ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG HIỀN DỊU
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở VÙNG
VEN ĐÔ THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp của xã Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Giáo viên hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Xuân Lan
Hà Nội, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Luận văn có sự kế thừa
các công trình nghiên cứu của những người đi trước, trên cơ sở đó tác giả luận
văn bổ sung thêm những tư liệu mới và chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào.
Tác giả Luận văn
Dương Hiền Dịu
1.2. Các lý thuyết xã hội học ...................................................................... 29
1.2.1. Lý thuyết về bánh xe quyền lực và sự kiểm soát ................................. 29
1.2.2. Lý thuyết nữ quyền ............................................................................. 30
1.2.3. Lý thuyết Chu kỳ bạo lực ................................................................... 32
1.3. Khung pháp lý của Nhà nước về vấn đề bạo lực gia đình ................. 34
1.4. Một vài nét về địa bàn nghiên cứu...................................................... 38
Chương 2: CÁC HÌNH THỨC VÀ HẬU QUẢ CỦA BẠO LỰC GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÙNG VEN ĐÔ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........................43
2.1. Các hình thức của bạo lực gia đình đối với phụ nữ vùng ven đô ...... 44
2.1.1. Bạo lực về thể chất ............................................................................. 44
2.1.2 Bạo lực về tinh thần ............................................................................. 54
2.1.3. Bạo lực về kinh tế ............................................................................... 63
2.1.4. Bạo lực về tình dục ............................................................................. 66
2.1.5. Kết hợp các hình thức bạo lực trong bạo lực gia đình đối với phụ nữ ......... 69
2.2. Hậu quả của bạo lực gia đình ............................................................. 69
2.2.1 Hậu quả đối với mối quan hệ gia đình ................................................. 70
2.2.2 Hậu quả về thể chất và sức khỏe sinh sản ............................................ 71
2.2.3. Hậu quả về tinh thần ........................................................................... 71
2.2.4. Tác động tiêu cực tới sự ổn định của cộng đồng ................................. 73
2.2.5. Ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách ở trẻ em............................ 74
Tiểu kết
Chương 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ
NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỊA PHƯƠNG NHẰM NGĂN NGỪA,
CAN THIỆP BLGĐ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÙNG VEN ĐÔ ...................... 80
3.1. Các yếu tố tác động tới bạo lực gia đình đối với phụ nữ ................... 80
3.1.1. Nhận thức và tâm lý............................................................................ 80
3.1.2. Tư tưởng trọng nam khinh nữ ............................................................. 82
3.1.3. Kinh tế ................................................................................................ 83
BLGĐ
Bạo lực gia đình
PCBLGĐ
Phòng chống bạo lực gia đình
PVS
Phỏng vấn sâu
NHTG
Ngân hàng thế giới
QHTD
Quan hệ tình dục
TDTT
Thể dục thể thao
TH
Trường hợp
UBMTTQ
Bảng 2.3: Tỷ lệ các hành vi bạo lực tinh dục do chồng gây ra. ........................ 68
Biểu đồ 2.1.Tỷ lệ phụ nữ bị chồng gây bạo lực thể xác chia theo độ tuổi, Việt
Nam 2010 (N =4561) ................................................................................... 49
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ phụ nữ bị chồng gây bạo lực thể xác chia theo trình độ học
vấn của người phụ nữ, Việt Nam 2010 (N=4561) ......................................... 51
Biểu đồ 2.3. Tỷ lệ phụ nữ từng mang thai bị chồng gây bạo lực thể xác trong
thời gian mang thai chia theo trình độ học vấn, Việt Nam 2010 (N=4474) ... 54
Biểu đồ 2.4.Tỷ lệ phụ nữ bị chồng gây bạo lực tinh thần chia theo trình độ học
vấn, Việt Nam 2010 (N=4561) ..................................................................... 59
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Baọ lực gia đình đối với phụ nữ là một hiện tượng diễn ra ở hầu hết
mọi quốc gia trên thế giới dưới nhiều hình thức tinh vi không phân biệt tuổi
tác, màu da, địa vị và tầng lớp. Ngay cả những đất nước, những châu lục được
coi là cái nôi văn minh của nhân loại thì việc phụ nữ bị bạo hành bởi chồng và
các thành viên khác trong gia đình không phải là hiếm. Ở Mỹ, theo số liệu
điều tra năm 2001, có khoảng 85% nạn nhân của bạo lực gia đình là phụ nữ.
