắn trong quản lý phát triển ĐNGV, nhất là trong
các vấn đề như: Giáo dục nâng cao nhận thức đối với đối với mọi chủ thể; xây
dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV; đổi mới công tác tuyển dụng gắn
với đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV; thiết lập mối quan hệ hợp tác gắn bó chặt chẽ
ở 03 trường CĐYT trên địa bàn TPHN là: Trường CĐYT Bạch Mai, Trường
CĐYT Hà Nội, Trường CĐYT Hà Đông.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học trong và
ngoài quân đội.
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thử
nghiệm tại Trường CĐYT Hà Đông.
* Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp toán thống kê được dùng
trong khoa học giáo dục để xử lý các số liệu điều tra.
6. Những đóng góp mới của luận án
10
- Bổ sung, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý phát triển ĐNGV ở các
trường CĐYT trên địa bàn TPHN.
- Luận án giúp cho các trường CĐYT trên địa bàn TPHN đánh giá
chính xác, khách quan thực trạng ĐNGV nói chung; quản lý phát triển ĐNGV
ở các nhà trường hiện nay nói riêng. Đồng thời, đề xuất các biện pháp quản lý
phát triển ĐNGV đảm bảo có tính thiết thực, khả thi cao, góp phần xây dựng
được ĐNGV luôn có đầy đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng,
đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng tốt với yêu cầu đào tạo NNL y tế của từng nhà
trường trong bối cảnh mới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận án góp phần bổ sung, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
quản lý phát triển ĐNGV, cơ sở lý luận về quản lý phát triển ĐNGV ở các
trường CĐYT trên địa bàn TPHN. Đặc biệt, luận án đã đưa ra những biện
pháp quản lý phát triển ĐNGV ở các trường CĐYT trên địa bàn TPHN hiện
nay có tính thiết thực, khả thi cao.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
càng nhận thức sâu sắc vai trò của phát triển giáo dục đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia, dân tộc. Trong mối quan tâm đó, việc nghiên cứu vấn đề quản lý
phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên được coi là trung tâm của sự phát triển
giáo dục. Điều này được thể hiện ngày càng xuất hiện nhiều công trình của nhiều
tác giả trên thế giới bàn về vấn đề này dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau.
Dưới góc độ bàn về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, năm
1985, trong nghiên cứu về“Những vấn đề quản lý trường học” [140], 3 tác giả Zimi
P.V., Konđakôp M.I., Saxerđôtôp N.I. đã đi sâu nghiên cứu vấn đề lãnh đạo
công tác giảng dạy và giáo dục trong nhà trường, coi đó là khâu then chốt trong
12
hoạt động quản lý của hiệu trưởng. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã tập trung
vào nghiên cứu một số vấn đề về quản lý ở các nhà trường sư phạm và nhấn
mạnh: “Đối với công tác đào tạo ở các trường sư phạm, để đào tạo được đội ngũ
giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất định thì mỗi nhà trường cần chăm lo xây dựng
và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Cán bộ lãnh đạo nhà trường phải biết lựa chọn
đội ngũ giáo viên bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những
giảng viên tiêu biểu nhất so với các nhà trường khác”[140, tr.28].
Để chuẩn bị cho nhân loại bước vào thế kỷ 21, các nhà giáo dục trên thế
giới đều thống nhất trong nhận thức khi thông qua Khuyến cáo của Uỷ ban quốc
tế chuẩn bị giáo dục khi vào thế kỷ XXI của UNESCO đã khẳng định rõ: “Đội
ngũ giáo viên có vai trò quyết định trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có trách
nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hóa” [50, tr.16].
Đồng thời khẳng định “Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất
lượng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải
phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng” [50, tr.20].
Năm 1987, tác giả D.Ph. Êxarêva đã viết cuốn tài liệu “Đặc điểm
Instituitions - Phát triển đội ngũ nhân viên cho các tổ chức giáo dục đại học”
của tác giả Victor Minichiello viết năm 2008 [150]; “How to Become a
Lecturer - Làm thế nào để trở thành người giảng viên” [142] của tác giả
Catherine Armstrong viết năm 2010 đều xem ĐNGV là lực lượng quyết định
đến chất lượng đào tạo của một trường đại học. Một trường đại học danh tiếng
là trường đại học có một ĐNGV xuất sắc. Đồng thời, các tác giả cũng đều cho
rằng, giảng viên đại học trong thế kỷ XXI có 3 chức năng cơ bản là nhà giáo,
nhà khoa học và nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội.
Ở nước ta, trong quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục mới, Chủ
tịch Hồ Chí Minh được coi là người đầu tiên có tư tưởng đề cập đến quản lý phát
triển đội ngũ giáo viên. Ngay sau khi đất nước dành được độc lập, Người đã
khẳng định: “Để đào tạo cán bộ cho mọi ngành hoạt động thì cần có người thầy
giáo” [77, tr.72]. Muốn vây, “Các cô, các chú, các cháu phải cùng nhau tổ chức
và quản lý đời sống vật chất và tinh thần ở các trường học ngày một tốt hơn…
14
giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội
chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt. Đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy với thầy,
giữa thầy với trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường
với nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” [79, tr.507].
Quán triệt sâu sắc các quan điểm trên, trong mọi giai đoạn lịch sử, nhất
là khi đất nước bước vào thể kỷ XXI, vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo
viên nói chung, ĐNGV ở các trường đại học nói riêng không chỉ được Đảng,
Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, mà nó còn thu hút được sự quan tâm nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục với nhiều cách tiếp cận, nội dung
khác nhau và góp phần quan trọng trong đào tạo NNL đáp ứng thiết thực với
nhu cầu mà thực tiễn đặt ra.
Năm 2001, tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan đã viết cuốn
Từ những vấn đề trên, tác giả đưa ra 2 đề nghị mang tính khái quát trong phát
triển ĐNGV các trường đại học:
“Cần có một tổ chức để thực hiện việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho
đội ngũ giảng viên. Đó có thể là một trung tâm nghiên cứu giáo dục đại học hay
một tổ chức có tư cách pháp nhân của Hiệp hội các trường đại học Việt Nam sẽ
đảm nhận giữ vai trò đầu mối cho các hoạt động nâng cao chất lượng giảng viên.
Cần có kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giảng
viên. Kinh phí này lấy từ nguồn bồi dưỡng cán bộ hành chính sự nghiệp hàng
năm, từ chương trình khoa học cơ bản, từ các nguồn tài trợ và đóng góp của
các thành viên tham gia hoạt động” [103, tr.165].
Nghiên cứu chuyên sâu về một nội dung quan trọng trong quá trình
quản lý phát triển ĐNGV các trường ĐH&CĐ hiện nay, năm 2008, tác giả
Trần Xuân Bách đã lựa chọn “Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn
hoá trong giai đoạn hiện nay” [6] làm công trình luận án tiến sĩ. Trong công
trình này, tác giả quan niệm: Đánh giá giảng viên là quá trình mô tả, thu
thập, xử lý, phân tích một cách toàn diện, hệ thống những thông tin về
16
người giảng viên, để rồi phán đoán giá trị lao động thực thụ của họ. Đây
được coi là một nội dung quan trọng trong quá trình quản lý phát triển
ĐNGV, việc xây dựng tiêu chí, cũng như phương pháp đánh giá giảng viên sẽ
giúp hình thành cơ sở để thực hiện các khâu của quá trình quản lý phát triển
ĐNGV các trường ĐH&CĐ.