Trung bình mỗi ngày có hơn ba phụ nữ bị giết bởi người chồng hoặc bạn trai
của họ. Còn ở Pháp, tỷ lệ phụ nữ bị chồng ngược đãi là 2,5%. (Tóm tắt của
tình hình giới của Liên hiệp quốc tại Việt Nam năm 1995, 2008)
Bao lực gia đình đã vi phạm đến thân thể, nhân phẩm và danh dự con
người và là sự vi phạm quyền con người nghiêm trọng. Bạo lực gia đình
không chỉ làm ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, tâm lý của con người mà
còn làm xói mòn đạo đức, phá vỡ hạnh phúc, cấu trúc gia đình từ đó ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội, làm mất ổn định an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội.
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của tệ nạn bạo lực gia đình,
trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những hành
Rõ ràng, từ khuôn khổ pháp lý về phòng, chống bạo lực gia đình đến
việc thực thi có hiệu quả nhằm ngăn chặn bạo lực gia đình vẫn là một khoảng
cách. Do đó, nghiên cứu để làm rõ thực trạng, nguyên nhân và hậu của bạo
lực gia đình đối với phụ nữ vùng ven đô là một trong những yêu cầu cấp thiết.
Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở vùng ven đô
thành phố Hà Nội hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp của xã Kim Chung –
huyện Hoài Đức – thành phố Hà Nội) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Xã hội học.
2. Tổng quan nghiên cứu đề tài
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một biểu hiện của bất bình đẳng giới
và là biểu hiện của một sự sai lệch chuẩn mực xã hội. Vì thế, nó đã thu hút
2
được nhiều nhà khoa học, xã hội học, phụ nữ học trên thế giới quan tâm
nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX.
Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực trong gia đình bắt đầu được quan tâm
nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX. Một số nghiên cứu ở quy mô
quốc gia đã được tiến hành trong vài năm gần đây cho thấy bạo lực gia đình
thực sự là một vấn đề ở nước ta.
“Nghiên cứu rà soát các chương trình Phòng chống bạo lực trên cơ sở
giới tại Việt Nam” (2007), nhằm xác định các chương trình về phòng chống
và giải quyết BLG đã thành công ở Việt Nam, các thách thức và lĩnh vực
hành động trong tương lai. Những thông tin này sẽ được UNFPA sử dụng để
đưa ra các khuyến nghị cho việc xây dựng một mô hình nhằm giải quyết BLG
trong chương trình của UNFPA tại Phú Thọ và Bến Tre và nhằm vận động
các đối tác của UNFPA - những cơ quan/tổ chức đang tham gia xây dựng
Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình.
Nghiên cứu bao gồm ba phần. Phần thứ nhất giới thiệu về BLG trên
bệnh nhân là nạn nhân bạo hành, đã có một tỷ lệ nhất định cán bộ y tế có
những hỗ trợ về tinh thần hoặc những giúp đỡ khác. Từ thực tế đó, cán bộ y tế
ở cac bệnh viện cũng đã có những yêu cầu, khuyến nghị nhằm nâng cao năng
lực, điều kiện công tác và các giải pháp hỗ trợ khác để chất lượng dịch vụ y
tế, đặc biệt cho các bệnh nhân là nạn nhân của bạo lực giới, ngày càng được
đảm bảo hơn.
“Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất những giải pháp có tính
đột phá trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016.” Đây là cuộc điều tra của
Vụ Gia đình thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện
Nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
thực hiện, nhằm xác định thực trạng, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp có
tính đột phá cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình những năm tiếp theo.
“Bạo lực giới từ góc tiếp cận nam tính” Phạm Quỳnh Phương, 2013,
tổng thuật lại một số nghiên cứu về bạo lực giới từ góc độ tiếp cận “nam tính”
và những khía cạnh liên quan tới nó. Bài viết chỉ ra rằng “nam tính” là quan
4
niệm có tính bối cảnh, phụ thuộc vào các xã hội và môi trường văn hóa khác
nhau. Tương tự như vậy, bạo lực cũng bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, cảm xúc,
diễn ngôn xã hội về nam tính, vai trò kinh tế, chuẩn mực giới, và hệ giá trị mà
xã hội gán cho hai giới.
“Bạo lực trên cơ sở giới: Một số khía cạnh về luật pháp và chính sách
ở Việt Nam”, Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng, Trần Thị Cẩm Nhung,
2014, nhằm nhận diện rõ hơn về luật pháp và chính sách của Việt Nam đối
với việc phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. Bài viết tập trung xem xét các
khái niệm có liên quan đến bạo lực giới, nội dung, phạm vi của các chính sách
hiện có ở Việt Nam liên quan đến các dạng bạo lực trên cơ sở giới như bạo
lực giới trong phạm vi gia đình, bạo lực giới trong cộng đồng (buôn bán phụ
luật nghiêm minh, song song, đồng bộ với việc chống các tệ nạn khác như
nghiện rượu, cờ bạc, ma túy,…đồng thời đào tạo cảnh sát có trách nhiệm can
thiệp và các thành phố, thị trấn, cần có điện thoại nóng để khi cần người phụ
nữ bị ngược đãi có thể gọi đến. Tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ ở tất cả các cấp
thực thi mạnh mẽ các hoạt động can thiệp. Hội phụ nữ trực tiếp bảo vệ các
nạn nhân, hòa giải hoặc phản đối các quan tòa không công bằng đối với phụ
nữ, chống lại các phim ảnh có những cảnh phản giáo dục trên tivi… Những ý
kiến khác nhau về tổ chức các trung tâm (nhà tạm lánh).
“Điều tra Gia đình Việt Nam”, 2006 (Bộ VHTTDL, TCTK và
UNICEF, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới,) đã chỉ ra rằng 21,2% cặp vợ
chồng đã từng xảy ra ít nhất một loại bạo lực trong vòng 12 tháng trước điều
tra bao gồm bạo lực ngôn từ, bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác hoặc tình dục.
Các nghiên cứu về bạo lực gia đình chủ yếu tập trung vào vấn đề bạo lực của
người chồng đối với vợ.
Đặc biệt, Viện Gia đình và Giới đã thực hiện một nghiên cứu về “bạo
lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” năm 2007 nhằm cung cấp cho bạn
đọc một cách nhìn sâu hơn về bản chất của vấn đề bạo lực gia đình đối với
phụ nữ, tính tiến triển của nó và sự cần thiết áp dụng các giải pháp phòng
6
ngừa mầm mống của bạo lực gia đình trước khi nó tiến triển trở thành bạo lực
thực sự.
“Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ tại Việt
Nam” (2010), được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Phối hợp chung
giữa Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam về Bình đẳng Giới, do Tổng
Cục Thống kê tiến hành. Nghiên cứu thu thập thông tin chi tiết về tỷ lệ bạo
lực, tần suất, những yếu tố nguy cơ và hậu quả của bạo lực gia đình đối với
phụ nữ. Đây là nghiên cứu đầu tiên trên phạm vi toàn quốc cũng như 6 vùng
giáo dục, chăm lo sức khỏe cho con cái. Bạo lực đối với phụ nữ cũng làm
phát sinh những chi phí mà cộng đồng và quốc gia phải gánh chịu. Các kết
quả nghiên cứu cung cấp một bức tranh chi tiết về thực trạng bạo lực của
chồng đối với vợ ở Việt Nam hiện nay.