Đi sâu vào nghiên cứu trực tiếp các giải pháp phát triển ĐNGV trong
phạm vi ở một trường đại học nhất định, tác giả Nguyễn Văn Hòa đã chủ
nhiệm đề tài NCKH cấp bộ “ Thực trạng và những giải pháp xây dựng, phát triển
giảng viên các trường Cao đẳng nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực
vùng Đồng bằng sông Cửu Long” [92]. Trong công trình này, tác giả đã
khẳng định: Quản lý phát triển ĐNGV trường cao đẳng nghề đáp ứng nhu cầu
đào tạo nhân lực là sự tác động của chủ thể quản lý nhằm đảm bảo ĐNGV đạt
chuẩn và đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu theo quy định; đồng
thời, chịu tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan trong điều kiện hội
nhập khu vực và quốc tế. Nội dung quản lý phát triển ĐNGV trường cao đẳng
nghề bao gồm các khâu: quy hoạch; tuyển dụng và sử dụng; đào tạo và bồi
dưỡng; quan hệ hợp tác với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ; thực hiện
chính sách và kiểm tra đánh giá. Bên cạnh đó, dựa trên cơ sở và thực tiễn đã
khái quát, tác giả còn đề xuất 8 giải pháp khác nhau nhằm phát triển ĐNGV
cao đẳng nghề đạt chuẩn, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo chất
lượng, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực vùng Đồng bằng sông Cửu Long
đến năm 2020.
Gần đây nhất, trong năm 2015, tác giả Nguyễn Bách Thắng đã lựa chọn
“Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Trường Đại học An Giang theo tiếp
cận quản lý nhân lực” [120] làm luận án tiến sĩ. Trong công trình này, dựa
trên cách tiếp cận quản lý nhân lực, tác giả đã đưa ra những yêu cầu cơ bản
trong quản lý phát triển ĐNGV Trường Đại học An Giang ở các khía cạnh về
số lượng, chất lượng và cơ cấu. Đặc biệt, tác giả đã khái quát những nhân tố
ảnh hưởng, thực trạng việc quản lý phát triển ĐNGV Trường Đại học An
18
Giang; chỉ ra những kinh nghiệm trong quản lý phát triển ĐNGV ở một số
quốc gia tiêu biểu có nền giáo dục phát triển trên thế giới. Dựa trên các
nghiên cứu đó, vận dụng vào trong quản lý phát triển ĐNGV theo tiếp cận
quản lý nhân lực, tác giả đã đề xuất 5 giải pháp khác nhau nhằm phát triển
ĐNGV Trường Đại học An Giang, cụ thể: Xác định quy hoạch, kế hoạch phát
2. Những công trình nghiên cứu về quản lý phát triển đội ngũ giảng
viên ở các nhà trường đào tạo nguồn nhân lực y tế
Năm 1983, tác giả Nigel C. H. Stott đã viết cuốn sách “Ethics,
practices and problems, Primary Health care - Đạo đức, vấn đề hàng đầu
trong chăm sóc sức khỏe” [152]. Trong cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra thực
chất của việc chăm sóc y tế là tăng cường sức khoẻ thể chất và tinh thần cho
người bệnh để họ sớm được trở về với môi trường sống và làm việc. Để làm
được điều đó, tác giả nhấn mạnh mỗi quốc gia cần phải tăng cường nâng cao
chất lượng đào tạo NNL y tế; đồng thời, cũng khẳng định vai trò quan trọng
của ĐNGV ở các trường đào tạo NNL y tế trong đào tạo đội ngũ bác sĩ trên
tất cả các phương diện: trong chăm sóc sức khoẻ bệnh nhân, thực hành lâm
sàng và nghiên cứu y học.