Sau Hội nghị quốc tế về bạo lực trên cơ sở giới được tổ chức ở Bali
năm 1993 và Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ 4 tổ chức tại Bắc Kinh năm
1995, Bạo lực trong gia đình đã được khẳng định là một chủ đề quan trọng
trong nghiên cứu xã hội học phục vụ cho công cuộc phát triển. Trên cơ sở
định nghĩa của Liên hợp quốc tế về bạo lực đối với phụ nữ, các nghiên cứu về
bạo lực gia đình của Việt Nam đã đưa ra được nhiều phân loại khác nhau về
các hành vi bạo lực trong gia đình. Trong đó, hầu hết các nghiên cứu đều đề
cập đến hành vi bạo lực về thể chất với các tên gọi khác nhau như ngược đãi
thân thể (Vũ Mạnh Lợi và cộng sự, 1999), hay bạo hành thể xác (Lê Phương
Mai, 2000; Nguyễn Thị Hoài Đức, 2001), hay cưỡng bức thân thể (Bùi Thu
Hằng, 2001). Bên cạnh đó, các tác giả này cũng đề cập đến các hành vi bạo
lực về tâm lý, tinh thần, tình cảm và tình dục. Ngoài ra, nghiên cứu của Lê
Thị Quý (2000) và Lê Ngọc Văn (2004) phân loại bạo lực thành hai loại là
bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không thể nhìn thấy được, …. Nhìn chung,
các nghiên cứu đều đưa ra kết luận rằng, gốc rễ của nạn bạo lực trên cơ sở
giới là sự bất bình đẳng và quan hệ giới.
Ở Việt Nam, từ năm 1994 T.S Lê Thị Quý, một trong những chuyên
gia nghiên cứu về Giới, Gia đình đã in bài viết đầu tiên về “Bạo lực gia đình
8
ở Việt Nam” trên tạp chí Khoa học và Phụ nữ trong đó xác định năm nguyên
nhân chính của nạn bạo lực trong gia đình là: nguyên nhân kinh tế, nguyên
nhân nhận thức, nguyên nhân văn hóa- xã hội, nguyên nhân sức khỏe và
nguyên nhân thuộc về phía phụ nữ” [52]. Tuy nhiên nguyên nhân lớn nhất,
người phụ nữ đi chợ đường xa, lưng địu con hoặc gùi hàng, chân đi thoăn
thoắt mà hai tay vẫn không ngừng tước sợi đay đã là hình ảnh quá quen thuộc
mà ai cũng có thể gặp trên khắp các nẻo đường vùng cao. Sự “quen mắt” đến nỗi
không ai thấy ngạc nhiên và cũng ít người bận tâm đến việc cải thiện tình hình.
Điều đáng tiếc là trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã
không đi sâu phân tích căn nguyên của hiện trạng trên theo quan điểm giới.