Trong bài viết “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực y tế ở một số nước
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” [46] của tác giả Nguyễn Đình Chung,
khi đề cập đến việc đào tạo NNL ở nước Mỹ, tác giả khẳng định: Tại Mỹ, ngành
Y là ngành học lâu nhất và tốt nhất. Thời gian trung bình để thành bác sĩ tại Mỹ
là 12 năm. Tuy nhiên, hiện nay các trường Y tại Mỹ đào tạo không đủ bác sĩ
trong nước. Do đó, 1/4 bác sĩ tại Mỹ tốt nghiệp Y khoa từ nước ngoài
(International Medical Graduates). Chính vì thế, từ năm 1978 đã có nhiều trường
Y tư nhân vùng Caribbean được mở ra như Ross University hoặc St. George
University. Nhìn chung, các trường y ở Mỹ đều có đặc điểm chung là coi trọng
việc phát triển ĐNGV; trong đó, đặc biệt coi trọng xây dựng các chính sách
nhằm thu hút NNL chất lượng cao về công tác tại các nhà trường, nhất là đội ngũ
nhà khoa học và chuyên gia với các hình thức như: Tạo điều kiện tốt về lương,
chỗ ở, điều kiện đi lại, làm việc…
20
Khi nghiên cứu về “Kinh nghiệm đào tạo Y khoa ở Singapor” [127], tác
“Một là, nhà nước và chính quyền Thủ đô cần xây dựng các chính sách
phát triển ĐNGV ở các trường đào tạo NNL y tế. Trong đó, trọng tâm là các
chính sách quốc gia và chính sách ưu đãi riêng của Thủ Đô để trọng dụng, bồi
dưỡng, thu hút được các nhà khoa học, đội ngũ những người có trình độ,
chuyên môn cao về công tác tại các trường y tế.
Hai là, thực hiện chế độ phụ cấp cao cho ĐNGV giảng dạy”
Ở nước ta, năm 1999, tác giả Nguyễn Văn Dịp có nghiên cứu vấn đề
“Định hướng chiến lược phát triển đào tạo cán bộ y tế” [49]. Trong công
trình này, tác giả cho rằng thực trạng “tỷ lệ đội ngũ cán bộ tế ở tuyến xã và
huyện vừa ít về số lượng, vừa hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Thậm chí, tình trạng mất cân đối về nhân lực y tế còn xảy ra giữa các chuyên
ngành… Đặc biệt, chất lượng nguồn nhân lực y tế còn nhiều bất cập bởi việc
đào tạo của nhiều trường còn chạy theo số lượng, đào tạo chưa dựa trên chuẩn
kỹ năng và yêu cầu nghề nghiệp đầu ra… Sau 6 năm đào tạo, đa số sinh viên
trường y chưa đủ năng lực để hành nghề độc lập bởi việc dạy và học hiện nay
không sát với thực tiễn, khối lượng kiến thức lý thuyết quá nhiều và dàn trải”
[49, tr.10]. Một trong những giải pháp quan trọng nhất nhằm phát triển đội
ngũ cán bộ y tế hiện nay, theo tác giả “phải nâng cao cao chất lượng các
trường y, trong đó, xây dựng đội ngũ CBQL, đội ngũ giảng viên ở các nhà
trường này là vấn đề mấu chốt” [49, tr.11].
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Trương Việt Dũng về “Đào tạo
nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu của xã hội” [53] đã đi vào phân tích thực trạng
NNL y tế và xu thế đào tạo NNL y tế ở nước ta hiện nay. Tác giả nhận định,
“đến thời điểm 8/2008, cả nước có 19 cơ sở y tế đào tạo nhân lực y tế trình độ
đại học và sau đại học, 25 cơ sở đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng trở xuống,
45 trường trung học y tế, cơ sở đào tạo nhân lực trung học và nghề… Dựa trên
xu hướng và thực trạng đào tạo nguồn nhân lực y tế hiện nay, trong tương lai
gần, số lượng cán bộ y tế bậc đại học ra trường vào năm 2010 về cơ bản sẽ đáp
23
động và sự đóng góp theo khả năng của mọi thành phần kinh tế, mọi ngành
nghề, cá nhân và tổ chức xã hội vào chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm đạt
kết quả cao nhất”. Đồng thời chỉ rõ, việc phát triển ĐNGV trên các phượng
diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu ở các trường y tế được coi là một trong
những nội dung quan trọng, quyết định trong huy động NNL đầu vào của toàn
xã hội tham gia vào đào tạo NNL y tế.