Chẳng hạn các tác giả đã cố gắng biểu dương và cổ vũ cho những phụ nữ là
đã thực hiện tốt các “chức năng” là lao động quên mình cho chồng con từ
ngoài nương rẫy đến trong gia đình mà chưa quan tâm đến cường độ lao động
to lớn, cái giá mà những người phụ nữ đó phải trả bằng mồ hôi nước mắt và
đôi khi cả máu nữa cho sự quyên mình đó như thế nào. Trong khi ngợi ca tinh
thần làm việc suốt 15, 16 tiếng một ngày của phụ nữ với đủ các loại hình lao
động phức tạp và khó nhọc như trồng lúa, ngô, kiếm củi kiếm rau, đi chợ,
xách nước, nội trợ đến làm nghề phụ, chăm sóc sức khỏe cho con cái và các
thành viên khác trong gia đình, các tác giả đã quên đi sự vắng mặt của nam
giới trong hầu hết các công việc, lại càng không nhận ra được đây là một dạng
bạo lực gia đình rất tinh vi và tồi tệ. [43, tr.44,45]
Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” của TS. Vũ Mạnh Lợi,
Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh năm 1999 đã tiến hành ở ba thành phố Hà
Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Các tác giả đã đi sâu xem xét “Thái độ
của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các
phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn bạo lực trong gia
đình” (Vũ Mạnh Lợi và cộng sự, 1999). Nghiên cứu cũng đưa ra nhận xét tình
trạng bạo lực có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là trong những gia đình mà ở
đó người phụ nữ đang thực hiện và khẳng định vai trò kinh tế hộ. Nghiên cứu
10
đưa ra 8 nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình và chỉ ra 7 kiến nghị nhằm hạn
chồng trong gia đình là một hiện tượng phổ biến. Tác giả tìm ra sự khác nhau
giữa mâu thuẫn và bạo lực trong gia đình. “Mâu thuẫn và xung đột mang tính
bạo lực là khác nhau, không phải mâu thuẫn nào trong hôn nhân cũng là xung
đột mang tính bạo lực” [25, tr.32]. Tác giả cho rằng, nguyên nhân chính của
bạo lực gia đình trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân của mâu thuẫn
giữa vợ và chồng trong gia đình. Bản thân hành vi bạo lực cũng là nguyên
nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn.
Tác giả chia hành vi bạo lực gồm: im lặng hay “chiến tranh lạnh”
(không nói chuyện), lăng mạ, chửi bới, nhạo báng, làm bẽ mặt, đe dọa đánh,
ném đồ đạc, đánh tát, xô ngã, đuổi ra khỏi nhà. Theo tác giả, đặc điểm học
vấn và nghề nghiệp khác nhau giữa các gia đình có thể dẫn đến các hình thức
bạo lực khác nhau khi vợ chồng mâu thuẫn.
Cuộc điều tra về thực trạng bình đẳng giới năm 2005 của Viện Khoa
học xã hội Việt Nam cũng cung cấp một số số liệu về bạo lực gia đình. Trong
cuộc điều tra này, nội dung về bạo lực gia đình chỉ tập trung vào hành vi đánh
và chửi.
Cuốn “Bạo lực gia đình – một sự sai lệch giá trị” của Lê Thị Quý –
Đặng Vũ Cảnh Linh (2007) tập trung nghiên cứu tình trạng bạo lực gia đình
đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, những nguyên nhân và hậu quả của bạo
lực gia đình và đặc biệt là công tác phòng chống bạo lực gia đình – những bài
học kinh nghiệm của Việt Nam.
Cuốn “Bình đẳng giới ở Việt Nam” của Trần Thị Vân Anh – Nguyễn
Hữu Minh (chủ biên),( 2008) đã góp phần nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia
đình ở Việt Nam dưới góc độ giới, đồng thời dành hẳn một chương để đưa ra
những quan niệm chung nhất về bạo lực gia đình và làm rõ các yếu tố tác
động đến hành vi bạo lực.
“Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và
nguyên nhân” của Nguyễn Hữu Minh- Trần Thị Vân Anh, (2009), cho chúng
13
án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống của nạn nhân bạo lực gia đình và
những người có nguy cơ bị bạo lực gia đình tại tỉnh Yên Bái”.
Ngoài ra, còn rất nhiều giáo trình, luận văn, luận án, hay các tạp chí
thông tin khoa học về phụ nữ có đăng các báo cáo phân tích và đánh giá về
vấn đề bình đẳng giới và bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Luận án tiến sỹ Xã hội học của nghiên cứu sinh Phạm Hương Trà, năm
2011: “Hiệu quả của các bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử Việt
Nam hiện nay”. Tác giả tìm hiểu việc phản ánh về bạo lực gia đình trên báo
điện tử. Đồng thời tác giả tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng
về bạo lực gia đình, nhờ đó mà nghiên cứu đã cho thấy tác động của những
nội dung thông điệp này đến với công chúng.
Bạo lực gia đình cũng được nhiều báo chí truyền tải và đề cập đến.
Nghiên cứu của trung tâm, nghiên cứu thế giới, gia đình và môi trường trong
phát triển thống kê được riêng năm 1999 đã có khoảng 3000 bài báo đề cập
đến chủ đề bạo hành gia đình. Trong đó, bạo hành gia đình được đăng nhiều
nhất trên các báo An ninh Thủ Đô, Thanh niên, Đại đoàn kết, An ninh thành
phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn giải phóng, báo Lao động,... các tạp chí như khoa
học về Phụ nữ, Xã hội học, tạp chí Gia đình và Giới như:
“Nguyên nhân xung đột trong gia đình dưới góc độ cư xử với bạn bè,
hàng xóm” của tác giả Nguyễn Hồng Hà, (2010) xem xét cách cư xử với bạn
bè hàng xóm như một nguyên nhân dẫn đến xung đột ở gia đình trẻ. Số liệu
định lượng được phân tích trong tương quan với chênh lệch độ tuổi và chênh
lệch học vấn giữa vợ và chồng, thời gian tìm hiểu trước nguyên nhân và thời
gian chung sống, việc có chung nghề nghiệp, vợ chồng có chung quan niệm
hạnh phúc gia đình, mức thu nhập, việc chia sẻ việc nhà và các yếu tố khác.
Kết quả cho thấy không có tương quan chặt chẽ giữa chênh lệch tuổi của vợ
một cuộc nghiên cứu lần đầu tiên được tiến hành trong phạm vi cả nước nhằm
thu thập những thông tin chi tiết về mức độ chi tiết về mức độ phổ biến và các
loại hình bạo lực đối với phụ nữ, các hậu quả về mặt sức khỏe của bạo lực gia
đình, các yếu tố rủi ro, phòng ngừa bạo lực, cách xử trí của phụ nữ khi gặp
15
phải bạo lực gia đình cũng như các dịch vụ trợ giúp mà họ đã sử dụng. Kết
quả của nghiên cứu này tạo điều kiện cho các cơ quan Chính phủ và các tổ
chức xã hội dân sự nâng cao nhận thức và xây dựng những chính sách và
chương trình nhằm ngăn ngừa và giải quyết vấn đề bạo lực gia đình đối với
phụ nữ một cách hiệu quả hơn hơn.
“Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với công tác phòng, chống bạo lực gia
đình”của Phạm Thị Thoa, (2011) đã tổng kết những kết quả đạt được của Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong công tác phòng, chống Bạo lực gia đình,
đồng thời nêu lên một số điểm cần rút kinh nghiệm cũng như những khó khăn
hạn chế khi triển khai thực hiện. Theo tác giả, để công tác phòng và chống
bạo lực gia đình có hiệu quả hơn, Hội Liên hiệp Phụ nữ trung ương và địa
phương cần tiếp tục duy trì và nhân rộng các mô hình truyền thông, đồng thời
tích cực tham gia xây dựng các địa chỉ tin cậy để hỗ trợ các nạn nhân của bạo
lực gia đình. Tác giả cho rằng cần đưa nội dung bình đẳng giới và phòng,
chống bạo lực gia đình vào chương trình mục tiêu quốc gia về gia đình.
Hội thảo Khởi động mạng lưới quốc gia phòng, chống bạo lực gia
đình; Tổng kết chiến dịch hưởng ứng Ngày quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ
nữ (25/11) và hưởng ứng năm Gia đình Việt Nam 2013. Đây là Hội thảo do
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) cùng các cơ quan Liên Hợp
Quốc tại Việt Nam tổ chức sáng ngày 10/12/2013 tại Hà Nội. Hội thảo đã ra
mắt mạng lưới quốc gia phòng chống bạo lực gia đình, với thành viên bao
gồm các cơ quan Chính phủ, các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, các tổ