Đề cập dưới khía cạnh về phát triển ĐNGV trong đào tạo cán bộ Y Dược
cổ truyền, tác giả Trịnh Yên Bình (2013) Tiến sĩ y học, Viện Vệ sinh Dịch tễ
Trung ương có công trình nghiên cứu “Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo
liên tục cho cán bộ Y Dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả của một số giải
pháp can thiệp” [16]. Trong công trình này, tác giả khẳng định: Xuất phát từ
nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền của nhân dân ngày càng tăng;
trong khi đó số lượng, chất lượng cán bộ Y học cổ truyền và hiệu quả khám
chữa bệnh bằng y học cổ truyền chưa đáp ứng được với nhu cầu của thực tiễn.
Để khắc phục được điều đó, tác giả đề xuất 4 giải pháp khác nhau, trong đó có
giải pháp về nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐH&CĐ chuyên ngành
y học cổ truyền và xác định việc phát triển toàn diện ĐNGV các chuyên ngành
này là yếu tố cơ bản, quan trọng, quyết định nhất.
Tiếp cận dưới góc độ coi ĐNGV là một trong những nhân tố quan
trọng, quyết định đến phát triển NNL y tế, tác giả Phạm Thúy Hường đã xác
định công trình “Nguồn nhân lực y tế Vùng Đồng bằng Sông hồng” [85] làm
đề tài luận án tiến sĩ. Với kết cấu làm 4 chương khác nhau, tác giả đã dành
toàn bộ chương 4 bàn về “Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân
lực Vùng đồng bằng sông hồng”. Trong phương hướng, tác giả đã nhấn mạnh
đến “Mở rộng và nâng cấp các cơ sở đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo ở
các cơ sở đào tạo NNL y tế; chú trọng thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội”.
yếu là còn thiếu giáo viên cơ hữu và ở các khoa “không hấp dẫn” trong tất cả
các cơ sở giáo dục đào tạo ngành y… Tác giả chỉ rõ thực trạng ĐNGV : “Một
yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo nhân lực ngành y chính là
tỷ lệ giáo viên cơ hữu/giáo viên thỉnh giảng chưa đảm bảo 70% ở hầu hết các
25
trường trung học, cao đẳng và một số trường đại học công lập. Đặc biệt, ở hầu
hết các trường tư thục, tỷ lệ giáo viên cơ hữu rất thấp, thường dưới 50%. Đối
với các trường Trung cấp còn dưới 57% và 39% đối với trường cao đẳng. Hiện
nay, đối với các trường cao đẳng y dược chỉ có 2,3% giáo viên có học vị Tiến
sỹ, 28% có học vị Thạc sỹ, Chuyên khoa 1 và Chuyên khoa 2, các trường
Trung cấp y dược chỉ có 3,5% giáo viên có trình độ Tiến sỹ, 27% Thạc sỹ,
Chuyên khoa 1 và Chuyên khoa 2. Công tác đào tạo giáo viên cho tới nay cũng
chưa được chú ý đúng mức, chính vì thế ở các trường hiện nay, nhất là ở các
trường cao đẳng y thường có nhiều giảng viên kiêm nhiệm ở các bệnh viện.
Trước đây chưa có đánh giá nào về chất lượng giáo viên trong các trường đào
tạo y dược. Chuẩn giáo viên mới bắt đầu đặt ra đối với các trường trung cấp và
cao đẳng mà chưa áp dụng cho trường đại học một cách cụ thể”.
Tiếp cận dưới góc độ đi sâu vào nghiên cứu một khía cạnh cụ thể của
chất lượng ĐNGV y tế ở các trường đại học y hiện nay, tác giả Trần Tuấn Anh
và Hoàng Văn Minh có công trình nghiên cứu “Thực trạng giảng dạy và nhu
cầu đào tạo về kinh tế của đội ngũ giảng viên kinh tế y tế tại các trường đại
học y dược ở Việt Nam” [3]. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã chỉ rõ:
“ĐNGV kinh tế y tế Việt Nam còn thiếu những giảng viên có trình độ cao như
tiến sĩ/chuyên khoa II (chỉ chiếm ¼); ĐNGV kinh tế y tế hiện tại có chuyên
ngành được đào tạo không đồng đền; chiếm tỷ lệ khiêm tốn nhưng lại có số giờ
chuẩn giảng dạy nhiều nhất so với nhóm giảng viên khác. Một số giảng viên
chưa được tham gia các khóa đào tạo, tập huấn kinh tế y tế nên cần quan tâm
việc phát triển ĐNGV các trường cao đẳng y tế.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, ở nước ta còn có
rất nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đa chiều, trên nhiều khía cạnh
khác nhau xung quanh đến quản lý phát triển ĐNGV ở các cơ sở giáo dục đào
tạo NNL y tế. Những công trình này là cuốn sách, dự án, đề tài NCKH các
cấp; các bài báo khoa học được đăng trong các kỷ yếu hội thảo, các tạp chí
khoa học chuyên ngành… tiêu biểu như: 3 cuốn sách “Phát triển sự nghiệp y
tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”[106], “Một số vấn đề xây dựng ngành y
27
tế phát triển Việt Nam”[105], “Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới” [108]
của tác giả Đỗ Nguyên Phương; Dự án "Nghiên cứu đánh giá thực trạng đào
tạo nhân lực y tế Việt Nam" do tổ chức Chinal Medical Board (CMB) tài trợ,
bắt nguồn từ đề án “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế” [32] của Bộ Y tế; các bài
viết trong hội thảo "Nghiên cứu đánh giá thực trạng đào tạo nhân lực y tế" [45]
do Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo - Bộ Y tế, Trường Đại học Y tế Công
cộng, Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định
tiến hành triển khai… Những công trình này, mặc dù nghiên cứu, tiếp cận
dưới góc độ khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung đều khẳng định được vị trí,
vai trò của việc phát triển ĐNGV; coi đó là yếu tố quyết định đến chất
lượng đào tạo NNL y tế ở nước ta hiện nay. Một số công trình đã đi vào
khái quát và chỉ rõ được những yêu cầu trong quản lý phát triển ĐNGV ở
các cơ sở giáo dục đào tạo NNL y tế theo từng phạm vi nhất định.
3. Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và
những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết
3.1. Khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên
quan đề tài, có thể rút ra một số nhận định cơ bản sau:
đào tạo NNL y tế; chỉ ra thực trạng NNL y tế, nhất là những hạn chế, bất cập
về số lượng, chất lượng, từ đó khẳng định việc quản lý phát triển ĐNGV các
trường ĐH&CĐ y tế là yêu cầu quan trọng nhất, là giải pháp mang tính đột
phá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở từng nhà trường cũng như khắc
phục những hạn chế, bất cập của NNL y tế hiện nay. Một số công trình bước
đầu cũng đã đưa ra những phương hướng mang tính khái quát nhằm phát
triển ĐNGV ở từng trường ĐH&CĐ y tế theo từng địa bàn, vùng, miền khác
nhau… Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu trên được coi là cơ sở
quan trọng để tác giả kế thừa, vận dụng vào giải quyết các vấn đề về lý luận
và thực tiễn mà luận án đặt ra.
Tuy nhiên, qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề
tài cho thấy, ở nước ta có rất ít công trình nghiên cứu bàn về quản lý phát triển
ĐNGV các trường ĐH&CĐ y tế nói chung, quản lý phát triển ĐNGV ở các